Thời sự y học số 349 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÁC VI KHUẨN BIẾT ĐỀ KHÁNG
Sự tìm kiếm các kháng sinh mới có khả năng giết những mầm bệnh này càng ngày càng khó.BACTERIOLOGIE. ” Các kháng sinh ngày nay là nạn nhân của sự thành công của chúng : sự sử dụng rộng rãi kháng sinh từ những năm 1960-1970 đã cho phép các vi khuẩn học cách tự vệ chống lại chúng “, GS Patrick Plésiat, người phụ trách Centre national de référence de la résistance aux antibiotiques thuộc CHU de Besanon đã nhắc lại như vậy. Từ nay, sự đề kháng với các kháng sinh liên quan đến nhiều mầm bệnh và OMS đã thực hiện những chương trình trên toàn thế giới để làm chậm lại sự xuất hiện của những đề kháng mới và gìn giữ những thuốc điều trị hiện có. Ngay khi chúng xuất hiện, các vi khuẩn đã học cách đề kháng với các kháng sinh được sử dụng nhất và, trong thời kỳ vàng son của sự phát triển của các kháng sinh, chỉ cần cho những vi khuẩn này một kháng sinh khác cũng đủ để loại bỏ chúng.
Tuy nhiên một nhóm nhỏ những mầm bệnh đã thành công có được một sự đề kháng với nhiều kháng sinh, buộc các thầy thuốc càng lúc càng thường phải lấy trong kho dự trữ những kháng sinh phải được sử dụng như biện pháp cuối cùng để chống lại những vi khuẩn khó trị nhất, với một nguy cơ gia tăng tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những vi khuẩn đề kháng tất cả (bactérie totorésistante), mà để chống lại chúng không có kháng sinh nào được biết có thể được sử dụng. Vậy sự nghiên cứu sẽ phải được khởi động trở lại để hiệu chính những lớp kháng sinh mới, chủ yếu dưới sự thúc đẩy của start-up bởi vì những xí nghiệp dược phẩm lớn phần lớn đã tách rời lãnh vực ít mang lợi này. Những bệnh nhiễm trùng phát khởi một cách tình cờ, làm không thể tiên đoán được thị trường, và điều trị chúng lai ngắn ngày : những bệnh nhiễm trùng không mang lợi khi so sánh chúng với những bệnh mãn tính, là một thị trường to lớn do sự lão hóa của dân số trong những nước phát triển.
Những vi khuẩn đa đề kháng (bactérie multirésistante) trước hết đã phát triển trong môi trường bệnh viện, ở đây tình huống thuận lợi cho sự xuất hiện của những đề kháng : một nửa sự tiêu thụ của những kháng sinh tập trung ở đó và sự chung đụng của những người bị nhiễm trùng, được làm liên hệ với nhau bởi cùng những người điều trị, tạo cơ hội cho sự phát tán của những vi khuẩn này và những đề kháng của chúng. Cũng chính ở bệnh viện mà thành công đầu tiên đã được ghi nhận chống lại những đa đề kháng (multirésistance) : sự xuất hiện của những giống gốc Tụ cầu khuẩn vàng đề kháng với méthicilline (MRSA) đã dẫn đến sự thiết đặt những biện pháp vệ sinh một cách hệ thống để tránh sự lây nhiễm giữa các bệnh nhân, với một sự giảm tỷ lệ đề kháng hơn 10% trong vòng chưa được 10 năm. Mới đây hơn, những bệnh lao đa đề kháng (tuberculose multirésistante), vốn vẫn rất hiếm ở Pháp, cũng đã là đối tượng của những biện pháp đặc biệt hiệu quả để hạn chế sự phân tán của chúng ngoài bệnh viện.
Từ lâu bị giam hãm trong các bệnh viện, từ nay những vi khuẩn đa đề kháng mới, khó điều trị, phân tán trong thành phố, ở đây sự tiến triển của chúng nhanh hơn. Từ nay những cố gắng được tập trung vào vài vi khuẩn ruột (entérobactérie) đã trở nên đề kháng với céphalosporines thế hệ thứ ba và ngay cả với carbapénèmes, lớp kháng sinh mới nhất có khả năng loại bỏ chúng. Những vi khuẩn này đặc biệt được nhắm đến để tránh những đề kháng như vậy lan rộng như đã xảy trong quá khứ, vì các vi khuẩn ruột có mặt khắp nơi “, GS Marie-Hélène Nicolas-Chanoine, trưởng khoa vi trùng học thuộc bệnh viện Beaujon de Clichy đã nhấn mạnh như vậy.” Tất cả mọi người deu sống với những mầm bệnh này, trái với các tụ cầu khuẩn, chỉ hiện diện trên da của vài người.” Như thế các vi khuẩn ruột hiện diện trong môi trường của người, lưu hành rất rộng từ người này sang người khác và có thể truyền lại một cách nhanh chóng, cho những vi khuẩn khác, những “recette” đề kháng của chúng. Ở quy mô châu Âu, những công trình nghiên cứu của OMS về khuẩn chí tiêu hóa (flore digestive) của những người lành mạnh chứng tỏ rằng một phần của những vi khuẩn ruột này, đặc biệt là vài klebsiella, vào năm 2012, cho thấy những tỷ lệ đa đề kháng có thể đặt đến 70% trong vài nước và đến 25% ở Pháp.
