Paris: Les Invalides – Đại Linh

LES INVALIDES

Giữa Place Vauban và Esplanade des Invalides trải dài tổng thể các tòa nhà, bao gồm Hôtel des Invalides,Dôme des Invalides

và Eglise Saint-Louis des Invalides.Cái esplanade bao la, được quy hoạch giữa năm 1704 và 1720, dài 487m và rộng 250m, là bối cảnh lý tưởng đối với Hôtel des Invalides.Trên nền đất phía trước Hôtel được sắp thẳng hàng các khẩu đại bác bằng đồng thau của những thế kỷ XVII và XVIII, 18 khẩu của “ đội pháo khải hoàn ” (batterie triomphale), chỉ nổ vang như sấm nhân những biến cố đặc biệt, và ở hai bên cổng vào là các xe bọc sắt của Đức, bị chiếm vào năm 1944.Chính vua Louis XIV đã quyết định xây dựng dinh thự lộng lẫy này dành cho các quân nhân phục viên vì lý do tuổi tác hay thương tật.Trước đó các quân nhân khốn khổ này thường phải lang thang từ quảng trường này qua quảng trường khác để xin ăn. Sự ân cần của nhà vua được phản ảnh qua kiến trúc vừa khắc khổ vừa hùng tráng.
Cái mặt tiền khô khan và trang trọng, với 4 dãy cửa sổ chồng lên nhau, dài 196m và gồm ở trung tâm một chiếc cổng uy nghi, và ở trên cổng là một hình đắp nổi thấp (bas-relief), biểu hiện vua Louis XIV.Sau Versailles, đây là công trình tham vọng nhất của triều đại, khởi thủy công tác được giao phó cho kiến trúc sư Liberal Bruant.

Năm 1764, những quân nhân đầu tiên được nhận vào tạm trú ở Invalides.Ở đây kỷ luật khắc khe (mọi sự sai phạm về hạnh kiểm sẽ bị giam tù) đến độ nhiều người trong số họ luyến tiếc cho đời sống tự do (mặc dầu nghèo khổ) ở bên ngoài.Nhưng bù lại ở đây họ được hưởng tiền trợ cấp đầy đủ và săn sóc về y tế. Sáng kiến này rất thành công. Ngay năm 1690 đã có đến 6000 đơn xin lưu trú. Các vua chúa Châu Âu đã bắt chước mô hình này để tạo nên các bệnh viện quân sự.

EGLISE DU DÔME

Jules Hardouin-Mansart, phỏng theo một đồ án của François Mansart, để xây dựng từ năm 1679 đến 1706 nóc vòm (dôme) đẹp nhất của Paris, một trong những kiệt tác của kiến trúc Pháp của thế kỷ XII.

Trái với Saint-Louis-des Invalides, nhà thờ của lính mà nhà kiến trúc sư đã xây dựng đồng thời, Eglise du dôme (hay dôme des Invalides) chỉ dành cho Vua-Mặt Trời (Roi-Soleil) (tức vua Louis XIV) sử dụng mà thôi.
Eglise du dôme được khởi công năm 1677 và phải mất 27 năm mới hoàn thành vào năm 1735. Nhà thờ này được xem là một trong những công trình tôn giáo đẹp nhất được dựng lên dưới thời Louis XIV.

Năm 1715 lần đầu tiên vua Louis XIV cho mạ vàng nóc vòm nhà thờ (lần cuối cùng được tu sữa là năm 1989).Vua Louis XIV có lẽ có dự kiến dùng nhà thờ này làm nghĩa địa của triều đại Boubons thay cho basilique Saint-Denis nhưng đã không thực hiện được dự án này và mộ mà sau cùng dôme des Invalides tiếp nhận là mộ của Napoléon.
Thi hài của Napoléon đệ nhất được chuyển từ đảo Elbe về đây năm 1840. Mộ của Napoléon đuợc đặt nằm trung tâm nhà thờ và gồm 6 quan tài ăn khớp với nhau. Là công trình kỹ niệm dành cho các quân nhân, dôme des Invalides cũng có những mộ phần của những quân nhân vĩ đại khác như các thống chế Foch và Lyautey.

