Thời sự y học số 361 – BS Nguyễn Văn Thịnh

Opérationv de la cataracte1/ LÃO THỊ, ĐỤC THỦY TINH THỂ : SỰ LÃO HÓA KHÔNG THỂ TRÁNH ĐƯỢC CỦA THUỶ TINH THỂ
1 triệu phẫu thuật đục thủy tinh thể (cataracte) được thực hiện mỗi năm ở Pháp
Có nhiều giải pháp để điều trị những rối loạn thị giác do lớn tuổi.
OPHTALMOLOGIE. ” Mắt đặc biệt nhạy cảm với sự lão hóa, nhất là gây nên bởi stress oxydatif “, GS Alian Bron, thầy thuốc nhãn khoa thuộc CHU de Dijon, đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, suốt ngày đôi mắt bị tiếp xúc với ánh sáng, mà năng lượng gây nên sự tạo thành những radicaux libres. Ngoài ra, sự chuyển hóa mạnh của võng mạc, hoạt động ngay cả trong bóng tối, cần một sự tiêu thụ quan trọng oxygène, cũng liên kết với một sự sản xuất gia tăng các radicaux libres. Thủy tinh thể là yếu tố đầu tiên phát hiện sự lão hóa của mắt : nó cứng lại, phồng lên và mờ đục, gây nên những biến đổi thị giác không thể tránh được cho tất cả mọi người.
Sự cứng lại và sự phồng lên của thủy tinh thể, liên kết với một sự mất mềm mại của các cơ điều tiết của mắt, dẫn đến một sự giảm thị giác gần (vision de près). Bắt đầu từ 40 tuổi, phải duỗi tay ra để đọc và tay trở nên quá ngắn để có thể đọc một cách thoải mái.” Vô ích chờ đợi lâu như vậy, có nhiều giải pháp để điều trị chứng lão thị “, GS Philippe Denis, chủ tịch Hiệp hội nhãn khoa Pháp và trưởng khoa mắt thuộc bệnh viện Croix-Rousse (Lyon) đã nhắc lại như vậy. Khi không có một rối loạn thị giác nào khác, dùng kính để đọc và những hoạt động đòi hỏi sự chính xác có thể là đủ. Đối với những người cận thị (nhìn xa kém), viễn thị (những vật càng mờ khi càng đến gần) và lão thị (méo mó thị giác gây nên một sự biến dạng những hình ảnh được cảm nhận), phải thêm sự điều chỉnh chứng lão thị vào những kính mà họ đã sử dụng. Chứng lão thị tiến triển trong 10 đến 15 năm, cần một sự thích ứng điều chỉnh mỗi 3 đến 5 năm, nhưng nói chung ổn định vào khoảng 60 tuổi.
Trong 90% các trường hợp, các bệnh nhân chọn kính và lentille de contact, nhiều tiêu cự (multi-focale) hay có thể thay đổi. Những lentille này từ nay có một gamme de solutions de mang lại một sự thoải mái tối đa. Vài bệnh nhân từ nay chọn monovision : một lentille được đặt trong một mắt duy nhất cho phép điều chỉnh chứng lão thị. Sự điều chỉnh thị giác nhìn xa, nếu cần, có thể được thực hiện trong mắt kia, nói chung mắt trội (oeil dominant), mắt dùng để nhắm. Não khi đó học phối hợp một cách nhanh chóng những thông tin được cung cấp bởi hai mắt để tái tạo một hình ảnh hoàn hảo ở tất các những khoảng cách. Monovision cũng có thể được áp dụng bởi chirurgie réfractaire, cho phép biến đổi thủy tinh thể để điều chỉnh nhiều khuyết tật thị giác.” Tuy nhiên ngoại khoa khúc xạ vẫn ít được đòi hỏi ở Pháp đối với lão thị hơn đối với cận thị “, GS Denis đã chỉ rõ như vậy.
Sự mờ đục của thủy tinh thể (bệnh cataracte), nếu không liên kết với chứng lão thị, xảy ra chậm hơn và những hậu quả của nó được cảm thấy sau 60 tuổi. Ở tuổi 65 cứ 5 người thì có một bị đục thủy tinh thể và sau 85 tuổi cứ ba người thì có một. ” Bệnh có thể dẫn đến mù lòa nhưng trong những nước có một bảo hiểm y tế tốt như nước Pháp, bệnh được điều trị ngay trước khi thị lực bị suy sụp “, GS Béatrice Cochener, chủ tịch của Viện hàn lâm nhãn khoa Pháp đã ghi nhận như vậy.