Những E.coli đề kháng với carbapénème vẫn còn hiếm ở châu Âu và ảnh hưởng dưới 5% những giống gốc ở Pháp. Đứng trước những vi khuẩn đa đề kháng này, các thầy thuốc từ nay đôi khi trong bế tắc điều trị : OMS ước tính rằng, mỗi năm ở châu Âu, 25.000 trường hợp tử vong do những đa đề kháng với những kháng sinh. Trong phần còn lại của thế giới, những đa đề kháng thường gặp hơn nhiều với một tỷ lệ tử vong tăng gấp đôi khi không có một kháng sinh có hiệu quả nào có thể được điều trị.
CÁC VI TRÙNG THÍCH TRUYỀN ĐẠT NHỮNG PHƯƠNG THỨC ĐỀ KHÁNG TỐT NHẤT
Những vi khuẩn đã hiệu chính một công cũ tuyệt với để thích nghi với môi trường của chúng : chúng truyền lại những phương pháp tốt nhất để tiêu hóa một loại thuốc mới hay khử nhiễm một chất độc… như một kháng sinh. Những recette này, trong đại đa số các trường hợp, không được chỉ trong sách. ADN chính của các vi khuẩn, những nhiễm sắc thể của chúng, nhưng được ghi trên những “fiche” d’ADN nhỏ, những plasmide. Những plasmide này là những nhánh ADN nhỏ, nói chung hình tròn. Một vài, nhưng không phải tất cả, có thể được truyền cho nhau giữa các vi khuẩn. Cả một họ những plasmide mang gène mã hóa cho một enzyme có thể làm vô hiệu quả một kháng sinh nào đó. Và như thế có thể phát triển so với những vi khuẩn không có plasmide này. Ngoài ra, các vi khuẩn có nhiều phương pháp để chia xẻ một cách rất dễ dàng những fiche này, giữa các vi khuẩn của cùng một họ nhưng đôi khi giữa những vi khuẩn rất khác nhau vì lẽ đôi khi chúng chỉ cần trải qua một lúc trong cùng cơ quan để thực hiện những trao đổi này. Vậy những kháng sinh phải được kê đơn trong một thời gian chính xác : khá lâu để loại bỏ tất cả những vi khuẩn gây nhiễm trùng trước khi chúng học cách đề kháng lại nó và trước khi chúng truyền thông tin cho những vi khuẩn khác, nhưng không quá lâu để tránh những vi khuẩn khác, không gây nhiễm trùng, có thời gian học chỉ bằng cách tiếp xúc với kháng sinh mới này.
(LE FIGARO 14/4/2014)

2/ SỰ CHỐNG LẠI CÁC MẦM BỆNH CŨNG PHẢI QUA MỘT VỆ SINH ĐỜI SỐNG TỐT.
” Các kháng sinh, không được cho một cách tự động.” Chiến dịch được phát động ở Pháp năm 2002 đã có những hiệu quả dương tính, khiến Pháp mất đi statut nước châu Âu tiêu thụ nhiều kháng sinh nhất, với một sự hạ 12,5% sự tiêu thụ giữa 2000 và 2012. Con số này từ nay được nâng cao trở lại, theo báo cáo mới nhất của ANSM (Agence nationale de sécurité du médicament).
Thật vậy sự chừng mực là một trong những cột trụ chủ yếu để chống lại sự tăng sinh của những đề kháng đối với các kháng sinh, và chính các bệnh nhân có thể đóng một vai trò quan trọng bằng cách cố gắng tìm hiểu lý do của mọi kê đơn các kháng sinh. Làm giảm sự sử dụng cũng cần một sự dùng tiết chế hơn đối với những động vật : OMS ước tính rằng gần một nửa các kháng sinh được sử dựng trên thế giới được dùng cho động vật trong khung cảnh thâm canh. Thí dụ ở Hoa Kỳ, các kháng sinh còn được cho phép dùng như additif trong chế độ ăn uống của các động vật nhằm đẩy nhanh sự tăng trưởng của chúng, một sự sử dụng bị cấm ở châu Âu từ 2006.