NGƯỜI BỆNH CỦA ĐẢO SAINTE HELENE

Khi ông ta đến cảng Rochefort sau cuộc bại trận khủng khiếp ở Waterloo, Napoléon, mặc dầu chỉ còn là cái bóng của chính mình, lại tin như đinh đóng cột rằng ông ta sẽ lên tàu đi châu Mỹ, là nơi còn có các bạn bè. Đó là Napoléon không tính đến hạm đội Anh, lúc hay biết được các kế hoạch của ông, đã vội phong bế hải cảng Pháp để thuyết phục Bonaparte lên một chiếc tàu Anh, “ le Bellerophon ”. Được chuyển đến Nothumberland sau đó, Napoléon bị buộc thực hiện một chuyến đi dài ngày đến hòn đảo không mến khách Sainte-Hélène, nơi đây ông đã đổ bộ 3 tháng sau đó.
NHỮNG NGƯỜI THẦY THUỐC TẬN TỤY CỦA NAPOLEON.
Trong nơi lưu đày xa xăm, Hoàng Đế chỉ được đi kèm theo bởi vài người, trong đó có thống chế Bertrand và nhà sử học Las Cases, đã để lại cho chúng ta nhiều hồi ký, thường do Napoléon đọc cho mà viết. Bên cạnh họ là hai thầy thuốc O’Meara và Antommarchi. O’Meara, người gốc Ái Nhĩ Lan, đã từng gặp Hoàng Đế trên tàu Bellerophon và đã được biệt phái hẳn đến cạnh ông để hết lòng vì công việc của mình, với một sự vồn vả ân cần làm bộ tư lệnh hải quân Anh xét thấy đáng nghi ngờ, vì thế vào năm 1818 vị thầy thuốc này được mời đến Albion. Từ kinh nghiệm của mình, O’Meara sẽ rút ra một tác phẩm tuyệt vời, được tái bản đến 34 lần, tuy nhiên không phải vì vậy mà cải thiện được chế độ áp đặt vào Bonaparte cho đến ngày cuối đời của ông. Antommarchi tiếp nối O’Meara để đi theo người bệnh nhân nổi tiếng của mình cho đến ngày lâm chung của Napoléon. Ông cũng để lại cho chúng ta những bài viết hồi ký của mình.
Sự phê phán lịch sử buộc chúng ta phải tỏ ra thận trọng về nội dung của các bản văn này, trong đó khuynh hướng đa cảm và lòng cảm thông che dấu hay làm biến đổi một sự thật không có tính chủ quan. Hai thầy thuốc của chúng ta đúng là những nhân chứng trực tiếp của những nỗi khổ đau về thể xác và tinh thần của Hoàng Đế, như câu trả lời sau đây của O’Meara với thống đốc Lowe khi ông này lo ngại về tình trạng sức khỏe của người tù nhân của mình, đã chứng tỏ điều đó : “ Phải mở rộng các giới hạn của khu vực trong đó ông ta được phép đi dạo chơi, một cách tổng quát, phải tạo cho ông ta một cảm tưởng tự do nào đó, và nhất là, an tọa ông ta trong một ngôi nhà trên sườn đồi bên kia của hòn đảo ”. Bệnh nhân đau đớn đến độ ông ta mong muốn thần chết hãy đưa ông ta đi nhanh chóng. Đây là điều Napoléon đã tuyên bố với vị thầy thuốc của mình vào tháng 12 năm 1816 : “ Đêm qua, tôi bị một cơn thần kinh khiến làm tôi thức tỉnh cho đến sáng. Tôi bị kích động và khốn khổ vì các cơn migraine khủng khiếp. Tôi đánh mất cả tri giác, khoảng vài khoảnh khắc đồng hồ. Ngay cả tôi hy vọng rằng cơn thiên đầu thống này sẽ trầm trọng dần, đủ để giải thoát tôi khỏi sự hiện hữu thảm thương này. Vào trong bất cứ giây phút nào, tôi cũng tin là đã bị một cơn đột qụy. Đầu tôi nặng nề với một cảm giác chóng mặt ; có thể nói dường như tất cả máu đều đổ dồn về não bộ. Tôi cũng cảm thấy một nhu cầu bức thiết là muốn đứng dậy.” Hoàng Đế bình phục khá nhanh cơn thần kinh này vì lẽ vài ngày sau đó, ông vừa miệt mài đọc thánh kinh, vừa vẫn mơ màng đến cái đế chế với 83 triệu thần dân mà ông đã ngự trị. Một lần khác, ông tự nói là một mình chịu trách nhiệm về tất cả những thất bại và tố cáo sự điên rồ của mình là đã tiến quân đến Moscou để khuất phục chế độ Nga xa hoàng.
CHIẾC GAN CỦA HOÀNG ĐẾ.
Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe của Hoàng Đế tiếp tục gây lo âu cho người thầy thuốc của mình. Vào ngày 17 tháng năm 1817, O’Meara ghi nhận là đã thấy Napoléon trong phòng tắm và kêu vang đau ở má phải, có lẽ gây nên bởi sâu răng, cũng như sưng nề ở các mắc cá và cẳng chân. Chẩn đoán đối với các dấu hiệu sưng tấy này : Napoléon phải luyện tập thể dục và tại sao lại phải cưỡi ngựa, thế mà lại quên rằng địa hình, nơi ông được phép di chuyển, là quá chật hẹp đến độ nó ngăn cản ngựa phi. “ Ông sẽ không còn thấy tôi nữa rất lâu, bác sĩ ạ ”, người dân của đảo Corse đã nói thêm vào như vậy. “ Người ta đã áp đặt cho tôi một cái chết còn khủng khiếp hơn nhiều so với cái chết của một người lính trên chiến trận.Tôi cảm thấy rằng cái bộ máy càng ngày càng suy sút đi.” 15 ngày sau, ngày 1 tháng mười năm 1817, Napoléon kêu đau ở lá lách và những cơn đau nhói ở vai, nhưng cũng một cảm giác khó chịu về phía gan. Người thầy thuốc kê toa cho ông các thuốc chống táo bón nhưng ông cũng e sợ chứng viêm gan sẽ buộc Hoàng Đế phải theo một chế độ kiêng khem nghiêm ngặt và phải từ bỏ rượu. Sau đó, chứng bệnh càng ngày càng xấu đi và Bonaparte không ngừng kêu van lá gan, có lẽ đang sưng lên một cách nguy hiểm. Các cơn đau ở các chi trở nên dữ dội hơn nhưng Hoàng Đế gần như luôn luôn từ chối dùng thuốc đã được kê đơn và khi O’Meara đột ngột bị ngừng chức, thì không có một thầy thuốc nào ở cạnh giường ông trong 1 tháng. Người thầy thuốc Ái Nhĩ Lan đã được mời trở lại nhưng sau đó bị triệu hồi vĩnh viễn. Hoảng đế rất sầu não về sự ra đi này : “ Tội ác được hoàn thành. Đã quá lâu rồi tôi vẫn còn sống.”. Và trước khi rút lui vĩnh viễn, O’Meara đệ trình cho Thống chế Bertarnd một báo cáo dài và chi tiết về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mình. Mặc dầu được săn sóc tận tình, căn bệnh vẫn tiếp tục tiến triển và khiến lo ngại một viêm gan cấp tính. Napoléon cũng đã béo phì quá mức, thân thể không chịu được những thời kỳ táo bón kéo dài, kế tiếp bởi các đợt ỉa chảy dữ dội. Sốt cao cũng như trái tim có nhịp đập quá mức. Ông được thầy thuốc kê toa thủy ngân (mercure), mà ông tỏ ra ghét cay ghét đắng. Ông không chịu được nữa calomel, và một chứng viêm phế quản ác hiểm, gây nên bởi tình trạng ẩm ướt của nơi chốn này, rất khó mà vượt qua được, cũng như sự khốn khổ tinh thần, sự nhàn rổi và nỗi cô đơn của chốn lưu đày.
O’Meara chẳng bao lâu được thay thế bởi BS John Stokoe. Ông này chỉ kịp xác định chẩn đoán của người tiền nhiệm rồi từ chức trước những thủ đoạn phá rối liên tục của chính quyền Anh. Phải rất nhiều phản kháng của Hoàng Đế, nằm liệt giường không được săn sóc, sau cùng mới đổ bộ cạnh giường ông một đội y tế mới, trong đó có BS Antommarchi, chỉ vừa tròn 30 tuổi và cho mãi đến khi ấy, đã trau giồi tài nghệ thầy thuốc ngoại khoa của mình ở Hospice Notre-Dame de Florence. Hai ngày sau, sau cùng, viên thầy thuốc mới có thể thính chẩn Hoàng Đế, và anh có thể nắm được ngay mức độ của căn bệnh : thính giác kém đi, da rất tái xanh, hách xì dữ dội xen lẫn với những cơn ho khan, các lỗ mũi bị nghẹt, mạch yếu nhưng đều, những cơn đau lưu động trong vùng thắt lưng, nôn mửa liên tiếp … Nhưng không có gì là mới lắm trong chẩn đoán này…