Bệnh nhân kêu bị nhìn đôi (dédoublement de vision), được cảm thấy ngay cả với chỉ một mắt, có cảm giác mang thường trực những kính bẩn hay không chịu được những ánh sáng mạnh. Khi sự khó chịu trở nên quá quan trọng, ngoại khoa là giải pháp duy nhất : nó cho phép thay thế nhân bị mờ đục của thủy tinh thể bằng một implant nhân tạo để phục hồi một thị giác rõ ràng.
Gần một triệu phẫu thuật bệnh đục thủy tinh thể được thực hiện mỗi năm ở Pháp, một con số gia tăng hằng định từ 20 năm nay nhờ sự đưa vào kỹ thuật laser, cải thiện sự chính xác của động tác và làm giảm những biến chứng. Thủy tinh thể được cấy (implanté) cũng có thể điều chỉnh những khuyết tật thị giác khác : thật vậy ngày càng nhiều các bệnh nhân quyết định lợi dụng sự can thiệp này để khỏi phải mang kính.
(LE FIGARO 12/10/2014)

2/ KHÔ MẮT : MỘT BỆNH MÃN TÍNH CỦA MẮT GIÀ.
” Khô mắt chiếm 1/4 những trường hợp khám thầy thuốc nhãn khoa, GS Pierre-Jean Pisella, trưởng khoa mắt của CHU de Tours, đã nhắc lại như vậy. Tuy nhiên khô mắt thường xảy ra hơn lúc lớn tuổi, đặc biệt ở những phụ nữ sau mãn kinh.” Bệnh nhân kêu bị rát, cảm giác kim châm, cảm giác bị một hạt sạn trong mắt, mắt bị đỏ hay, một cách nghịch lý, chảy nước mắt. Thật vậy, sự kích thích mắt quá khô có thể dẫn đến một sự sản xuất quá nhiều nước mắt, nhưng không giải quyết vấn đề cơ bản.
NHỮNG BIẾN ĐỔI KÍCH THÍCH TỐ.
Sự lão hóa, và đặc biệt những biến đổi kích thích tố liên kết với tuổi tác ở phụ nữ, gây nên đồng thời một sự giảm thể tích nước mắt và một sự biến đổi thành phần mỡ của nó : nước mắt bốc hơi nhanh hơn và không làm trơn mắt đủ. Còn các mí mắt, mất đi tính mềm mại, đầy cáu ghét và viêm nhiễm dễ dàng hơn : chúng không còn đóng tốt vai trò bảo vệ và loại bỏ bụi bặm. ” Sự phối hợp của một viêm mí mắt (blépharite) và một meibomite, viêm xảy ra ở các mí mắt và cac tuyến nước mắt, được nhận thấy ở 60 đến 80% những người già và gây khô mắt mãn tính”, GS Pisella xác nhận như vậy.
Điều trị nhằm thay thế và/hoặc làm phong phú nước mắt không hiệu quả, bằng những thuốc nhỏ mắt, càng phải nhỏ thường xuyên khi mắt càng khô, cho đến 10 đến 15 làn mỗi ngày : ” Ngay khi ta ngừng điều trị, những triệu chứng tái xuất hiện : bệnh nhân thường có cảm giác rằng điều trị không có hiệu quả, GS Pisella đã kể lại như vậy. Thế nhưng đó là điều trái lại : điều trị có tác dụng rất tốt bởi vì nó loại bỏ sự khó chịu, phải giải thích rõ điều đó với bệnh nhân.Vô ích phải thăm khám nhiều lần : sự khô mắt do tuổi tác không thể chữa lành, do đó điều trị phải được thực hiện suốt đời.” Tốt hơn là sử dụng những thuốc giọt không có chất bảo quản (conservateur), bởi vì những chất này có tính chất kích thích trong thời gian dài hạn. Những thuốc giọt thay thế (collyre de substitution) này có thể được phối hợp với những điều trị đặc biệt nhắm vào các mí mắt. Trong vài trường hợp, có thể đặt những bouchon lacrymal để tránh chảy nước mắt quá mức, vì như thế không đủ để làm trơn mắt và rửa quá nhanh những thuốc được nhỏ vào.
(LE FIGARO 12/10/2014)

3/ GLAUCOME VA DMLA : CẦN THEO DÕI SÁT.
” Sự thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge) lấy mất khả năng đọc, nhưng không gây mù lòa”, GS Béatrice Cochener, chủ tịch của Viện hàn lâm nhãn khoa Pháp đã nhắc lại như vậy. DMLA tác động lên hoàng điểm (macula), một vùng trung tâm của võng mạc chịu trách nhiệm sự nhìn rõ (vision fine) và thị giác màu sắc (vision des couleurs). DMLA làm biến dạng sự nhìn gần (vision de près) : những đường bị cong lên và những vùng bóng tối (zone d’ombre) xuất hiện, những dấu hiệu cần phát hiện bằng cách nhắm một mắt vì lẽ DMLA không ảnh hưởng hai mắt cùng nhịp độ. ” Sự nhìn đen và trắng (vision en noir et blanc) không bị ảnh hưởng. Vài bệnh nhân còn phân biệt những pellicule trên một blazer foncé “, GS Cochener đã nói thêm như vậy.