Sự phát triển những công cụ chẩn đoán nhanh (outil de diagnostique rapide) cũng cho phép kê đơn những kháng sinh một cách nhắm đích hơn. Một trắc nghiệm có kết quả tức thời (test instantané), mà các thầy thuốc tiếp cận miễn phí, cho phép phát hiện một loại viêm họng (angine) nào đó mà một kháng sinh phải được kê đơn. Từ nay những phòng xét nghiệm có thể nhận diện càng ngày càng nhanh những mầm bệnh chịu trách nhiệm một nhiễm trùng và những kháng sinh mà chúng nhạy cảm để tránh những mò mẫm.
SỰ NGHIÊN CỨU PHÁP ĐẶC BIỆT CHẬM TRỄ
Những tiến bộ này phải được liên kết với những biên pháp vệ sinh để hạn chế sự phân tán của những vi khuẩn đề kháng. ” Những biện pháp được thiết đặt ở bệnh viện để hạn chế sự lan truyền khả năng đề kháng của những tụ cầu khuẩn đối với méthicilline (MRSA) đã rất có hiệu quả “, GS Xavier Bertrand, người phụ trách của đơn vị vệ sinh ở CHU de Besançon đã nhắc lại như vậy. ” Những đề kháng của những vi khuẩn ruột, hiện diện khắp nơi trong môi trường của chúng ta, cần sự thiết đặt của những chiến thuật mới, phải được mở rộng ra ngoài bệnh viện.” Rửa tay một cách hệ thống khi đi ra khỏi nhà xí, trước khi chuẩn bị bữa ăn và trước khi vào bàn, phải trở thành một phản xạ đối với tất cả mọi người.
Hiện nay, những điều thận trọng này càng cần thiết khi công tác nghiên cứu con kho nhoc trong việc hiệu chính những họ kháng sinh mới. Pháp đặc biệt chậm trễ trong lãnh vực này, nhưng nhiều chương trình đã được phát động trên thế giới không những để tạo điều kiện cho sự hợp tác giữa các kíp nghiên cứu, mà còn để hỗ trợ những start-up, vẫn chiếm đa số trong lãnh vực này. Trong lúc chờ đợi, phải gìn giữ những nguồn kháng sinh mà chúng ta hiện có để giành lấy thời gian cần thiết cho những khám phá này và sau đó đi trước một bước đối với các vi khuẩn, sẽ luôn luôn học cách đề kháng với những vũ khí mới mà ta sẽ điều trị chúng.
(LE FIGARO 14/4/2014)

3/ NHAU CÓ KHUẨN CHÍ RUỘT RIÊNG
Từ lâu được xem như là vô trùng, cơ quan này thật ra chứa nhiều vi khuẩn, gần giống với những vi khuẩn được quan sát trong miệng của chúng ta.
Các vi khuẩn đóng một vai trò sớm hơn dự kiến trong sự phát triển cơ thể con người. Thật vậy, nhau chứa những vi khuẩn có thể góp phần trong sự tạo thành microbiote ruột của thai nhi. Đó là một bất ngờ bởi vì cho mãi đến nay giáo điều là : nhau là một mô vô trùng. Những những nhà nghiên cứu của Baylor College of Medicine de Houston (Texas) vừa khám phá rằng thật ra nhau chứa một khuẩn chí ruột điển hình. Sự kiểm kê của tất cả các gène hiện diện trong nhau của hơn 300 phụ nữ có cúc khỏe tốt đã phát hiện sự hiện diện của nhiều gène vi khuẩn. Sự phân tích chúng, được công bố trong tạp chí Science Translational Medicine, đã phát hiện một microbiote những vi khuẩn bị thu giảm về số lượng nhưng đa dạng về loại hơn so với những vi khuẩn đã được biết của ruột, của âm đạo, của da hay của miệng.
NHỮNG PROFIL VI KHUẨN VÀ SẨY THAI.
” Sự khám phá này xét lại vấn đề của cái được gọi là tính chất vô trùng của môi trường của thai nhi, Richard Lo-Man, nhà nghiên cứu thuộc Viện Pasteur (Paris) đã nhấn mạnh như vậy.Việc đưa vào những phương pháp séquençage à haut débit đã cách mạng hóa sự phân tích của các microbiote. Nó cũng đã cho phép phát hiện microbiote của những đường hô hấp dưới, ngày xưa cũng được xem là vô trùng.”
Microbiote nhau thai đã làm ngạc nhiên các nhà nghiên cứu không những bởi tính chất đa dạng về loại vi khuẩn mà còn bởi profil khiến chúng gần giống với khuẩn chí miệng hơn là khuẩn chí của hậu môn và âm đạo. Đối với giáo sư Gérard Eberl, thuộc Viện Pasteur (Paris), điều đó có thể được giải thích : ” Nói chung ta tin rằng bên trong cơ thể của chúng ta là vô trùng, nhưng thật ra không phải là như vậy.Thí dụ khi đánh răng, các vi khuẩn đi vào trong máu.” Ngoài ra, profil này có vẻ rất ổn ding đối với mỗi phụ nữ và không liên hệ với loại sinh đẻ, corpulence, chủng tộc hãy chứng nghiện thuốc lá. Ngược lại, những khác nhau đã xuất hiện ở những phụ nữ đã sinh non hay đã mắc phải một nhiễm trùng vi khuẩn trong lúc có thai. Bây giờ các nhà nghiên cứu tự hỏi không biết vài profil vi khuẩn có thể thường được liên kết hơn với những trường hợp sinh non, và họ chủ trương một vệ sinh răng miệng tốt ngay khi thụ thai để tạo điều kiện cho diễn biến tốt của thai nghén. Vai trò sinh lý của microbiote nhau này có thể là vai trò nào ?