Sự buồn chán, vẫn sự buồn chán trên cái núi đá, mà ở đó đã không bao giờ xảy ra điều gì cả, và đó là điều tệ hại nhất, bởi vì tình trạng sức khỏe không còn tiến triển bao nhiêu nữa trong hướng này hay hướng kia. “ Không có gì được ghi nhận ” (Rien à signaler), người thầy thuốc vẫn luôn luôn ghi vào trong báo cáo hàng ngày của mình như vậy. Nhưng sự đồng tình hợp ý nhau giữa hai người chỉ được một thời gian do tính chất càng ngày càng thất thường của Napoléon. Hoàng Đế trách người thầy thuốc của mình đã không túc trực 24 giờ trên 24. Thật ra, Antommarchi đã lợi dụng những lúc rảnh rổi hiếm hoi của mình để xuống trong thủ phủ của hòn đảo và trà dư tửu hậu ở đó với các đồng nghiệp rất hiếm hoi, điều này làm Hoàng Đế bất bình sâu nặng, đến độ Napoléon sau cùng hẳn đã đuổi viên thầy thuốc này nếu Bertarnd đã không thuyết phục ông điều ngược lại. Antommarchi có lẽ 10 năm nhỏ tuổi hơn, còn quá trẻ để có thể chống cự lại những cơn bực bội cáu gắt của người chiến thắng trận Austerlitz !
SỰ CÁO CHUNG CỦA VINH QUANG THẾ GIỚI.
Vào năm 1821 này, các lực lượng lần lượt giã từ Hoàng Đế và không thể nào lay chuyển được. Những cơn khó thở và những lần ói mửa gia tăng. Ngày 2 tháng 4, người ta kêu cứu một thầy thuốc người Anh, nhưng ông này đến chỉ để xác nhận một lâm chung mà người ta cảm thấy đã gần kề. Theo các gia nhân, chiều hôm đó một ngôi sao chổi đã đi xuyên qua bầu trời. Điềm xấu, Napoléon đã thốt lên như vậy, vì chính cũng bằng cách này mà cái chết gần kề của César đã được loan báo. Hai tuần lễ tiếp theo sau thật đặc biệt khổ nhọc. Hoàng Đế cáu kỉnh hơn bao giờ hết, trải qua suốt thời gian để soạn lại bảng di chúc. Ông đuổi cả vị thầy thuốc của mình ra khỏi phòng mặc dầu những nỗi thống khổ gần như không chịu đựng được. Ngày 18 tháng 4, Antommarchi nhận sự giúp đỡ của 2 thầy thuốc người Anh, nhưng chẳng còn làm gì được nữa. Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 năm 1821, Napoléon mê sảng hoàn toàn. Những người thân chỉ còn nghe 3 chữ được lặp đi lặp lại không ngừng : nước Pháp, quân đội, Joséphine. Vào 1 giờ, các đầu chi bắt đầu lạnh giá, các bờ môi siết lại, đôi mắt lờ đờ, bụng trướng ra nhiều lần, bị lay động bởi các tiếng sôi ruột, mạch yếu và không đều, từ 102 đến 122 đập mỗi phút. Và thứ thuốc duy nhất dành cho con người đang hấp hối này là các thuốc làm rộp da (vésicatoire) và hai thuốc dán chứa chất moutarde, được đặt lên lòng các bàn chân của Bonaparte.
Vào 6 giờ 1 phút ngày 5 tháng 5 năm 1821, Napoléon Bonaparte không còn nữa. “ Vinh quang của thế giới đã chết đi như vậy ”, Antommarchi đã ghi vào các cuốn sổ tay của mình như thế. Sau đó, người ta tiến hành rửa ráy người chết và rồi đặt lên trên một chiếc giường khác. Viên thầy thuốc lấy khuôn gương mặt của Napoléon, rồi bắt đầu giải phẫu tử thi trước sự hiện diện của 3 vị tướng người Pháp, các sĩ quan người Anh và tám vị thầy thuốc được yêu cầu tham dự vào cuộc mổ xác rùng rợn này. Antmmarchi ghi các kết luận : “ Giải phẫu tử thi đặc biệt phát hiện rằng gan bị một viêm nhiễm mãn tính và rằng các thành của dạ dày biến mất một phần, dưới một khối u ác tính.” Một thầy thuốc người Anh đã không hết ngạc nhiên về mức độ quan trọng của mỡ bao phủ tất cả các cơ quan của người chết, đồng thời chứng nhận rằng dạ dày bị một ung thư, nhất là trong vùng môn vị nhưng phủ nhận căn bệnh gan, mà từ lâu đã được mô tả bởi các đồng nghiệp, có lẽ do lệnh của thống đốc đảo. Như thế để lại một bí ẩn sau cùng quanh con người một thời đã cho mình là chủ nhân ông của thế giới, trước khi bỏ mình trên một hòn núi đá hẻo lánh xa xăm của Đại Tây Dương.

