Thời sự y học số 351 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SỐT EBOLA : MỘT TRẬN DICH MỚI VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU
Ebolavirus, thường được gọi hơn là sốt Ebola, là một sốt xuất huyết có khả năng gây chết người, tấn công người và những động vật linh trưởng (primate) khác. Theo những công trình nghiên cứu mới nhất, chủ yếu được truyền bởi dơi, virus đã gây nên nhiều trận dịch nguy kịch từ năm 1976. Nhưng hôm nay, sốt Ebola lần đầu tiên ảnh hưởng Tây Phi, phải đối đầu với những cơn bộc phát dịch vô tiền khoáng hậu.

NHỮNG VÙNG LAN TRÀN MỚI CỦA VIRUS.
Sự khám phá virus Ebola, đuợc truyền do tiếp xúc trực tiếp với máu, những dịch sinh học hay các mô của những người bị nhiễm (dầu đó là người hay động vật, sống hay chết), vừa mới gần đây. Trong các cách lan truyền, tiến triển của virus không được hiểu rõ và không một vaccin hay điều trị chữa lành nào hiện có để chống lại bệnh nhiễm trùng gây chết người trong 50% đến 90% các trường hợp này. Hai trận dịch đầu tiên, được liệt kê bởi OMS, đã xảy ra năm 1976, ở Soudan và Zaire ; những lây nhiễm mới xuất hiện ở Soudan năm 1979. Những lây nhiễm ồ ạt khác ở người xảy ra trong những năm 1990 : năm 1994 ở Gabon, năm 1995 ở Zaire, năm 1996 lại ở Gabon…Vào năm 2000, lần đầu tiên Ebola gây dịch ở Ouganda, trong khi một trận dịch mới xuất hiện ở Gabon vào năm 2001-2002, cũng như ở Cộng Hòa Congo. Từ đó, những báo động mới xuất hiện rất đều đặn trong những nước châu Phi này. Nhưng vào đầu năm 2014, Ebolavirus đã vượt những biên giới mới, một trận dich bộc phát lần đầu tiên ở Tây Phi. Vào cuối tháng hai vừa qua, sự hiện diện của virus được chánh thức ghi nhận trong miền nam của Guinée, nhất là trong những huyện Gueckédou, Macenta và Kissidougou. Trận dịch sốt xuất huyết do virus sau đó đã tiến đến thủ đô Conakry và đã lan tràn nhanh chóng đến các quốc gia lân cận, Sierra Leone và Liberia. Cách nay vài tuần, tổ chức y tế thế giới, cố dập tắc sự lan tràn tại chỗ, đã tỏ ra lo ngại khi xác nhận rằng Guinée đang đối diện ” một trận dịch sốt Ebola không tiền khoáng hậu “. ” Chúng tôi đang đương đầu với một trận dịch với một quy mô chưa từng thấy bởi sự phân bố số những trường hợp trên lãnh thổ , với nhiều thành phố bị ảnh hưởng ở phía nam của đất nước, épicentre của dịch bệnh, cũng như thủ đô Conakry “, Mariano Lugli, coordinateur de MSF ở Conakry, trong một thông báo đề ngày 31 tháng ba đã báo động như vậy. Chuyên gia này đặc biệt lo ngại, bởi vì trái với những trận dich trước, trong đó virus gây bệnh cho một vùng rất xác định và nói chung xa xôi, sự lây nhiễm sốt xuất huyết mới này dường như trải ra trên một vùng địa lý lớn hơn và đô thị. Vậy trận dịch báo hiệu khó được kiềm chế hơn nhiều. ” MSF đã can thiệp trong hầu như tất cả các dịch bệnh Ebola bộc phát trong những năm qua, nhưng những dịch bệnh này được tập trung hơn nhiều và ảnh hưởng những vùng xa xôi hơn. Sự làn tràn làm phức tạp rất nhiều công tác của những tổ chức đang ra sức kiểm soát dịch bệnh “, M.Lugli, nhắc lại rằng vào tháng tư năm qua, bilan sau cùng của bộ trưởng y tế Guinée loan báo 78 người chết trên 122 trường hợp được liệt kê.
MỘT TRẬN DỊCH KHÔNG KIỂM SOÁT ĐƯỢC ?
virus-ebolaỞ đâu và khi nào trận dịch sốt xuất huyết mới này sẽ dừng lại ? Vào giờ phút khi chúng tôi đang viết những dòng chữ này, không thể trả lời câu hỏi gây kinh hoàng này. Nhưng sự lo âu là chính đáng khi ta biết rằng giống gốc virus này, rất gây nhiễm và làm chết người trong phần lớn các trường hợp, đang lan rộng. Theo chính phủ Guinée, virus được nhận diện trong nước “thuộc loại Zaire “, một trong 5 loại của họ flovirus gây bệnh Ebola. Cũng là loại nguy hiểm nhất, Michel van Herp, thành viên của MSF hiện ở Guéckéou đã nói như vậy : ” Giống Zaire của virus Ebola là hung dữ nhất, và gây chết người nhất. Loại virus này giết hơn 9 người trên mười. Để kiểm soát dịch bệnh, điều quan trọng là đi ngược lên tất cả dây chuyền truyền bệnh. Tất cả những tiếp xúc của những người bệnh khả dĩ đã bị lây nhiễm phải được theo dõi và cách ly ngay những dấu hiệu nhiễm trùng đầu tiên “, người chuyên gia đã giải thích như vậy. Sự lan tràn của bệnh ở Liberia và ở Sierra Leone, ngoài Guinée, khiến lo sợ rằng dịch bệnh lan rộng một cách không kiểm soát được ở Tây Phi, ở đây các tổ chức y tế được trang bị kém để đương đầu dịch bệnh. Sự phát hiện những trường hợp Ebola ở Conakry càng đáng lo ngại khi thành phố hơn hai triệu dân này phần lớn không lành mạnh : phần lớn các khu phố không có điện và nước uống, điều này có thể tạo điều kiện cho những lây nhiễm mới. Để cố ngăn chặn trận dịch mới này, cộng đồng quốc tế đã gởi về phía nam của Guinée nhiều tấn dụng cụ, trong đó có những ” kit d’hygiène ” nhằm cho phép dân chúng tự bảo vệ. Những chiến dịch thông tin và làm nhạy cảm cũng được tổ chức trên toàn bộ lãnh thổ. Đứng trước sự đe dọa gần kề, Sénégal về phần mình đã quyết định đóng cửa biên giới với Guinée và đình chỉ sự họp chợ hàng tuần ở gần biên giới. Mặc dầu ngay cả trận dịch mới này chế ngự được, sự nghiên cứu khoa học về virus vẫn hết sức chậm trễ. Mặc dầu không có một điều trị hay vaccin chữa bệnh nào hiện có để sử dụng, một công trình nghiên cứu được công bố vào tháng tám cho thấy một hy vọng cài thiện. Thật vậy, những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã loan báo đã hiệu chính một điều trị thí nghiệm hứa hẹn, đã cho phép bảo vệ một cách hiệu quả các con khỉ chống lại virus Ebola. James Pettit, thuộc Viện nghiên cứu những bệnh nhiễm trùng của quân đội Hoa Kỳ, xác nhận rằng điều trị được gọi MB-003, đã cho phép bảo vệ 100% những động vật linh trưởng (pimate) được điều trị một giờ sau khi bị tiếp xúc virus Ebola. 2/3 những động vật được điều trị sau khi đã bị nhiễm vitrus cũng đã được bảo vệ.
Những trường hợp không tử vong vẫn có thể gây những di chứng thần kinh, gan hay mắt quan trọng.
Nhưng trong lúc chờ đợi một thí nghiệm trên người và một sự cho phép thương mãi hóa một vaccin, virus Ebola vẫn còn có khả năng gây nhiều nạn nhân trên lãnh thổ châu Phi. Tệ hại hơn, virus đại dịch này có thể gây những thảm họa trên quy mô thế giới.