MỘT VAI TRÒ SỚM HƠN TRONG SỰ TẠO THÀNH CƠ THỀ.
Trong trường hợp ruột, vi khuẩn chí (flore bactérienne) cho phép chúng ta, ngoài những vấn đề khác ra, tiêu hóa tốt hơn những thức ăn, phát triển một hệ miễn dịch quân bình và bảo vệ chúng ta chống lại những mầm bệnh. Đối với nhau, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ nêu lên sự hiện diện đáng kể của những gène vi khuẩn hữu ích trong việc tổng hợp những cofacteur d’enzymes và vitamines. Microbiote nhau có lẽ góp phần vào sự khởi phát của hệ miễn dịch phôi thai. ” Chúng tôi vừa mô tả sự hiện diện của của những tế bào miễn dịch rất được biệt hóa trong máu của phôi thai, những lymphocytes T mémoires, Richard Lo-Man đã nhấn mạnh như vậy. Và chúng có thể phát xuất từ một tương tác với microbiote nhau.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2014)

4/ MÍT, THỨC ĂN ĐẦY HỨA HẸN
Loại trái cây khổng lồ này có thể góp phần giải quyết những vấn đề suy dinh dưỡng trong nhiều nước nhiệt đới.
Đó là trái cây lớn nhất thế giới, thế mà tuy vậy cho đến nay chẳng ai thật sự lưu tâm đến. Những nhu cầu nông học (besoins agronomiques) của cây mít (jaquier), cây sinh ra trái mít (jaque) là gì ? Ta sản xuất bao nhiêu ? Thành phần vitamine và oligoélément, những nguồn cung cấp năng lượng của nó là gì ? Bí mật. Tuy nhiên số phận của trái mít đang thay đổi. Ngày 15 và 16 tháng năm vừa rồi, khoảng một trăm nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đã học tại Bangalore (Ando) để kiểm điểm các kiến thức và thăm dò những phương tiện làm gia tăng sản xuất. Bởi vì trái mít mà người ta gọi ở Ẩn Độ là “trái cây của người nghèo” có thể giúp giải quyết những vấn đề suy dinh dưỡng trong nhiều nước nhiệt đới. Nguồn gốc từ miền nam Ấn Độ, cây mít (Artocarpus heterophyllus) là một cây mang các trái cây có thể cân nặng đến 40 kg. Được bán trên các chợ châu Á, nhưng cũng ở Brésil và trong các đảo nhiệt đới, thức ăn này cho phép những dân nghèo khổ nhất ” hàn gắn” trong vụ mùa, khi thiếu rau xanh. Cho đến nay trái mít không bao giờ ra khỏi vai trò này.
Tuy vậy cây mít có nhiều lợi điểm. Nó nãy nở không những trong những vùng có nhiều mưa mà còn trong những vùng khô ráo hơn. Trái cây chứa nhiều vitamine và mít nổi tiếng giàu các khoáng chất, như phosphore, sắt, potassium và calcium, cần thiết cho sự quân bình chế độ ăn uống. Nhưng nó có một khuyết điểm lớn : trái mít phát ra một mùi rất khó chịu.
MÍT CÓ THỂ ĐƯỢC BÁN DƯỚI DẠNG ĐỒ HỘP.
Ở Bangalore, các nhà nghiên cứu đã trao đổi đổi về tính đa dạng di truyền của loài trái cây này, về những biotechnologie cần phải thực hiện để cải thiện khả năng sinh sản của nó, về sự nghiên cứu nông học cần phải tài trợ để mở đường cho sự thâm canh, về những phương tiện để làm gia tăng sự phổ biến, thí dụ bằng đóng hộp. Chính vì vậy, hội nghị chuyên đề cũng đã tiếp đón 300 nông gia, đã bắt đầu khai thác cây mít thâm canh hơn, cũng như những xí nghiệp nông sản.” “Trái cây của người nghèo ” có thể mang lại vài điều quý giá.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2014)

5/ DỊCH BỆNH SIDA CÓ THỂ BỊ ĐÁNH BẠI KHÔNG ?
