Cấp cứu hô hấp số 58 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HEN PHẾ QUẢN THỂ NẶNG
(ASTHME AIGU GRAVE)

Patrick Plaisance
Claire Broche
Laurent Ducros
Département d’Anesthésie-Réanimation-
SMUR. Hôpital Lariboisière
Philippe Sattonnet
CHR Metz-Thionville, Hôpital Bel-air

PHẦN I

I. NHẬP ĐỀ

1. ĐỊNH NGHĨA
Hen phế quản nặng (AAG) là một con bất thường đe dọa trong thời gian ngắn hạn tiên lượng sinh tồn. Tùy theo các nước, sự xếp loại của các giai đoạn trầm trọng của hen phế quản khác nhau. NIH (National Institute of Health) và BTS (British Thoracic Society) đã định nghĩa hen phế quản nặng như là một cơn có những dấu hiệu lâm sàng nghiêm trọng và một lưu lượng đỉnh (DEP) suy sụp đồng thời phân biệt giữa :
– Hen phế quản cực kỳ nặng (asthme de gravité extrême) được gọi là đe dọa mạng sống (life-threatening) với sự hiện diện của một hay nhiều dấu hiệu báo động (lú lẫn, hôn mê, thở nông, im lặng thính chẩn hay xanh tái) và/hoặc một DEP < 30% trị số lý thuyết hay tối ưu.
– Cơn bộc phát ” nghiêm trọng” (exacerbation “sévère”) với sự hiện diện của những dấu hiệu nghiêm trọng (khó thở nằm, những signes de lutte, vã mồ hôi, khó nói, kích động, tần số tim >/= 110/ phút, tần số hô hấp >/=30 chu kỳ/phút và/hoặc một lưu lượng đỉnh giữa 20 và 50% của trị số lý thuyết
– Cơn bộc phát “nhẹ đến trung bình” với vắng mặt những dấu hiệu nghiêm trọng và một lưu lượng đỉnh > 50%
Ở Pháp, vào năm 2002 Société de Réanimation de Langue Française (SRLF) đã cập nhật hội nghị nhất trí đầu tiên về xử trí các cơn hen phế quản thể nặng (AAG), được tổ chức năm 1988, bằng cách phân biệt :
– một mặt những dấu hiệu báo động làm sợ mort imminente : những rối loạn tri giác, nghỉ hô hấp (pause respiratoire), thở bụng nghịch lý, tăng thán huyết > 50 mmHg ;
– mặt khác, hen phế quản thể nặng mà những tiêu chuẩn chẩn đoán sẽ được nói chi tiết sau này.
Tóm lại, định nghĩa lấy lại những tiêu chuẩn chức năng, lâm sàng, với khó thở thở ra quan trọng đề kháng với điều trị giãn phế quản hít, dẫn đến những biến đổi của khí huyết động mạch (bình thậm chí tăng thán khí) và spirométrique (Lưu lượng đỉnh < 30% trị số lý thuyết hay tối ưu).
Tiếp tục đọc

Advertisements
Đăng tải tại Cấp cứu hô hấp | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thời sự y học số 480 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ TẬT LÉ (STRABISME) : NHẤT THIẾT CAN THIỆP TRƯỚC 3 TUỔI.
Sự loạn năng này phải được tìm kiếm cho đến 6 tuổi để được điều chỉnh tốt.OPHTALMOLOGIE. ” Từ nay hiếm khi thấy xuất hiện vĩnh viễn một amblyopie (chứng giảm thị lực), nguy cơ chính của bệnh lé (strabisme) “, GS Philippe Denis, trưởng khoa mắt của hôpital de la Croix-Rouge (Lyon) và giám đốc của Ecole d’orthoptique de Lyon, đã nhấn mạnh như vậy. Khi hai mắt không cùng nhau hoạt động và khi góc của chứng lé quan trọng, não nhận hai hình ảnh tách biệt mà nó khó tập hợp.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cấp cứu hô hấp số 57 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HEN PHẾ QUẢN THỂ NẶNG
(ASTHME AIGU GRAVE)

F. Nicolas & D. Villers
Professeurs des Universités,
Réanimation médicale

I. NHỮNG DẤU HIỆU LÂM SÀNG
Sự mô tả những dấu hiệu lâm sàng chứng thực mức độ nghiêm trọng, cho phép nhận biết một cách sơ đồ hai mức nghiêm trọng : ” hen phế quan cấp tính nặng ” (asthme aigu grave), được xác định bởi những dấu hiệu được gọi là “có mức độ trầm trong tức thời ” (signe de gravité immédiate), và ” hen phế qua cấp tính rất nặng (asthme aigue très grave), được xác định những dấu hiệu của détresse respiratoire.
1. NHỮNG DẤU HIỆU TRẦM TRỌNG TỨC THỜI : HEN PHẾ QUAN CẤP TÍNH NẶNG (ASTHME AIGU GRAVE)
– Khó thở nằm (orthopnée), nói khó, khó ho.
– Xanh tía, kích động, vã mồ hôi
– Tần số hô hấp >30/phút
– Tần số tim > 120 đập/phút
– Huy động các cơ phụ hô hấp (các cơ ức đòn chũm)
– Mạch nghịch lý > 20 mmHg
– Lưu lượng đỉnh 50 mmHg.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Cấp cứu hô hấp, Chuyên đề Y Khoa | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Dạ Khúc – Nhac Schubert Lời việt Phạm Duy, Thiên Thanh hát