NAPOLÉON BONAPARTE KHÔNG PHẢI CHẾT VÌ BỊ ĐẦU ĐỘC BỞI ARSENIC

Giả thuyết gây tranh cải về việc ám sát Napoléon đệ nhất bằng arsenic hôm qua đã bị bác bỏ bởi Viện vật lý nguyên tử Ý. Theo viện nghiên cứu này, nồng độ chất độc (arsenic) được tìm thấy trong tóc của hoàng đế không có gì là đặc biệt vào thời đó. Sau khi đã tiến hành “ một xem xét tỉ mỉ mới ” các sợi tóc của Napoléon, nhờ một lò phản ứng nhỏ, và sau khi đã so sánh với những sợi tóc của những thành viên gia đình của Napoléon và của những người “ hiện nay còn sống ”, các chuyên gia người Ý phát hiện rằng “ nồng độ arsenic trong các sợi tóc cách nay 2 thế kỷ là 100 lần mạnh hơn ” nồng độ trung bình hiện nay. Theo các nhà nghiên cứu, “ môi trường trong đó những người ở đầu thế kỷ XIX sinh sống khiến họ phải hấp thụ vào những lượng arsenic mà ngày nay chúng ta cho là nguy hiểm.” Do đó, nồng độ arsenic cao trong các sợi tóc của hoàng đế, chết lúc 51 tuổi, ngày 5 tháng năm năm 1821 trên đảo Sainte-Hélène, không phải là do bị đầu độc nhưng là do sự hấp thụ arsenic xảy ra một cách thường xuyên.”
(LE FIGARO 12/2/2008)

LE TOMBEAU DE NAPOLEON Ier

Ngày 5 tháng năm 1821, Napoléon chết ở Sainte-Hélène, nhưng chỉ nhiều năm sau người Pháp mới được người Anh cho phép mang Hoàng Đế về chôn trên đất Pháp. Louis-Philippe gởi con mình, Prince de Joinville, đến Saint-Hélène để tiến hành khai quật thi thể của Hoàng đế. Sự quay trở về nước Pháp này là cuộc hành trình vinh quang cuối cùng của con người, được người dân thương mến nhất, được binh lính tôn sùng nhất, và làm kẻ thù khiếp sợ nhất. Vào tháng 9 năm 1840, một chiếc tàu của Pháp mang thi hài của Napoléon đến cảng Havre,để rồi sau đó từ từ ngược dòng sông Seine

lên đến tận Paris.Ngày 15 tháng 12, gần như toàn thành phố đều tham dự, dưới một trận bão tuyết, lễ đám tang của Hoàng Đế. Đoàn đưa tang diễn hành chậm rải dọc theo Les Grands Boulevards,đi qua dưới Arc de Triomphe,

đi xuống Champs-Elyséesđể chấm dứt ở đây, dưới Dôme des Invalides,

một cuộc lưu đày đã kéo dài quá lâu.

ĐẠI LINH
(Review 22/7/2014)

Bài này đã được đăng trong Du lịch đó đây. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s