Thời sự y học số 521 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SỰ THAY ĐỔI KHÍ HẬU CŨNG THAY ĐỔI SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG.
Hạn hán, bão, dịch bệnh…Những hậu quả của sưởi ấm khí hậu có nhiều nhưng khó đánh giá.SANTE ENVIRONNEMENTALE. ” Thiên nhiên và tầm quan trọng của sự đáp ứng với một thay đổi khí hậu sẽ là yếu tố quyết định đối với sức khỏe của các quốc gia trong những thế kỷ sắp đến”, cuối năm 2018 ; Lancet Countdown, nhóm quốc tế chính của các chuyên gia về những tương tác giữa khí hậu và sức khỏe đã đánh giá như vậy.
Từ đầu thế kỷ XX, nhiệt độ ở mặt đất đã tăng cao gần 1 độ C, và nhiệt độ của mặt biển gia tăng 0,7 độ C. Bốn năm vừa qua là nóng nhất từ khi hiện hữu những bản sao kê nhiệt độ. Thế mà sự sưởi nóng toàn cầu này có thể gần như độc nhất được quy cho những hoạt động con người.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thời sự y học số 520 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1. LED : ÁNH SÁNG XANH, KẺ THÙ MỚI CỦA THỊ GIÁC CỦA CHÚNG TA
Những sự chiếu sáng giàu ánh sáng có sóng ngắn có thể làm tổn hại võng mạc, ngoài việc làm rối loạn giấc ngủ của chúng ta.OPHTALMOLOGIE. Đèn đuốc, những sự chiếu sáng đô thị, écran, đèn pha xe hơi, basket lumineuses hay những đồ chơi trẻ em…những diode électroluminescente (LED) hiện diện khắp nơi. Ít ăn năng lượng hơn những lampe truyền thống, chỉ trong vài thập niên LED không thể thiếu trong việc hàng ngày của chúng ta.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tháng Mười – Octobre – October 2019

Hình ảnh | Posted on by | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thời sự y học số 519 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CATHÉTÉRISME : PHƯƠNG THỨC ĐƠN GIẢN… NHƯNG TỪ LÂU KHÔNG ĐƯỢC BIẾT ĐẾN.
Sự khám phá các tia X bởi Wilhelm Roentgen năm 1895, được tiết lộ cho thế giới ngày 13 tháng giêng năm 1896, dẫn đến sự ra đời của radiologie.
Vào đầu thế kỷ XX, radiologie cho phép khám ngực bằng soi tia X radioscopie dưới écran (radioscopie), nhất là để phát hiện bệnh lao, và những hình ảnh đẹp của khung xương bởi vì các xương, hơn là các mô mềm, làm dừng và hấp thụ các tia X. Ta đã chỉ có thể chụp X quang phía trong các cơ quan, bắt đầu bởi ống tiêu hóa, vào năm 1920, nhờ các chất như sulfate de baryum, vừa cản quang với các tia này, vừa ít độc, có thể cho bằng đường miệng và có thể sát vào một cách đúng đắn các thành trong của ruột. Áp dụng nguyên tắc này cho một động mạch não, người Bồ đào nha Egas Moniz đã thực hiện năm 1922 artériographie đầu tiên chỉ bằng cách tiêm một chất iodé cản quang với Rx.Nhưng ta còn xa mới có thể có được hình ảnh của một động mạch sâu hay các xoang của tim, điều này chỉ có thể thực hiện nhờ cathétérisme. Nguyên tắc của ông, theo lý thuyết, là đơn giản. Thủ thuật nhằm đưa vào trong một huyết quản, dưới sự kiểm soát của X quang, một ống rất mảnh (cathéter), mà ta đẩy càng xa nếu cần cho đến tận động mạch, tĩnh mạch hay xoang tim mà ta mong muốn chụp X quang. Sau đó ta tiêm trong cathéter chất cản quang rồi ta chụp.
Vào năm 1929, thời kỳ trong đó BS Werner Forssmann hành nghề thầy thuốc ngoại khoa ở bệnh viện Eberswalde, ở bắc Berlin, một thủ thuật như thế là không tưởng tượng được.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tiếng Việt trong sáng

Thời còn đi học trung học mỗi học sinh được chọn sinh ngữ 1 và sinh ngữ 2 có nghĩa là sau khi học hết trung học, ngoài cái vốn thuần thục tiếng Việt cha sinh mẹ đẻ mỗi học sinh ít nhiều có được một số vốn về ngoại ngữ. Thời đó có 2 sinh ngữ thông dụng nhất là Anh văn và Pháp văn (học sinh chọn Anh văn làm sinh ngữ 1 và Pháp văn làm sinh ngữ 2 hoặc ngược lại).
Việc học ngoại ngữ không những chỉ để có thêm một tiếng nước ngoài để dọn đường cho việc học tập và nghiên cứu (trong những năm học đại học, hậu đại học hay trong việc làm sau này) mà còn để học được những điều hay về văn hóa, xã hội, lịch sử của xứ người. Để tìm hiểu thêm được những tinh tế của từng ngôn ngữ (nếu việc học ngoại ngữ được thực hiện đúng đắng). Và cũng từ đó mà biết tôn trọng giữ gìn cho tiếng mẹ đẻ được luôn trong sáng.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Đôi dòng cảm nghĩ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thời sự y học số 518 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ LỰC SỐNG (FORCE VITALE) PHÁT XUẤT TỪ MỘT PHÂN TỬ NHỎ
Trong “Nhập môn nghiên cứu y khoa thí nghiệm” (introduction à l’étude de la médecine expérimentale), được công bố năm 1865, Claude Bernard, cha đẻ của sinh lý học hiện đại, không nói về năng lượng (énergie) mà về “force vitale” (lực sống), và định rõ ngay : ” Dầu cho tên mà người ra đặt cho nó là gì. Trong suốt thời gian sống của nó, ông đã viết như vậy, sinh vật vẫn dưới ảnh hưởng của lực sinh tồn sáng tạo này, và sự chết xảy đến khi nó không còn có thể được thực hiện”. Không những không theo chủ nghĩa thần bí, ông còn tin chắc rằng một ngày nào đó có thể quy điều bí ẩn này cho những tính chất vật lý-hóa học đơn thuần. Ông có lý !

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hình ảnh | Posted on by | Bạn nghĩ gì về bài viết này?