Đăng tải tại Viết về Huế | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thời sự y học số 479 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ LÀM SAO GIÚP ĐỠ TỐT HƠN NHỮNG TRẺ SINH NON
7,4% sinh đẻ liên quan những trẻ sinh non vào năm 2010 ở PhápOBSTETRIQUE. Giữa 280 và 290 ngày, đó là thời gian tự nhiên của thai nghén ở loài người. Hoặc 41 tuần sau những kinh nguyệt cuối cùng, hay sau 41 tuần tắt kinh. Mọi trường hợp sinh xảy ra trước 37 tuần tắt kinh, vậy trước lúc bắt đầu của tháng thứ chín của thai nghén, theo định nghĩa là sinh non. Số những trường hợp sinh non này tiếp tục gia tăng trong đất nước của chúng ta. Chúng chiếm 7,4 % các sinh đẻ trong năm 2010 (khoảng 60.000) so với 5,9% năm 1995. 3 giải thích cho sự tăng cao này : những thai nghén muộn hơn, vậy cũng thường đa thai hơn, hoặc một nửa các trẻ sinh đôi sinh non, và nhiều trường hợp sinh được phát khởi trước khi đủ tháng hơn vì những lý do y khoa.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cấp cứu hô hấp số 56 – BS Nguyễn Văn Thịnh

 

HEN PHẾ QUẢN
(ASTHMA)

Anne E. Dixon, MD
Assistant Professor
Division of Pulmonary and
Critical Care Medicine
University of Vermont College of Medicine

1/ TỶ LỆ LƯU HÀNH HÀNG NĂM CỦA HEN PHẾ QUẢN ?
Tỷ lệ mắc phải của hen phế quản, được định nghĩa như là một đợt hen phế quản trong 12 tháng vừa qua, là khoảng 4% ở những người trưởng thành và 6% ở các trẻ em ở Hoa Kỳ. Tần số cao hơn ở các cháu trai cho đến tuổi thiếu niên, và ở những người trưởng thành tần số cao hơn ở những phụ nữ. Tỷ lệ lưu hành của hen phế quản đặc biệt cao ở những nước nói tiếng Anh, vì những lý do không được biết rõ.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Cấp cứu hô hấp, Chuyên đề Y Khoa | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thời sự y học số 478 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ KHI NGÓN CÁI PHẢI ĐƯỢC NGHỈ NGƠI HOÀN TOÀN.
5% đến 10% các y tá, thư ký và đàn bà nội trợ bị viêm gân-bao hoạt dịch.
Ténosynovite de Quervain là do viêm cua bao của một dây gân.ORTHOPEDIE. ” Ténosynovite là viêm của một bao hoạt dịch (gaine synoviale) trong đó vài dây gân trượt, GS Dominique Le Nen, trưởng pôle de chirurgie orthopédique des membres supérieurs của CHRU de Brest đã nói như vậy. Vậy đó không phải là một viêm gân (tendinite) ảnh hưởng lên chính dây gân.” Sự phân biệt này là quan trọng, đồng thời để xác lập chẩn đoán, nhận diện những nguyên nhân và thực hiện sự điều trị thích hợp nhất.
Vậy ténosynovite chỉ xảy ra ở những dây gân được bao quanh bởi một bao đầy hoạt dịch (synovie), một dịch nhớt làm trơn các dây gân và hấp thụ nhiệt được phát ra bởi những cử động của các dây gân. Dispositif này không cần thiết cho tất cả các dây gân : nó hiện hữu ở nơi những cử động lặp lại và thường xảy ra là cần thiết, chủ yếu bàn tay và cổ tay nhưng đôi khi cũng khuỷu tay, vai hay mắt cá chân. Những dây gân không được bảo vệ như thế bị thương tổn một cách trực tiếp bởi những chấn thương cơ học : những cử động lặp lại có thể tháo tơi chúng dần dần như các sợi của một dây corde, đó là viêm dây gân (từ nay được gọi là tendinopathie bởi vì viêm không luôn luôn hiện diện).
Khi bao hoạt dịch không còn đóng vai trò bảo vệ chống lại sự làm nóng lên nữa, những ma sát gia tăng gây nên một sự viêm làm phát khởi một vòng luẩn quẩn : bao hoạt dịch dày lên, những vùng mô sợi xuất hiện và còn hạn chế hơn không gian trong đó dây gân có thể đi qua đi lại, điều này còn gia tăng những ma sát và do đó viêm. Vài ténosynovite bắt đầu bằng một thiếu sót ở hoạt dịch (synovie) hay khi một hội chứng viêm như viêm đa khớp dạng thấp hay một rhumatisme psoriasique làm dễ sự viêm của bao hoạt dịch. Những viêm gân-bao hoạt dịch khác, được gọi là hẹp (ténosynovite sténosante), phát khởi khi tuổi già hay một hoạt động lặp lại gây một sự dày lên của các dây gân trong một bao đã trở nên quá nhỏ. Viêm xuất hiện thì hai nhưng dần dần cho một profil tương tự với viêm gân-bao hoạt dich xuất tiết (ténosynovite exsudative), nguồn gốc viêm. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học | Bạn nghĩ gì về bài viết này?