Sao lai khong ! Bởi vì các nhà nghiên cứu tin chac điều đó : 30 năm sau khi bắt đầu trận dịch sida, từ nay đến …20 năm nữa, sẽ thấy cuối đường hầm ngay cả khi không có vaccin chống VIH. Vào thời hạn này, các nhà nghiên cứu dự kiến ngay cả chỉ ghi nhận những nhiễm trùng riêng rẻ, trong khi đó hiện nay chúng gây bệnh cho 3 triệu người mỗi năm. Những lời nói vừa làm vững lòng nhưng cũng vừa mới lạ. Nhưng chính một phương pháp phòng ngừa mới nằm trong chương trình nghị sự. Phương pháp này có thể được tóm tắt bằng bốn chữ : TASP, thay cho Treatment as prevention, hay ” traitement comme prévention”, bằng tiếng Pháp. Một cách rõ nét, khi có hiệu quả, điều trị antirétroviral những người bị nhiễm VIH sẽ ngăn cản sự lan truyền của virus….và, khi được phối hợp với những phương pháp phòng ngừa khác, nó sẽ mở cửa cho một sự kiểm soát bất ngờ trận dịch. Các nhà dịch tễ học và các thầy thuốc không ngại xác nhận điều đó và Liên Hiệp Quốc đã đồng ý với họ vào tháng sáu vừa qua khi cam kết cung cấp thuốc điều trị cho 15 triệu người từ nay đến năm 2015.
Chính vào đầu năm 2008 mà khái niệm này đã xuất hiện trong Bulletin des médecins suisses, được công bố bởi một nhóm nhỏ những chuyên gia có uy tín về VIH : ” Những người huyết thanh dương tính, nếu không bị một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục nào khác và theo một điều trị chống rétrovirus có hiệu quả, sẽ không truyền VIH bằng đường sinh dục”, họ đã viết như vậy. Un pavé dans la mare (một phát hiện bất ngờ). ” Nguy cơ lây truyền tùy thuộc lượng virus (charge virale) lưu thông trong cơ thể, Willy Rozenbaum, thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm thuộc bệnh viện Saint-Louis (Paris) đã xác nhận như vậy.
Nhưng phải chăng là thực tế khi cho rằng có thể cung cấp thuốc điều trị khắp nơi trên thế giới, và đặc biệt trong các nước nghèo ? Vâng, ” có thể đảm bảo một sự tiếp cận phổ cập đối với điều trị VIH trong những nước có lợi tức thấp hay trung bình “, theo báo cáo thường niên mới nhất của OMS và của Unicef. Như thế 8 nước, Botswana, Cambodge, Croatie, Cuba, Guyane, Oman, Roumanie và Rwanda đã đạt được sự tiếp cận phổ cập này, trong khi 21 nước khác tiến lại gần, với một tỷ lệ bảo vệ đi từ 50 đến 80%.
Ý CHÍ CHÍNH TRỊ VÀ TÀI CHÁNH
Đối với chủ tịch của hiệp hội Aides, Bruno Spire, ” ta có những phương tiện để làm ngừng dịch bệnh. Cách nay 10 năm, không ai nghĩ rằng sự tiếp cận điều trị trong những nước phía Nam là có thể nghĩ đến. Thế mà từ nay, hơn 5 triệu người đã tiếp cận được ” Vậy thế thì, chấm dứt dịch bệnh trong 20 năm nữa ? Tất cả chỉ còn là một một vấn đề ý chí chính trị và tài chánh. Vào tháng 10 năm 2010, những cam kết của các pays donateurs của Fonds mondial, tài trợ cho sự tiếp cận những điều trị của các nước đang phát triển, đã đạt khoảng 11,7 tỷ dollars cho 3 năm đến, hoặc ít hơn kịch bản bi quan nhất (13 tỷ dollars). Để có thể theo đuổi theo cùng nhịp độ, sẽ cần 17 tỷ và để gia tốc, 20… Những sự cam kết của ONU sẽ có thể thay đổi.
(SCIENCE ET VIE: QUESTIONS ET REPONSES)

6/ NHỮNG HỨA HẸN HOANG ĐƯỜNG CỦA ” PROTEINE CẢI LÃO HOÀN ĐỒNG”
Bằng các làm gia tăng nồng độ protéine klotho trong máu, hy vọng sống (espérance de vie) của chuột đã được cải thiện nhiều tháng. Những thị trường tiêu thụ ở người được gợi lên.