(Maladies du XXIè siècle. Les Grands enjeux)

2/ EBOLA : FEU VERT ETHIQUE CỦA OMS
Đối với các chuyên gia, trước tình trạng khẩn cấp, có thể chấp nhận cho các bệnh nhân những điều trị thí nghiệm
SANTE. 12 chuyên gia về éthique médicale, được triệu tập bởi OMS hôm thứ hai, cuối cùng đã quyết : xét vì những trường hợp bất thuận lợi một cách đặc biệt của dịch sốt Ebola ở Tây Phi, sự sử dụng những điều trị thí nghiệm lên những bệnh nhân có thể chấp nhận được, mặc dầu không chắc chắn về tính hiệu quả và tính vô hại của những loại thuốc này.
Trận dịch, gây chết người nhất từ lúc khám phá virus vào năm 1976, đã gây nhiễm 1848 người và đã gây 1013 trường hợp tử vọng ở Guinée, ở Sierra Leone, ở Liberia và ở một mức độ ít hơn ở Nigeria, theo bảng tổng kết chính thức mới nhất tối thứ hai. Thế mà không có một loại thuốc hay vaccin nào được chuẩn nhận để điều trị hay phòng ngừa sốt xuất huyết này, giết chết 60% những người bị mắc phải.
Quyết định của Washington đề nghị, vào đầu tháng tám, một sérum thí nghiệm cho hai trong số những công nhân của mình bị lây nhiễm ở Liberia đã phát động cuộc tranh luận về những enjeux éthiques của một việc làm như thế : triễn vọng của một sự chữa lành đáng giá là bao khi điều trị cũng dẫn đến một nguy cơ gây hại sức khỏe cho bệnh nhân ? Làm sao quản lý những stock rất bé nhỏ khi ta thống kê hàng ngàn người bệnh, và còn hơn thế những người bị tiếp xúc ?
GARDE-FOUS THEORIQUES
Các chuyên viên thế giới mà OMS khẩn cầu cuối cùng đã bật đèn xanh, đồng thời đặt những giới hạn lý thuyết : ” một sự trong sáng tuyệt đối về những điều trị, một sự đồng ý sau khi được đả thông, sự tự do lựa chọn, sự giữ kín, sự tôn trọng người bệnh, sự gin giữ phẩm cách và sự liên quan của các cộng đồng”, họ đã kể ra như vậy trong một thông báo được công bố hôm thứ ba.
Ngoài ra các chuyên viên nhấn mạnh ” nghĩa vụ đạo đức thu thập và chia sẻ những dữ kiện về sự an toàn và tính hiệu quả ” của những điều trị và những vaccin được trắc nghiệm như vậy. Sự đánh giá một loại thuốc trước khi được cho phép thường cần ba giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, một quá trình cứng nhắc và tốn kém cần nhiều năm. Những khuyến nghị chính xác hơn về profil của những người nhận thuốc phải được ưu tiên và cần phải tránh (trẻ em, phụ nữ có thai, nhân viên điều trị) theo dự kiến sẽ được OMS đưa ra vào cuối tháng tám.
Những sản phẩm nhận được thủ thuật ngoại lệ được gọi là ” procédure compassionnelle” này chủ yếu là sérum gồm có 3 loại kháng thể của công ty Mapp Biopharmaceutical, những thuốc chống virus và hai vaccin. ” Những điều trị này phần lớn chỉ được trắc nghiệm trên khỉ, đã cho thấy ở chúng một tính hiệu quả tốt. Điều đó mang lại những niềm hy vọng lớn ở người “, Marie-Paule Kieny, phó tổng giám đốc của OMS, trong một cuộc họp báo đã giải thích như vậy.
Hai người Mỹ sau khi đã nhận sérum ZMapp dường như đã được điều trị lành, những sản phẩm đã không ngăn cản trường hợp tử vong của một linh mục được hồi hương người Tây Ban Nha.
Ý kiến của comité éthique của OMS vẫn chỉ có tính cách tham kháo. ” Chúng ta không ở đó để mà lựa chọn, nhiều nhat là tao điều kiện cho sự tiếp xúc giữa một chính phủ và xã hội “, Marie-Paule Kieny đã nhấn mạnh như vậy. Vậy các chính phủ tha hồ lợi dụng khe hở, nhưng cần biết rằng có những kềm hãm : số những liều lượng hiện có vào lúc này rất bé nhỏ so với những nhu cầu khả dĩ ; vấn để phí tổn của những sản phẩm này đã không được giải quyết. ” Hiện nay, gánh nặng tài chánh của R&D chủ yếu được hỗ trợ bởi các chánh phủ Hoa Kỳ và Canada và vài xí nghiệp “, Marie-Paule Kieny đã nhắc lại như vậy. Washington đã đáp ứng yêu cầu của Liberia cung cấp cho nước này sérum Zmapp.
Để tránh rằng ý kiến này gây quá nhiều hy vọng, Marie Paule Kieny đã nhấn mạnh : ” Hiện nay, Ebola không thể điều trị được. Những phương pháp duy nhất đáng tin cậy là cách ly bệnh nhân, mise en quarantaine những người thân của bệnh nhân, hạn chế sự đi lại trong những vùng có nguy cơ.”
Bộ trưởng y tế của Guinée, Remy Lamah, đã cho biết rằng vấn đề các thuốc thí nghiệm (médicaments expérimentaux) đối với ông ” không phải là một ưu tiên”. ” Khi tình hình xảy đến, nếu OMS xét là cần thiết rằng dân Guinée sẽ được dùng như những cobaye để trắc nghiệm loại thuốc này, ta sẽ thảo luận về điều đó với họ.”
CÁI CHẾT CỦA LINH MỤC ĐƯỢC HỒI HƯƠNG VỀ TÂY BAN NHA
Miguel Pajares, nhà truyền giáo 75 tuổi, đuợc hồi hương về Tây ban Nha hôm thứ năm, đã chết vào sáng thứ ba ở Madrid, 10 ngày sau khi mắc phải virus Ebola. Vị linh mục công giáo, vốn từng làm việc ở bệnh viện Saint-Joseph de Monrovia (Liberia), là người bệnh đầu tiên được đưa về châu Âu và là người châu Âu đầu tiên chết từ khi bắt đầu trần dịch. Ông đã được điều trị với huyết thanh thí nghiệm ZMapp. ” Chúng tôi thiếu những điều cơ bản nhất để phòng bệnh : gant tay, vêtements hermétiques, mặt nạ, thuốc khử trùng…”, vào giữa tháng bảy Miguel Parajes đã viết như vậy cho những người thân của mình, theo nhật báo Tây ban nha El Mundo. Dòng tôn giáo của Saint-Jena de Dieu, phụ trách bệnh viện, đã công nhận một ” sự lỏng lẻo ” trong những biện pháp an toàn được tuân thủ bởi bệnh viện. Cơ sở này bị đóng cửa vào đầu tháng tám sau khi 3 nhân viên y tế khác bị chết. ” Như trong chuyện kể, con sói đến và đã ăn tất cả mọi người. Trong trường hợp này con sói là Ebola “, một người bà con của vị linh mực bị chết đã xác nhận như vậy với đài.
(LE FIGARO 13/8/2014)

3/ ” SỰ XUẤT HIỆN CỦA EBOLA PHẢI CHĂNG LÀ PHẢN ẢNH CỦA SỰ SUY THOÁI CỦA CÁC HỆ THỐNG Y TẾ ?
Là chuyên gia về chính trị và những chiến lược y tế quốc tế của những nước đang phát triển và là cố vấn khoa học của Ecole des affaires internationales de Sciences (Paris), BS Dominique Kerouedan giải thích cho chúng tôi tại sao những hệ y tế của các nước Tây Phi khó nhọc đứng trước dịch bệnh.
Hỏi : Các hệ thống y tế ở Tây Phi đang ở trong tình trạng nào ?
Dominique Kerouedan : Từ 15 năm nay, các hệ thống y tế đã xuống cấp. Các nhân viên y tế không luôn luôn được đào tạo tốt và thuong muốn bỏ ra đi, các hạ tầng cấu trúc trong tình trạng xấu. Những dữ kiện được thu thập bởi những cơ quan theo dõi ý tế quốc gia và những hệ theo dõi dịch bệnh không đáng tin cậy.
Hỏi : Vì lý đó nào ?
Dominique Kerouedan : Trong nhiều năm, cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét đã được dành ưu tiên bởi các chánh sách quốc gia cũng như quốc tế. Những người Mỹ đã nhận lấy lựa chọn này do sự đe dọa của các căn bệnh này đối với an toàn y tế của họ. Cũng có một sự thiếu ý chí chính trị trong những nước này : các ngân sách dành cho y tế ở đó rất thấp, đôi khi dưới 5% của toàn bộ những ngân sách nhà nước. Sau cùng, những xung đột vũ trang lại còn làm mỏng manh thêm các hệ y tế hiện có.
Hỏi : Phải chăng toàn bộ châu Phi đều đương đầu cùng những khó khăn ?
Dominique Kerouedan : Ở đó có nhiều châu Phi, và châu Phi nói tiếng Pháp là châu Phi đã nhận ít expertise technique và viện trợ tài chánh nhất, nhằm hỗ trợ cho khu vực y tế. Liên Hiệp châu Âu, Pháp và Đức đã giải ước những vấn đề này, cùng lúc và không điều phối với nhau. Hôm nay, chỉ 20% viện trợ hợp tác y tế Pháp là song phương và sẽ dành trực tiếp cho các chánh phủ, hay chính loại trợ giúp này hỗ trợ cho những chánh sách và các hệ thống y tế.
Hỏi : OMS có thể giải quyết những khó khăn này không ?
Dominique Kerouedan : Tổ chức y tế thế giới mang lại trợ giúp kỹ thuật nhưng không phân phát tài chánh. Thế mà, thiết đặt một hệ y tế công cộng đòi hỏi nhiều tiền : tuyển mộ và đào tạo nhân viên, trang bị một système informatique… điều đó hàm chứa những ngân sách quan trọng. Hỏi : Ta thường nêu lên một sự thiếu niềm tin của dân chúng đối với giới hữu trách y tế.
Dominique Kerouedan : Dân chúng khong còn tin vào giới hữu trách y tế nữa, nhất là từ khi thiết đặt một système de tarification de base, do Ngân hàng thế giới nghĩ ra trong những năm 1980 (sáng kiến Bamako), thêm vào những những mánh khóe tống tiền người bệnh. Hôm nay ta nói couverture maladie universelle, nhưng phải thấy những loại điều trị nào sẽ có liên hệ.
Hỏi : Vậy giới y tế địa phương không thể đương đầu với một trận dịch như thế ..
Dominique Kerouedan : Những hệ y tế không thể đảm nhận chức năng cơ bản của mình cũng như không thể đương đầu với một cuộc khủng hoảng như trận dịch Ebola. Có những trung tâm y tế, ở đó ngay cả nước cũng không có ! Làm sao ông muốn chống lại một trận dịch với quy mô như thế ? Theo tôi, sự xuất hiện trong vùng này một bệnh nhiễm trùng với một mức độ nghiêm trọng như thế là phản ảnh của sự giải ước quốc tế (désengagement international) dành cho các hệ y tế. Phải rút ra những bài học từ những khó khăn trong việc đáp ứng với trận dịch này, và dự kiến ngay từ bây giờ những hậu quả lên y tế của sự chuyển vận nhanh nhân khẩu và dịch tễ xảy ra trong vùng này.
(LE FIGARO 13/8/2014)

4/ EBOLA NGHIÊN CỨU THĂM DÒ NHIỀU HƯỚNG
Hiện nay không một vaccin nào chống lại sốt xuất huyết do virus Ebola được chuẩn nhận bởi giới hữu trách y tế.
Về những điều trị chữa lành, huyết thanh (sérum) được gọi là “ZMapp”, được hiệu chính bởi công ty Hoa Kỳ Mapp Biopharmaceuticals, là một cocktail các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux), gây nên một đáp ứng miễn dịch chống lại những protéine nằm ở bề mặt của virus Ebola. Tính hiệu quả xảy ra tức thời, trái với một vaccin cần phải nhiều tuần để “dạy ” cho cơ thể chống lại một căn bệnh. ZMapp đã được trắc nghiệm trên khỉ, với một tính hiệu quả càng lớn khi điều trị được cho càng sớm sau nhiễm trùng.
Những huyết thanh được gọi là ” sérum de convalescence” là một hướng khác. Đó là lấy huyết tương (plasma) ở những người đã mắc rồi lành bệnh và tiêm vào lại cho bệnh nhân. Khi đó những kháng thể được sản xuất bởi người cho (donneur) giúp người nhận (receveur) chống lại nhiễm trùng. Kỹ thuật đã được sử dụng ngay năm 1976 để điều trị một nhân viên phòng thí nghiệm bị nhiễm virus, nhưng những dữ kiện thu nhận được từ đó đã tỏ ra ít thuyết phục và những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng những sérum này có thể chứa virus còn sống.
TKM-Ebola, của công ty Canada Tekmira, sử dụng kỹ thuật “l’interférence par ARN” : kỹ thuật này nhằm làm” im lặng ” những gène cible bằng cách phong bế sự sản xuất những protéine đặc hiệu. Những người khám phá đã nhận giải Nobel vào năm 2006. Một thử nghiệm lâm sàng đầu tiên ở những người tình nguyện lành mạnh đã bị dừng lại vào tháng bảy bởi FDA vì những tác dụng phụ, nhưng cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ đã xét lại do tình hình khẩn cấp.
Favipiravir (T-705) của Toyama Chemical là một thuốc chủ yếu chống cúm. Nó tác động chống lại một enzyme đặc hiệu cho phép virus Ebola tăng sinh. Những thuốc chống virus, làm dừng lại hay kềm hãm sự tăng sinh của virus, là hướng ” ưu tiên “, theo GS Hervé Mérieux Raoul (Inserm, laboratoire Jean Mérieux à Lyon), bởi vì có một sự tương quan giữa lượng virus và sự trầm trọng của tình trạng của bệnh nhân. Được cho đúng lúc, một loại thuốc có tác dụng ức chế sư tăng sinh này sẽ cho phép bệnh nhân phục hồi với khả năng phòng ngự của riêng mình “.
VACCIN PHÒNG NGỬA ĐANG ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM
Về phía những thuốc chủng phòng ngừa, nhiều chiến lược khác nhau đã được thăm dò và nhiều ứng viên vaccin đang được thử nghiệm. Hãng GSK (GlaxoSmithKline) của Anh chuẩn bị trắc nghiệm trên người một vaccin phòng ngừa : hai gène (non infectieux) của Ebola, sau khi được đưa vào trong một vecteur viral, sản sinh một protéine đặc hiệu của virus. Sau đó cơ thể dạy protéine này “nhận biết” và chống lại.
Société biopharmaceutique Crucell (Johnson & Johnson) phát triển một vaccin chống lại virus Ebola và virus, rất tương cận, của sốt Marburg.Công ty Hoa Kỳ Profectus Biosciences thăm dò sự sử dụng một virus động vật như một vecteur. Sau cùng viện nghiên cứu y khoa Hoa Kỳ (NIH) và Đại học Thomas Jefferson nghiên cứu nhiều hướng trên cơ sở một vaccin chống bệnh dại, cho phép cùng lúc phòng ngừa hai căn bệnh này, một mặt ở người, mặt khác ở hoang thú, là một trong những réservoir của virus Ebola.