Ở đại học Californie ở San Francisco, các nhà khoa học có lẽ đã nam được cái điều mà ta có thể gọi là một ” protéine mang lại tuổi thanh xuân ” (protéine de jouvence). Các con chuột sản xuất nhiều protéine này trong máu và não bộ thấy hy vọng sống của chúng được tăng lên nhiều tháng. Protéine này mang tên Khotho, vị thần Hy Lạp theo dõi số phận con người. Gène chịu trách nhiệm sự sản xuất của protéine này đã được khám phá vào năm 1997. Khi đó một hiện tượng lạ kỳ đã được quan sát : khi gène này được làm bất hoạt, động vật bắt đầu già đi một cách nhanh chóng. Không những nó chết sau hai tháng thay vì 30, mà nó còn cho thấy nhiều đặc điểm của sự lão hóa vọn không có ở chuột (sự loãng xương, khí phế thủng, sự vôi hóa những động mạch, da bị mỏng đi với rụng lông…) Từ đó, các nhà nghiên cứu đã không ngừng nghiên cứu protéine được mã hóa bởi gène này, để tránh không để xảy ra những khía cạnh lão hóa khác nhau như vậy.
Vậy đáp số là enzyme klotho này, lưu thông một cách tự nhiên trong máu và não bộ. Và vì sự hiện diện của nó giảm với sự gia tăng của tuổi tác, nên các nhà khoa học đã tìm cách để biết điều sẽ xảy ra nếu tả già tăng một cách nhân tạo nồng độ của nó. Họ báo cáo trong tạp chí Cell Reports rằng không những tuổi thọ của các con chuột gia tăng,mà cả trí nhớ và khả năng học tập của chúng cũng được cái thiện. Những khám phá này có thể có những áp dụng cho người. Thật vậy, ta biết rằng những người già, vốn có những khó khăn trong việc thực hiện những công tác hàng ngày, thường có những nồng độ klotho tấp hơn trong màu.
PROTEINE TÁC ĐỘNG LÊN NHỮNG NEURONE CỦA HIPPOCAMPE
Tốt hơn, ở những người trên 50 tuổi, các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng những nồng độ tăng cao hơn của klotho được liên kết với những năng lực nhận thúc tốt hơn, dầu tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn hay gène tạo thuận cho bệnh Alzheimzr APOEe4 là gì. Những nồng độ tăng cao này là do một dạng đặc biệt của gène klotho, hiện diện ở khoảng 1/4 dân chúng.
Những protéine này tác động như thế nào ? Cùng những nhà nghiên cứu đã khám phá rằng nó tác động lên các neurone : ở chuột protéine này cải thiện sự vận hành chức năng của hippocampe, một vùng não bộ quyết định đối với trí nhớ và học tập. Tính chất bất ngờ, protéine có thể gây nên sự gia tăng số lượng những thụ thể đối với glutamate, một chất dẫn truyền thần kinh đối với trí nhớ. Sau cùng, nó kích hoạt sự hóa myéline của các tế bào thần kinh của não bộ, một phương tiện làm cho sự dẫn truyền thần kinh hiệu quả hơn.
Là yếu tố trường thọ ở chuột, klotho có thể cung cấp những hướng mới để làm giảm sự sa sút trí tuệ do lớn tuổi ở người.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2014)

7/ TẠI SAO VẪN LUÔN LUÔN KHÔNG CÓ VACCIN CHỐNG BỆNH SIDA
25 năm nghiên cứu không ngừng, nhiều thất bại ê chề, thế mà vẫn không hy vọng có một vaccin nào chống VIH trong một tương lai gần. Tệ hại hơn, mặc dầu kinh nghiệm được tích luỹ và một số lớn những dự án nghiên cứu, phần lớn các công trình luôn luôn được tiến hành một cách thường nghiệm. Có hai lý do lớn để giải thích điều đó. Một mặt, các nhà nghiên cứu chỉ có một ý tưởng mơ hồ về những đáp ứng miễn dịch (các kháng thể, cellules tueuses…, cần phát khởi để hiệu quả chống lại VIH. Mặt khác, Mặt khác, họ chỉ có thể chứng thực sự tài tình đáng sợ của virus trong việc làm thất bại những kỹ thuật tiêm chủng thường được sử dụng.
Thật vậy, virus của bệnh sida chống lại bằng nhiều cách những cố gắng của những nhà nghiên cứu để hiệu chính một vaccin. Trước hết, virus tấn công những “chef d’orchestre” của hệ miễn dịch, những tế bào lympho CD4, đến độ đánh lạc hướng vài cơ chế phòng vệ. Sau đó, VIH biến dị một cách thường trực và những đáp ứng miễn dịch như thế không thể theo kịp. Đó là chưa kể virus tăng sinh và phát tán rất nhanh, ngay sau khi gây nhiễm, điều này hàm ý rằng đáp ứng miễn dịch phải gần như hoàn hảo mới hy vọng có hiệu quả. Sau cùng, trái với phần lớn những nhiễm trùng do virus mà ta chích ngừa để kích thích hệ miễn dịch, sida không phải là một căn bệnh mà ta lành một cách tự nhiên : vậy không thể tuân theo những phòng vệ tự nhiên để có khuếch đại chúng.
NHỮNG KẾT QUẢ DƯƠNG TÍNH ĐẦU TIÊN.