(LE FIGARO 13/8/2014)

5/ NHỮNG BỆNH PHÁT XUẤT TỪ CÁC ĐỘNG VẬT
SANTE PUBLIQUE. ” Những zoonose (bệnh động vật truyền cho người) là những bệnh được truyền trực tiếp hay gián tiếp từ động vật qua người. Điều đó có thể xảy ra hoặc khi ta tiêu thụ những sản phẩm có nguồn gốc động vật (thịt, trứng, những sản phẩm sữa), hoặc do tiếp xúc gần một động vật hay những chất phế thải của nó, hay qua trung gian một vecteur (côn trùng hay tique), khi đó động vật là réservoir đối với vi khuẩn “, GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trùng thuộc CHU de Grenoble, và các BS Alexandre Mailles và Véronique Vaillant, những chuyên gia về zoonose ở Institut de veille sanitaire (InVS), đã giải thích như vậy.
Trong số các bệnh động vật truyền cho người này, những bệnh động vật truyền cho người do thức ăn (zoonose alimenataire) là thường gặp hơn cả : ta thống kê mỗi năm ở Pháp nhiều ngàn trường hợp nhiễm trùng do các vi khuẩn loại salmonelles và campylobacter (với một cao điểm vào mùa hè), được biểu hiện bởi những trường hợp viêm dạ dày-ruột, thường là hiền tính. ” Số trường hợp những bệnh này, được nhận diện bởi những système de surveillance vào năm 2010, hơn 7400 đối với những nhiễm trùng samonelles và hơn 4300 đối với những nhiễm trùng campylobacter, là đánh giá thấp. Thật vậy, không phải tất cả những người bị viêm dạ dày-ruột đều đi khám bệnh và trong số những người đến khám, không phải tất cả đều được thử phân”, BS Véronique Vaillant đã nhận xét như vậy.
NHỮNG NHIỄM TRÙNG CÀNG NGÀY CÀNG ĐUỢC PHÁT HIỆN TỐT HƠN.
Những zoonose alimentaire khác, hiếm hơn nhưng nghiêm trọng hơn, được thống kê tốt hơn bởi vì chúng đưa đến nhập viện và do đó được xét nghiệm. Đó chủ yếu là trường hợp của những listériose, chủ yếu nguy hiểm đối với những phụ nữ có thai (đặc biệt đối với thai nhi) và những người bị suy giảm miễn dịch, ở họ listériose có thể được biểu hiện bởi một viêm màng não-não (283 người bị năm 2011). Đó cũng là trường hợp của Syndrome hémolytique urémique (SHU) do một loại Escherichia coli sản xuất các độc tố. Được thể hiện bằng sự phá hủy những hồng cầu và bởi một suy thận cấp tính, những SHU gây bệnh cho hơn 100 trẻ em mỗi năm, nhưng năm qua (tháng năm 2011), một “dịch bệnh” có quy mô lớn hơn, phát xuất từ Đức với hàng trăm người bị mắc phải ở châu Âu. Những zoonose alimentaire nghiêm trọng này và những zoonose alimentaire gây bệnh nhiều người cùng lúc được nhận diện tốt nhất.
” Ngay khi một thầy thuốc nghi ngờ một toxi-infection alimentaire collective (Tiac), nhất là bởi vì ít nhất hai người đã tiêu thụ những thức ăn chung và có những triệu chứng tương tự, thầy thuốc này phải hội ý với Cơ quan y tế khu vực (Agence régionale để santé : ARS). Về phía mình, 47 Centre national de référence (CNR) và 33 phòng xét nghiệm liên kết, thu thập tất cả những phân tích nghi ngờ và đệ trình InVS, kiểm tra thường trực rằng họ không đứng trước một cao điểm những xét nghiệm dương tính cao hơn những năm trước cùng thời kỳ. Trong trường hợp như thế, những thăm dò được tiến hành để tìm dấu vết những thức ăn có khả năng chịu trách nhiệm và phân tích chúng. Ít người biết điều đó, nhưng, vào cơ hội này, những carte de fidélité của những grande surface rất là hữu ích ! Thật vậy, chúng cho phép tìm lại danh sách những thức ăn moi được mua và tìm kiếm những sản phẩm chung cho những bệnh nhân khác nhau. Mặc dầu thế, loai điều tra này có thể cần có thời gian và từ lúc những trường hợp nghi ngờ được báo cáo và lúc những thức ăn được thu hồi hay không cho bán nữa, có thể cần nhiều ngày”, BS Vaillant đã nói như vậy.
Trong lúc đó, những lây nhiễm khác có thể xảy ra…trừ phi thay đổi những thói quen của chúng ta ! Thật vậy, GS Stahl, BS Mailles và BS Vaillant đều nhất trí về vấn đề này. ” Phần lớn những nhiễm trùng này có thể tránh được với vài động tác đơn giản như rửa tay trước khi chuẩn bị bữa ăn. Rửa cẩn thận rau xanh, các trái cây và những rau thơm ăn sống. Đừng bao giờ làm vỡ dây chuyền lạnh (chaine du froid). Nấu chín thịt, đặc biệt thịt được thái của trẻ em, bởi vì đó là một trong những nguyên nhân chính của SHU ở lứa tuổi này, thế mà những Escherichia coli nguy hiểm nhất được tiêu hủy bởi nhiệt. Những sản phẩm được chế tạo bởi sữa sống đừng cho những trẻ nhỏ, các phụ nữ có thai và những người bị suy giảm miễn dịch và, cũng cùng những l đó (nguy cơ listériose), cũng đừng cho cá hun khói (poissons fumées) và những produit để charcuterie sống. Sau cùng, phải nghĩ rửa sạch những dụng cụ nấu nướng và plan de travail, đặc biệt khi chúng đã được tiếp xúc trước với thịt sống.
(LE FIGARO 19/11/2012)

6/ NGUY CƠ Y TẾ CỦA NHỮNG ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG NHÀ.
” Mối lo sợ bị một grippe à virus mutant đã làm tuôn tràn nhiều mực trong những năm qua, nhưng đối với 2012-2013 ta có thể an lòng : sẽ chỉ có cúm mùa (grippe saisonnière), tuy nhiên những người có sức khỏe kém vẫn được bảo vệ chống lại chúng, GS Jean-Paul Stahl (CHU Grenoble) đã trấn an như vậy. Thật vậy, đã không có báo động cúm gia cầm hay cúm heo có thể truyền bệnh cho người từ bán cầu Nam mùa hè này.” Ngoài những người chăn nuôi chuyên nghiệp có thể mắc phải vài zoonose đặc hiệu như rouget du porc hay ecthyma des chèvres (gây những thương tổn da), nguy cơ chính gây zoonose trực tiếp đối với những tư nhân phát xuất từ những gia súc (animaux de compagnie).
Virus cowpox (một bà con họ hàng của bệnh đậu mùa, nhưng ít nguy hiểm hơn nhiều) thuộc những zoonose hiếm thỉnh thoảng chiếm hàng đầu của tin thời sự : nguyên nhân là những con chuột được mua ở trại nuôi động vật và xuất phát từ Đông Âu. Khoảng 15 người đã bị thương tổn giữa tháng 12 năm 2008 và tháng hai năm 2009 (chủ yếu là những thiếu niên), rồi một trường hợp mới đã được ghi nhận vào tháng sáu năm 2010. ” Vì ta không còn tiêm chủng chống lại bệnh đậu mùa, nên không còn bảo vệ chéo nữa chống lại virus cowpox này. Và những thiếu niên bị nhiễm siêu vi trùng đã có những vết loét lớn ở da, đau đớn và lành chậm “, BS Alexandra Mailles (InVS) đã nhận xét như vậy. Trên lý thuyết, những động vật gặm nhấm không phải là những động vật duy nhất truyền loại “cadeau” này : những con mèo đi ra ngoài và nuốt những con mồi nhỏ bị nhiễm bởi một cowpox có thể truyền bệnh khi cắn. Tuy vậy, zoonose phải khai báo bắt buộc này vẫn còn hiếm : ta thống kê dưới 10 trường hợp mỗi năm trong đất nước chúng ta.
Những người thích thằn lằn, ếch, rắn và những động vật khác có máu lạnh cũng không tránh được bao nhiêu. ” Ta thường tìm thấy các salmonelles trong terrarium của chúng, và cách tốt nhất không để bị lây nhiễm là lau sạch terrarium này với gant tay”, BS Mailles đã nhấn mạnh như vậy. Ngoài ra, mặc dầu hiếm hơn nhiều, các con vẹt và perruche có thể bị nhiễm bởi Chlamydia psittaci, một vi khuẩn gây bệnh chlamydiose aviaire. Khi đó sự lây nhiễm của ký chủ được thực hiện qua phân chim khô nhiễm khuẩn. Sự lây nhiễm được thể hiện bởi một hội chứng giả cúm và đôi khi, một viêm phổi : trong trường hợp này, kháng sinh tỏ ra hiệu quả.
” Sau cùng, hai zoonose thông thường nhất là những bệnh động vật truyền cho người mà ta không bao giờ nghe nói đến trong médias, bởi vì chúng không bị khai báo bắt buộc. Thế mà một thương tổn do cào (griffure) hay cắn (morsure), ngay cả rất bé nhỏ, có thể tạo điều kiện cho sự truyền một vi khuẩn”, GS Stahl đã nhận xét như vậy. Nếu đó là vi khuẩn Pasteurella, vết thương có vẻ không tỷ lệ so với vết cào hay vết cắn, nhẹ, đã gây nên nó : thương tổn rất đau, rất sưng phù, với sốt, courbature, thậm chí khó ở toàn thân. Điều trị của pasteurellose dựa trên điều trị kháng sinh sớm. Và trong trường hợp thứ hai với tác nhân được truyền là một vi khuẩn thuộc họ Bartonella, đó là sự xuất hiện của một hạch lớn không đau (đến 10 cmm), hai hay 4 tuần sau khi bị cào. Điều này gây báo động và biện minh liệu pháp kháng sinh ở giai đoạn này.
Để tránh một tình trạng như thế, nếu sự cố xảy ra, phải khử trùng với nước xà phòng rồi một thuốc sát khuẩn không màu. Cũng như vậy nếu ta đụng phải một vết thương bị nhiễm trùng trên động vật của chúng ta : sự truyền các vi khuẩn như liên cầu khuẩn (streptocoque) hay những tụ cầu khuẩn (staphylocoque) khi đó có thể xảy ra. Thế mà những vi khuẩn này có thể nguy hiểm ở những người có sức khỏe kém…
(LE FIGARO 19/11/2012)virus-ebola 2

7/ CÁC KHÁCH DU LỊCH : NHỮNG ĐIỀU CẦN THẬN TRỌNG
Các zoonose alimentaire là thường gặp nhất và vẫn chính chúng đang chờ đợi các du khách. ” Ta có thể báo cáo những vi khuẩn, nhưng cũng những ký sinh trưng của những vùng nhiệt đới, nguồn gốc của những giardiase và những cryptosporidiose (hai bệnh ký sinh trùng chịu trách nhiệm những trường hợp ỉa chảy đôi khi nặng). Nguy cơ càng tăng cao khi trình độ vệ sinh của nước sở tại càng thấp (và nước không uống được), do đó khuyên nên ăn chín và câu sôi và chỉ uống nước được mở chai dưới mắt của chúng ta, không được thêm vào bất cứ cái gì (ngay cả nước đá)”, BS Véronique Vaillant (InVS) đã nhấn mạnh như vậy. Trong vài vùng của địa cầu, ta cũng ghi nhận nhiều zoonose trực tiếp hơn, bắt đầu bởi zoonose tượng trưng nhất, bệnh dại.
” Thế mà nếu bệnh dại cũng vẫn luôn luôn làm sợ hãi, đó là bởi vì một khi được khai báo nó không thể chữa được, BS Alexandra Mailles (InVS) đã nhận xét như vậy. Bệnh dại đúng là đã biến mất khỏi đất nước chúng ta, trường hợp bệnh dại cuối cùng xảy ra vào năm 1924, nhưng ta còn đếm được vài trường hợp bệnh dại ở người hay nhất là những động vật được nhập cảng (trung bình một trường hợp mỗi năm), hoặc bởi những du khách đã cư trú khá lâu ở Ấn Độ hay ở Phi Châu dưới Sahara (do đó khuyến nghị tiêm vaccin trước khi thực hiện một lưu trú trên một tháng), hoặc bởi những du khách mang một cách bất hợp pháp một động vật nhỏ từ một nước ở đó bệnh dại không được kiểm soát, thường là một con chó nhỏ hay một còn mèo nhỏ. Thời gian tiềm phục của bệnh có thể lên đến 3 tháng : điều đó cho phép nhiều thời gian để gắn bó với động vật và bị lây nhiễm. Thật vậy, sau cùng khi động vật có những triệu chứng đầu tiên của bệnh (sốt, chảy nhiều nước miếng, thay đổi hành vi), thì nó đã bài tiết virus từ nhiều ngày. Khi đó phải tìm tất cả những người đã có thể đến gần động vật bị bệnh bởi vì cần phải tiêm chủng cấp cứu họ”, BS Mailles đã nói rõ như vậy.
Ít đuoc quãng bá hơn nhiều, ít thường xảy ra hơn (khoảng một chục người Pháp bị nhiễm mỗi năm) và đôi khi cũng trầm trọng bằng vì lẽ bệnh có thể gây chết người, viêm não do tique chủ yếu gây bệnh du khách đi thăm dò Europe centrale, Đông Âu và Viễn Đông, ở đây lưu hành dạng nghiêm trọng nhất.
NHỮNG ĐỘNG VẬT GẶM NHẤM Ổ CHỨA VIRUS.
Đó là những động vật gặm nhấm, ổ chứa của virus : tique chỉ là một vecteur bị lây nhiễm trên một động vật bị nhiễm, đến lượt gây nhiễm cho người. Thường nhất, ta bị pseudo-grippe, nhưng trong 1/4 các trường hợp, một viêm màng não-não (méningo-encéphalite) bộc phát và có thể gây nên những di chứng thần kinh nghiệm trong và lâu dài. Sự phòng ngừa thông thường chống lại các tique (quần áo dài, répulsifs, lấy đi ngay con tique và khử nhiễm) không luôn luôn đủ, các thầy thuốc chuyên bệnh truyền nhiễm khuyên tiêm chủng cho cac du khách có ý định ra khỏi những thành phố lớn để đi dạo ở thôn quê.
” Khi ta dự kiến đi du lịch ở nước ngoài, dầu là ở châu Âu, ta không bao giờ được quên tìm hiểu về những nguy cơ tiềm tàng và những phương tiện phòng ngừa chúng “, GS Stahl đã nhắc lại như vậy. Ta cũng cần tránh mọi tiếp xúc với các động vật, nhất là với xác của một động vật bị chết, có thể truyền bệnh than hay anthrax (ở Trung Đông hay châu Phi), nguồn gốc của một vết loét da hay những rối loạn hô hấp. Nếu đã bị tiếp xúc, phái rửa tay cẩn thận ngay sau đó bởi vì những nguy cơ bị zoonose là thật sự.
(LE FIGARO 19/11/2012)

8/ TA CÓ THỂ CHỮA LÀNH BỆNH SIDA KHÔNG ?
30 năm sau khi nhận diện virus, 30 triệu người hôm nay huyết thanh dương tính. Tuy vậy, trường hợp được chữa lành đầu tiên hết đã được ghi nhận vào năm 2007. Một sự chữa lành trong đó sự tình cờ đã đóng một vai trò lớn. Thật vậy, định mệnh của người từ nay là bệnh nhân đầu tiên lành bệnh sida đã thay đổi khi anh ta hãy biết rằng anh bị một bệnh bạch cầu (leucémie). Thoat tiên đó là một tin rất xấu đối với Timothy Brown : đã bị bệnh sida từ năm 1995, và rồi thì người Mỹ này bị một ung thư máu, mặc dầu căn bệnh này không có một tương quan với VIH. Thế mà, cuối cùng chính bệnh ung thư này đã làm cho bệnh nhân trở thành người bệnh sida đầu tiên lành bệnh.
MỘT NGƯỜI HIẾN ĐỀ KHÁNG.