Tuy nhiên không phải vì vậy mà mất tất cả các hy vọng và sau cùng vài cố gắng bắt đầu mang lại kết quả. Vào tháng 9 năm 2009, những kết quả của một thử nghiệm được tiến hành ở Thái Lan đã gây nhiều ổn ào : sau khi đã phối hợp hai ứng viên vaccin khác nhau, không có hiệu quả nếu được dùng riêng rẻ, các thầy thuốc đã ghi nhận một sự bảo vệ ở 31% những người tham gia thử nghiệm. Con số có vẻ thấp, tuy nhiên đó là kết quả dương tính đầu tiên của một thử nghiệm lâm sàng ở người ! Và thử nghiệm mày đã dẫn đến sự thực hiện cùng phương cách trong phần lớn các dự án tiêm chủng : phối hợp hai candidat vaccin, một “prime” khơi mào đáp ứng miễn dịch, và một “boost” tăng cường nó.
Những candidat vaccin hiện nay được cấu tạo bởi một chọn lọc các mảnh virus, những gène hay protéine, mà ta tiêm, hoặc trực tiếp, hoặc vào trong một contenant (vecteur). Vecteur này thường là một virus được làm mất khả năng sinh bệnh, như những virus của họ đầu mùa (những poxvirus), của họ cảm cúm (adénovirus) hay virus được làm vô hại của bệnh sởi. Ít nhất khoảng 30 vaccin khác nhau hiện đang được phát triển. Với hai mục tiêu : ngăn cản được sự nhiễm trùng bởi VIH ; hoặc, nếu không, hạn chế sự tăng sinh của virus sau nhiễm trùng, nhằm cải thiện những cơ may sống còn và làm giảm những nguy cơ lan truyền.
Ngoài ra, những hướng nghiên cứu thường xuyên được thăm dò. Những kết quả được công bố tháng hai năm 2011 : lần đầu tiên, một vaccin đã gây nên ở khỉ macaque một sự bảo vệ ở niêm mạc âm đạo, những cửa vào thật sự của virus vào trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu đi từ quan sát những phụ nữ vẫn huyết thanh âm tính mặc dầu thường xuyên được tiếp xúc với VIH. Ngạc nhiên : họ có những kháng thể hướng chống lại một mảnh rất đặc biệt của một protéine của virus, gp41, dường như có tác dụng bảo vệ họ, đó không phải là trường hợp của đại đa số những kháng thể thường được sản sinh.
…CẦN ĐƯỢC XÁC NHẬN TRONG THỜI GIAN DÀI HẠN HƠN.
Phát xuất từ điều chứng thực này, các nhà nghiên cứu đã khảo sát mảnh vỡ này một cách hết sức chăm chú rồi đã đưa nó vào trong vaccin của họ. Họ đã trắc nghiệm vaccin này ở năm khỉ cái macaque mà họ đã cho tiếp xúc 13 lần với những liều mạnh của SHIV, một virus “chimère” hòa trộn những gène của lớp vỏ của VIH và những gène của SIV, virus của suy giảm miễn dịch khỉ. Sự bảo vệ là …100%. Chuyện chưa bao giờ thấy. Ngay cả nhà chế tạo vaccin, Morgane Bomsel, thuộc Institut Cochin (Paris) thú nhận rằng bà đã không ngờ điều đó. Từ đó, vaccin này đã được trắc nghiệm ở các phụ nữ và những kết quả đã được công bố vào tháng năm 2011 : vaccin được dung nạp tốt và sản sinh những đáp ứng miễn dịch được mong chờ. Tuy nhiên vẫn còn cần phải biết là tính miễn dịch này có sẽ bảo vệ các phụ nữ hay không.
Vậy những kết quả là hứa hẹn. Nhưng trong cộng đồng khoa học, ta đã học được việc cần phải dè chừng những hy vọng quá đẹp. Nhất là trong quá trình chuyển từ modèle macaque sang người, nhiều candidat vaccin đã bị loại bỏ. Và những hạn chế của những thử nghiệm này phải được nhấn mạnh : số những động vật được khảo sát là thấp, đáp ứng miễn dịch được gây nên bởi vaccin đã không được trắc nghiệm trên 6 tháng, và những niêm mạc của các macaque không bị một thương tổn nào.
Tuy nhiên loại hy vọng này vẫn duy trì ngọn lửa nhiệt tình của các nhà nghiên cứu. Và rằng ở mỗi thử nghiệm mới, họ hiểu tốt hơn những giai đoạn của nhiễm trùng bởi VIH. Với hy vọng sau cùng khám phá khe hở. Bởi vì chính ở đó chắc chắn ẩn dấu concept của vaccin chống bệnh sida.
(SCIENCES ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

8/ GIẤC NGỦ GIÚP NÃO TỰ TẨY SẠCH.