Ở Hopital de la Charité ở Belin, Gero Hutter, thầy thuốc của Timothy Brown, đã quyết định thử một ghép thuộc loại mới. Nguyên tắc ? Ghép một tủy xương được lấy trên một người hiến đề kháng tự nhiên với VIH. Vì mẫu ghép (greffon) là nguồn gốc của sự tạo thành của hệ miễn dịch, nên người bệnh được ghép phát triển những phòng vệ miễn dịch mới có khả năng chống lại virus. Những để hiệu quả, mẫu ghép này phải phát xuất từ một người hiện có profil génétique tương hợp với người bệnh, nhưng cũng đề kháng với bệnh sida nhờ những tế bào không cho virus xâm nhập. Và điều đó có thể với 0,3% dân số có một biến dị, được gọi là “double délétion delta 32″. Những tế bào của nhóm người này không có ở bề mặt những ” chìa khóa đi vào” (clé d’entrée) cho virus, những corécepteur CCR5. Và Timothy Brown đúng là có một profil génétique khá thông thường, tương ứng với nhiều người hiến và trong số những người này, một người mang “double délétion”. Ghép đã được thực hiện thành công mỹ mãn. Không cần thuốc chống thải bỏ (médicament antirejet) đối với Timothy Brown, bởi vì hệ miễn dịch của ông ta đã được tái sinh. Nhất là từ khi được ghép, không có một dấu vết nào của VIH.
Dĩ nhiên đó là một trường hợp rất đặc biệt. Và, bất hạnh thay, phương pháp này, mặc dầu nặng nề và không phải là không có nguy cơ, sẽ không bao giờ có thể áp dụng cho tất cả những người huyết thanh dương tính, vì lẽ, cũng như tất cả các greffe, nó phải chịu comptabilité du couple donneur/receveur. Tuy vậy trường hợp của Timothy Brown đã cho phép nói rằng có khả năng chữa lành bệnh sida.
Đối với những bệnh nhân mà một greffe sẽ không bao giờ được thực hiện, những phương pháp khác căn cứ trên những thérapie génique hay bằng những thuốc có khả năng phát hiện virus có mặt trong khắp cơ thể, hiện đang được trắc nghiệm trên những bệnh nhân tình nguyện. Bấy nhiên hy vọng chữa lành…được các kíp quốc tế khác nhau tích cực nghiên cứu. Những kíp này được tập hợp lại trong alliance internationale de laboratoires d’élite dưới sự thúc đẩy của Françoise Barré-Sinoussi, giải Nobel Y học 2008 vì đã nhận diện VIH năm 1983. Bởi vì đối với nhà nghiên cứu, lần này không còn nghi ngờ nữa, sự tìm kiếm một chữa lành không còn là một ảo tưởng nữa. Đối với bà, ” giây phút khoa học sau cùng đã đến.”

Tại sao một sự nhiệt tình như vậy ? Phải biết rằng, cho đến nay, tất cả những phát minh của các nhà nghiên cứu đã vấp phải sức mạnh to lớn của VIH : khả năng dấu mình của nó. Thật vậy, virus này có khả năng nhập vào trong génome của những tế bào của chúng ta, rồi yên ngủ trong một số nào đó của những tế bào này. Những tế bào được gọi là “réservoir” này không nhiều
(khoảng 1 trên 100.000 tế bào bị nhiễm trùng) và rất đa dạng. Ta khám phá dần dần rằng hàng chục loại những tế bào lympho (những tế bào lympho CD4, astrocytes…) có thể trở nên những réservoir và rằng chúng phân tán trong tất cả các cơ quan, kể cả não bộ. Được ẩn dấu và bất hoạt như thế, virus tránh không bị những antirétroviraux tấn công vào VIH chỉ khi nó tăng sinh. Kết quả, ngay khi ngừng điều trị, virus có thể thức dậy và ra khỏi réservoir.
CHỮA LÀNH HAY THUYÊN GIẢM ?
Để có được một sự chữa lành, vậy ý tưởng là làm thế nào trừ khử một cách nhanh chóng tất cả những réservoir. Kết quả này có thể có được với một điều trị mới, được hiệu chính bởi những chuyện gia siêu vi trùng của 5 đại học Anh và phải được trắc nghiệm năm 2014 này. Tác dụng của nó được diễn ra thành hai thì : một sự thức dậy của các virus ẩn náu trong các réservoir nhờ những đợt hóa trị đặc hiệu, tiếp theo bởi sự phá hủy ồ ạt những tế bào chứa chúng và do đó chính những virus, bởi một vaccin được phát triển ở Oxford có khả năng tấn công những tế bào bị sida.
Nhưng không nhất thiết phải trừ khử hoàn toàn virus khỏi cơ thể mới có thể nói là chữa lành. Có một giải pháp trung gian mà Françoise Barré-Sinoussi gọi là ” một sự thuyên giản hay một sự chữa lành cơ năng”. Trong trường hợp này, nhà nghiên cứu nói rõ, ” virus luôn luôn ở đó, nhưng hệ miễn dịch đủ mạnh để kềm giữ nó. Vậy các bệnh nhân không dùng một điều trị nào, họ không bị bệnh và có một nguy cơ rất nhỏ truyền virus ” Một giải pháp dựa trên những “contrôleurs du VIH”, những người này kiểm soát một cách tự nhiên sự tăng sinh của các virus và chiếm 1% những người bị nhiễm virus HIV. Profil di truyền và miễn dịch học đặc biệt của họ cho phép họ, vì một lý do không được biết rõ, hạn chế sử tăng sinh của virus. Đó là phương pháp privilégié trong những thérapie génique và những thử nghiệm điều trị tích cực và rất sớm. Theo những kết quả đầu tiên, được công bố năm qua (tháng ba 2013), 14 bệnh nhân của Viện Pasteur đã kiểm soát được charge virale của họ trong 4 năm mà không cần mlot điều trị nào. Nhưng các chuyên gia vẫn thận trọng. ” Một trong những trở ngại lớn nhất của những thử nghiệm này có thể là độc tính”, Alain Lafeuillade, thầy thuốc chuyên bệnh nhiễm trùng ở trung tâm bệnh viện Toulon đã nói như vậy. Vì lẽ với tính hiệu quả và độ dung nạp của các anbtirétroviraux hiện nay, chất lượng sống của những người được điều tị được cải thiện rất rõ rệt.
Tuy vậy, dầu ta nói là chữa lành toàn bộ hay cơ năng, mục tiêu đã trở nên có thể xét đến…đối với khoa học. Ngay cả , trong lịch sử đã dài lâu của bệnh sida, không bao giờ điều gì có thể thực hiện nếu không có ý chị chính trị lẫn những phương tiện tài chánh. Nhất là, vấn đề khẩn cấp là tránh không để những người huyết thanh dương tính chết trước khi sự chữa lành sau cùng có thể tiếp cận.
(SCIENCE & VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

9/ UNG THƯ : CHIẾN LƯỢC MIỄN DỊCH LIỆU PHÁP MỚI.
BS Pierre Langlade-Demoyen, chuyên gia miễn dịch học, trưởng phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur, giải thích tác dụng của vaccin này qua những thử nghiệm đáng phấn khởi.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại điều phân biệt cơ chế của một tế bào lành mạnh với một tế bào ung thư ?
BS Pierre Langlade-Demoyen. Một tế bào lành mạnh chết sau khi đã thực hiện một số phân chia nào đó, trong khi những tế bào ung thư có thể phân chia bất tận. Chúng tăng sinh vì trở nên bị hỗn loạn.
Hỏi : Những tế bào ung thư trở nên bất tử như thế nào ?
BS Pierre Langlade-Demoyen. Những tế bào của chúng ta già đi.. và sự lão hóa trong thời gian này là do một sự rút ngắn của các đầu mút của các nhiễm sắc thể, mà ta gọi là những ” télomère”. Vào mỗi lần phân chia tế bào, chúng rút ngắn lại và khi chúng rút ngắn hoàn toàn, tế bào sẽ chết. Đó là một quá trình tự nhiên. Nhưng nếu tế bào là ung thư, một enzyme, télomérase, hoạt động một cách bất thường (“surexprimé”), ngắn cản sự rút ngắn của các télomère, cho phép tế bào ung thư trở nên bất tử. Sự tăng hoạt tính quá mức (superactivité) của télomérase này xảy ra trong tất cả các loại ung thư.
Hỏi : Để loại bỏ một tế bào ung thư, hệ miễn dịch của chúng ta hoạt động như thế nào ?
BS Pierre Langlade-Demoyen. Hệ miễn dịch có thể được so sánh với một đội quân. Những người lính đầu tiên (các đại thực bào, những cellule dendritique…) đi thám thính để nhận diện những “quân thù” (virus, vi khuẩn, những tế bào ung thư…) và mang lại những thông tin. Nhờ những thông tin này, những tế bào khác, những “chiến binh” (những tế bào lympho T và B…) sẽ có thể tấn công kẻ lạ một cách nhắm đích để tiêu diệt nó. Với những tế bào ung thư, vấn đề là, ngoài những tế bào được kích thích bởi một virus, chúng không luôn luôn có thể được phát hiện bởi radar của hệ miễn dịch. Do đó cần phải cải tạo hệ miễn dịch để hệ này học cách nhận biết mỗi tế bào ung thư. Như thế, cơ thể của chúng ta “chế tạo” mỗi ngày khoảng 1000 tế bào ung thư, nhưng hệ phòng ngự của chúng ta kiểm soát sự loại bỏ chúng. Tuy nhiên, có khi những tế bào ung thư mất những tín hiệu của chúng (những phân tử trên bề mặt của chúng, có tác dụng như những lá cờ nhỏ) và được ngụy trang.
Hỏi : Hiện nay, tác dụng của vaccin thérapeutique là gì ?
BS Pierre Langlade-Demoyen. Đó là một miễn dịch liệu pháp. Ta dạy cho hệ miễn dịch làm sao nhận diện tất cả những tế bào trong đó télomérase được siêu biểu hiện (surexprimé). Bất thường được liên kết chặt chẽ với tính chất ung thư, bởi vì enzyme này hiện diện trong những tế bào lành mạnh, nhưng bị làm bất hoạt. Vaccin được cấu tạo bởi một mảnh télomérase, mà ta tiêm vào dưới da. Sau khi đã đi vào trong cơ thể, nó tác động như mọi vaccin bằng cách gây nên một phản ứng đặc hiệu của hệ miễn dịch. Đó như thể ta cho nó những lunette để nhận biết tốt hơn những tế bào ung thư và tiêu diệt chúng. Đó là một điều trị nhằm bổ sung một protocole điều trị cổ điển : một vũ khí bổ sung.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu mà ông đã thực hiện với vaccin này là gì ?
BS Pierre Langlade-Demoyen. Những công trình nghiên cứu so sánh của chúng tôi đã được tiến hành trên hàng trăm con chuột transgénique có hệ miễn dịch gần với hệ miễn dịch của người, hoặc là lành mạnh, hoặc là mang mélanome, hoặc là mélanome di căn. Ở 90% những người được tiêm chủng, bị một mélanome di căn hay không, các ung thư đã biến mất trong 3 tuần. Những người không được tiêm chủng chết sau vài tuần, trong khi những người được tiêm chủng trung bình đã sống sót 6 tháng (thời gian sống bình thường biến thiên từ 1 đến 2 năm). Những kết quả này đã được công bố trong những tạp chí khoa học ” Proceedings of the National Academy of Sciences “, ” Blood “, ” Clinical Academy Research”. Trái với những điều trị cổ điển khác (ngoại khoa, hóa trị, xạ trị), miễn dịch liệu pháp gây nên một trí nhớ của hệ miễn dịch, trên lý thuyết, cho phép kềm hãm, thậm chí ngăn cản những tái phát.
Hỏi : Vaccin này có gây nên những tác dụng phụ không ?
BS Pierre Langlade-Demoyen. Sau khi tiêm vaccin ở động vật, những tác dụng nhiễm độc đã không được nhận thấy.
Hỏi : Giai đoạn kế tiếp là gì ?
BS Pierre Langlade-Demoyen. Kíp nghiên cứu dự kiến chuyển qua những thử nghiệm giai đoạn 1 ở người. Những thử nghiệm này sẽ được tiến hành trong thời gian đến trong nhiều bệnh viện để bắt đầu đánh giá sự dung nạp của vaccin.
(PARIS MATCH 5/6-12/6/2014)

10/ PHẪU THUẬT CỘT SỐNG : HƯỚNG VỀ IMPLANT SUR MESURE.
BS Vincent Fière, chirurgien orthopédiste spécialiste du rachis ở Centre orthopédique Sandy de Lyon, trình bày những lợi ích được mong chờ với kỹ thuật đổi mới này đối với những biến dạng nặng của cột sống.
Hỏi : Trong số những biến dạng cột sống, những biến dạng nào thường gặp nhất ?
BS Vincent Fière. Sự đánh mất chiều cao của các đĩa liên đốt sống khiến chúng bị biến dạng, đồng thời làm cột sống không vững ; những lún đốt sống (tassement vertébral), những gãy xương gây đau dữ dội và những thiếu sót thần kinh vì các rễ thần kinh bị đè ép. Một scoliose (vẹo quan trọng cột sống) cũng có thể gây đau phế tật (douleur handicapante) và, trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, gây trở ngại hô hấp. Một cyphose lombaire (trong đó chỗ hõm ở phần thấp của lưng biến mất, như thế đẩy thân thể ra phía trước) khiến các đĩa và dây chằng bị kéo đến độ phải điều trị nó. Một gãy xương consolidé trong tư thế xấu, một đĩa bị rách cũng có thể là nguồn gốc của một sự không vững của các đốt sống.
Hỏi : Ta điều trị những biến dạng gây đau này như thế nào ?
BS Vincent Fière. Khi đó là những biến đổi nhỏ, như một entorse discale đơn thuần, ta kê đơn những thuốc giảm đau và những thuốc giãn cơ (myorelaxant), với những bài tập rééducation musculaire. Khi sự biến dạng cột sống và phế tật nghiêm trọng hơn và dài lâu hơn (thí dụ đối với vẹo cột sống giai đoạn đầu), điều trị là chỉnh hình, buộc mang bổ sung một corset trong 6 tháng. Chỉ trong những trường hợp rất nghiêm trọng, trong đó đau không thể chịu được, đối với một bất thường tư thế (anomalie de la posture) hay một thiếu sót không thể khôi phục được với một điều trị không xâm nhập, lúc đó ta sẽ xét đến một phẫu thuật ” à ciel ouvert”.
Hỏi : Để điều chỉnh về mặt ngoại khoa những biến dạng không thể đảo ngược được bằng can thiệp vi xâm nhập, protocole chuẩn là gì ?
BS Vincent Fière. Mục đích là solidariser những đốt sống bằng một ghép xương. Để đạt được điều đó, những đốt sống phải được cố định bằng những tige và những vis. Ta bắt đầu bằng một bilan X quang toàn thể của cột sống và một IRM. Phát xuất từ những hình ảnh này, nhất là dạng của khung chậu, thầy thuốc ngoại khoa xác định tư thế của cột sống mà ông ta sẽ mổ. Thủ thuật nhằm, sau khi đã tách các cơ của lưng, giải phóng các khớp bị thoái hóa (articulation arthrosique) và những rễ thần kinh, thiết đặt hai tige bằng titane, những thanh kim loại này sẽ libérer các đĩa đốt sống và làm vững cột sống. Nhưng, vì đó là những tuteur rectiligne standard, nên chỉ vào cuối phẫu thuật, ngay trước khi implantation, mà nhà phẫu thuật mới có thể làm cong chúng bằng tay tùy theo hình thể mong muốn và, nếu cần cắt chúng. Một kỹ thuật hơi thủ công nghệ và có nguy cơ gây vỡ implant.