Chính khi ta ngủ mà các phế chất được sản sinh thường trực bởi não bộ của chúng ta được loại bỏ, theo Lulu Xie (đại học Rochester Hoa Kỳ). Ở trạng thai thức tỉnh, những chất phế thải này tích tụ trong khoảng giữa các tế bào. Thế mà, trong khi ngủ, thể tích của khoảng này gia tăng hơn 60% ở những động vật gặm nhấm. Điều này tạo điều kiện cho sự tuần hoàn của dịch não tủy, được chứa trong các màng não, những màng bao bọc não bộ và tủy sống. Là thợ hốt rác thật sự của não bộ, chất dịch này mang đi những chất phế thải và chuyển vào các huyết quản tưới máu những màng não. Như thế, những beta-amyloide, mà sự tích tụ tạo thành những mảng (plaque) trong não của những bệnh nhân bị Alzheimer, được thải hai lần nhanh hơn khi ta ngủ. Điều này giải thích tại sao sự thiếu ngủ làm giảm những hiệu năng nhận thức (performance cognitive) và làm gia tăng những nguy cơ động kinh hoặc migraine. Sự “làm sạch” (nettoyage) này cũng có thể tham dự vào chu kỳ thức ngủ, vì sự tích tụ của vài chất trong lúc thức làm phát khởi nhu cầu muốn ngủ, và sự phế bỏ chúng trong khi thiu thiu ngủ giải thích chức năng sửa chữa của một đêm ngủ ngon.
(SCIENCE ET VIE 12/2013)

9/ THANH QUẢN NHÂN TẠO ĐẦU TIÊN LÀ CỦA PHÁP
Đó là một première mondiale, và là một hy vọng đối với 1.500 người Pháp, mỗi năm chịu cắt bỏ thanh quản. Trong khi mở khí quản (trachéotomie) cho đến nay là lựa chọn duy nhất, một kíp các bác sĩ ngoại khoa của các bệnh viện đại học Strasbourg đã loan báo đặt thành công một thanh quản nhân tạo. Cuộc mồ đã xảy ra vào tháng sáu năm 2012. Từ đó bệnh nhân đã tìm thấy lại một giọng nói thì thầm, không khí có thể lưu thông trở lại trong họng của bệnh nhân và làm rung các mô ở đáy lưỡi và của màng khẩu cái (voile du palais). Nằm ở phía sau họng, thanh quản sản xuất những thanh âm, điều hòa sự nuốt các thức ăn và sự đi qua của không khí. Thanh quản nhân tạo là một ống bằng titane xốp, được tạo thành bởi hai van, mở ra để không khí đi qua và đóng lại khi nuốt thức ăn vào. Chính tính xốp (porosité) của titane và sự dung nạp tốt của nó trong cơ thể tạo nên tính độc đáo của prothèse này. 3 bệnh nhân khác bị ung thư thanh quân đã nhận thanh quân nhân tạo. ” Một biện thể mới đã hiện hữu, với chỉ một van uốn cong “, Christian Debry, nguồn gốc của dự án, đã lấy làm hớn hở. Kíp hy vọng cải thiện thủ thuật ngoại khoa, cũng như chức năng phát âm, đồng thời làm gia tăng cường độ của âm thanh trong ống bằng titane.
(SCIENCE ET VIE 12/2013)

10/ TỤY TẠNG CẤP TÍNH : CHÚ Ý NGUY CƠ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG TRONG TRƯỜNG HỢP VIÊM
Viêm tụy tạng cấp tính là bệnh thường gặp nhất trong số những bệnh của tụy tạng. Ở Pháp, viêm tụy tạng cấp tính thường nhất là do sự tiêu thụ rượu quá mức (40% các trường hợp) hay do một sỏi mật (40%), khi nó không có nguồn gốc nhiễm trùng, ung thư hay di truyền (20%). Thương tổn trong sự sản xuất các men tụy tạng (chức năng của tuyến được gọi là ngoại tiết) thường được cải thiện một cách tự nhiên. Ngược lại, những rối loạn của đường huyết (chức năng nội tiết) thường gặp và gia trọng dần dần. Theo duyệt xét của 24 công trình nghiên cứu quy tụ hơn 1.100 bệnh nhân, nguy cơ xuất hiện một tiền đái đường (prédiabète) (tăng đường huyết lúc đói) là 16% sau nhập viện vì một đợt viêm tụy tạng cấp tính đầu tiên. Tần số của bệnh đái đường là 23% và sự nhờ đến điều trị bằng insuline cần thiết trong 15% các trường hợp. Những chức năng nội tiết tiếp tục suy sụp, nguy cơ bị đái đường tăng gấp đôi trong 5 năm. Và điều này, độc lập với mức độ nghiêm trọng, nguyên nhân của viêm tụy tạng và dầu cho tuổi tác hay giới tính của bệnh nhân là gì.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/7/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 349 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 605 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s