Hỏi : Cho đến nay những kết quả là gì ?
BS Vincent Fière. Mặc dầu những kết quả thỏa mãn, trung bình ta đã ghi nhận 40% tỷ lệ phải mổ lại trong 10 năm sau khi implantation, thường do độ cong của các tige không được hoàn hảo.
Hỏi : Kỹ thuật mới nào dự kiến đưa phẫu thuật này vào thời đại sur-mesure ?
BS Vincent Fière. Kỹ thuật này được thực hiện với một logiciel de simulation chirurgicale mới. Sau khi đã tìm hiểu hình dáng lý thuyết của cột sống phải tạo lại, thầy thuốc ngoại khoa đưa vào tất cả những dữ kiện của bệnh nhân đồng thời đánh số chúng. Sau đó ông giả đò động tác ngoại khoa. Chính từ sự giả vờ này mà một thanh bằng titane được chế tạo sur mesure. Khi đặt (implantation), ông sẽ không còn phải uốn cong hay cắt chúng. Thanh titane sẽ được thích ứng với hình thái học của cột sống.
Hỏi : Bao nhiêu bệnh nhân đã được mổ với kỹ thuật này ?
BS Vincent Fière. Ở 35 bệnh nhân được mổ cyphose, scoliose và reprise chirurgicale từ gần 9 tháng, những kết quả là đáng phấn khởi. Cho đến nay những phim chụp cho phép tái lập một tư thế tốt của lưng với hình dáng cột sống được mong muốn. Những triệu chứng đau được giảm rõ rệt phải tiếp tục giảm bớt.
Hỏi : Nếu những kết quả được xác nhận, những ưu điểm của những implant mới này là gì ?
BS Vincent Fière. 1. Một mối lợi về sự chính xác và tham vọng của động tác phẫu thuật. 2. Không làm gãy thanh titane khi phẫu thuật. 3. Lợi về mặt thời gian mổ. 4. Ta hy vọng giảm tỷ lệ cần phải mổ lại.
Hỏi : Bao nhiêu bệnh nhân phải được mổ và với thời gian nhìn lại nào trước khi phương pháp ngoại khoa này có thể được chuẩn nhận ?
BS Vincent Fière. Phải chờ đợi thực hiện một công trình nghiên cứu so sánh trên 100 bệnh nhân. Công trình này được hoạch định với sự công tác của Hospices civils de Lyon và hôpital Jean-Mermoz de Lyon.
(PARIS MATCH 24/7-30/2014)

11/ NHỮNG RỐI LOẠN NHỊP TIM : CHỮA LÀNH BẰNG LẠNH.
BS Fabrice Extramiana, rythmologue của khoa tim thuộc bệnh viện Bichat, giải thích những ưu điểm của cryothérapie đối với vài loạn năng của tim
Hỏi : Những bất thường sinh ra những rối loạn nhịp là gì ?
BS Fabrice Extramiana. Những co bóp tim được đồng bộ hóa bởi một tín hiệu điện phát xuất từ một nhóm tế bào, lan tràn trong tất cả các phần khác nhau của cơ tim. Khi những tế bào này được kích hoạt một cách bất thường hay khi sự lan tràn của tín hiệu được thực hiện không tốt, những rối loạn nhịp xuất hiện : khi đó tim đập quá nhanh hay quá chậm. Lưu lượng máu có thể giảm và các cơ quan có thể kém được cấp oxy. Do đó xuất hiện hồi hộp, khó thở và ngạt. Những rối loạn cơ năng thường gặp nhất xảy ra ở các tâm nhĩ. Về những rối loạn nhịp thất, đó là những rối loạn nguy hiểm nhất.
Hỏi : Ta có biết được những yếu tố làm dễ không ?
BS Fabrice Extramiana : Có nhiều yếu tố làm dễ. Tất cả các bệnh tim tạo điều kiện không những cho sự xuất hiện của những rối loạn nhịp, mà còn cao huyết áp và vài loại thuốc (các thuộc chống dị ứng, các thuốc kháng sinh…). Cũng có những yếu tố di truyền.
Hỏi : Những nguy cơ của những bất thường này là gì ?
BS Fabrice Extramiana : Khi những tâm nhĩ bị thương tổn, ta sợ xuất hiện một suy tim và sự tạo thành của một cục máu đông (thrombose), điều này là nguyên nhân của 1/3 những tai biến mạch máu não. Ở tâm thất, nguy hiểm là chết đột ngột.
Hỏi : Bằng những kỹ thuật nào, ta đã bắt đầu làm ngừng hoạt động bất thường của những tế bào chịu trách nhiệm những rối loạn nhịp ?
BS Fabrice Extramiana : Trong những năm 1980, bằng một phẫu thuật nặng nề, cần phải mở ngực, với những hậu phẫu đau đớn. Một kỹ thuật khác, ít xâm nhập hơn, sau đó đã được hiệu chính, nhằm đưa vào một ống thông (sonde) được nối với một máy phát điện (générateur électrique), qua một huyết quản đến tận trong tim. Mục tiêu là phá hủy bằng những sốc điện vùng chịu trách nhiệm. Sau đó protocole này đã được cải thiện bằng cách sử dụng một kỹ thuật tần số phóng xạ (technique de radiofréquence), gây hoại tử những tế bào chịu trách nhiệm bằng nhiệt với một mức độ chính xác lớn nhất.
Hỏi : Ta có thể phá hủy những tế bào tim này bằng lạnh như thế nào ?
BS Fabrice Extramiana : Lạnh sẽ làm đông lạnh nước hiện diện trong những tế bào và làm vỡ những màng của chúng như một chai đầy dịch vỡ trong một congélateur.
Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi protocole của cryothérapie.
BS Fabrice Extramiana : Can thiệp được diễn ra trong một centre de rythmologie interventionnelle được trang bị bởi một salle d’électrophysiologie cực kỳ hiện đại, cho phép ghi và phân tích tất cả những tín hiệu điện trong tim. Nhiều cathéter (sonde) được đưa vào dưới sự kiểm soát X quang cho đến tận trong tim. Chúng được nối với một máy cho phép làm hạ dần nhiệt độ của đầu mút xuống đến -80 độ C ở vùng cần phá hủy sau một định vị rất chính xác trên màn ảnh máy vi tính.
Hỏi : Làm sao thực hiện sự làm lạnh dần dần và ưu điểm của thủ thuật này ?
BS Fabrice Extramiana : Sự kiện bắt đầu hạ nhiệt độ xuống -30 độ C cho phép làm đông lạnh những tế bào mà không phá hủy chúng : những tê bào ngừng hoạt động. Khi đó ta có thể kiểm chứng rằng những tế bào được nhắm đúng là những tế bào đã gây nên nhưng rối loạn nhịp tim. Đó là tất cả ưu điểm của kỹ thuật bằng lạnh này !
Hỏi : Những kết quả ta có được với cryothérapie ?
BS Fabrice Extramiana : Nó cho phép có được một sự chữa lành trong 50 đến 95% các trường hợp, tùy theo loại những rối loạn nhịp được điều trị.
Hỏi : Trong những trường hợp nào ông quyết định sử dụng tần số phóng xạ (radiofréquence) thay vì cryothérapie.
BS Fabrice Extramiana : Tất cả tùy thuộc vào sự định vị của những tế bào tim cần phá hủy. Nếu chúng nằm gần một vùng cơ năng cần gìn giữ, tốt hơn sử dụng lạnh bởi vì ta sẽ có thể thực hiện những trắc nghiệm trước khi điều trị vĩnh viễn. Chỉ có điều bất tiện duy nhất : với liệu pháp bằng lạnh, ta ghi nhận nhiều tái phát hơn nhưng trong trường hợp này ta có thể bắt đầu điều trị lại. Vậy kỹ thuật này là một vũ khí bổ sung trong arsenal thérapeutique bên cạnh radiofréquence.
(PARIS MATCH 17/7-23/7/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(30/8/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s