DMLA hiện hữu dưới dạng khô (forme sèche), khi sự khiếm khuyết đổi mới biểu mô sắc tố tạo nên những vết sẹo trên võng mạc và dưới dạng ướt (forme humide), khi nhiều huyết quản nhỏ được tạo thành trên võng mạc. Những thuốc chống phát sinh mạch máu (angio-genèse), tác dụng ngăn cản sự tạo thành những huyết quản nhỏ này, đã xuất hiện mới đây và cho phép làm chậm lại tiến triển của dạng ướt. Chưa có một điều trị nào đối với dạng khô, nhưng nhiều kỹ thuật phục hồi chức năng cho phép học cách sử dụng thị giác ngoại biên (vision périphérique), còn nguyên vẹn, để tiếp tục thực hiện nhiều công việc của đời sống hàng ngày, và ngay cả đọc nhờ những công cụ như những tablettes numériques.
Sự lão hóa bất thường khác, glaucome. ” Glaucome có thể được ngăn ngừa dễ dàng khi nó được phát hiện trước nhưng khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên, GS Cochener đã nhắc lại như vậy. Một khi các triệu chứng xuất hiện, sự mất thị giác là không thể đảo ngược được : glaucome vẫn là một nguyên nhân quan trọng gây mù lòa trong vài vùng của nước Pháp.” Nó xuất hiện chủ yếu bắt đầu từ 50 tuổi nhưng nguyên nhân của glaucome, một áp lực áp lực nội nhãn quá quan trọng, đè bẹp và phá hủy những sợi của dây thần kinh thị giác, có thể được phát hiện ngay trước đó và được điều trị để tránh mọi hậu quả lên thị giác.
CAN THIỆP BẰNG LASER.
Glaucome mãn tính góc mở, thường nhất là do sự lăo hóa, xảy ra vì sự chảy của thể dịch (humeur aqueuse) qua trabéculum bị vấn đề. Đường thông thương bé nhỏ này (qua đó thể dịch chảy qua), nằm ở góc của mống mắt và có tác dụng như bộ phận lọc, có thể bị tắc nghẽn với thời gian. Thường nhất, những thuốc được nhỏ vào mắt đủ làm gia tăng sự thông thương hay làm giảm sự sản xuất của thể dịch. Những thuốc này phải được nhỏ đều đặn và suốt đời, một điều trị đôi khi khó tuân thủ đứng trước một căn bệnh không có những dấu hiệu có thể thấy được nhưng với những hậu quá nghiêm trọng. Nếu các thuốc nhỏ không đủ, hay không chịu được, một can thiệp bằng laser à lumière pulsée hay bằng phẫu thuật có thể được thực hiện.
Bệnh glaucome ngày nay xảy ra cho khoảng 1 triệu người ở Pháp, trong đó một bộ phận không hay biết vì thiếu điều tra phát hiện đủ. ” Giải quyết một chứng lão thị mới nảy sinh bằng cách chỉ mua những kính loupe, đó là một ý tưởng rất xấu : vào lúc đó, một thăm khám là phương tiện tốt nhất để phát hiện rất sớm một bệnh glaucome đang thành hình “, GS Denis đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 12/10/2014)

4/ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI GLAUCOME ĐANG TIẾN TRIỂN.
Tin vui ! Ta hiểu tốt hơn những nguyên nhân của bệnh mắt trầm trọng này và ta biết điều trị tốt hơn với những thuốc nhỏ mắt hiệu năng và những điều trị cải tiến bằng siêu âm.
Thay đổi phương hướng trong nghiên cứu về bệnh glaucome, căn bệnh của mắt hủy hoại dây thần kính thị giác (nerf optique). Sau cùng thay vì chỉ điều trị những triệu chứng bằng những thuốc nhỏ mắt, các nhà nghiên cứu tấn công vào…những nguyên nhân. Chính ở Viện thị giác (Institut de vision) ở Paris, mà các chuyên gia của Inserm để lưu tâm đến một vùng rất nhỏ của mắt, trabéculum, một mô được cấu tạo với những sợi chằng chịt với nhau. Trabéculum có nhiệm vụ lọc chất dịch trong nhãn cầu, thủy dịch (humeur aqueuse). Thủy dịch có nhiệm vụ bảo vệ và nuôi dưỡng thủy tinh thể và giác mạc. Nếu trabéculum bị biến thái, chất dịch này không thể chảy qua một cách đúng đắn. Và áp lực nội nhãn gia tăng, gây glaucome được gọi là góc mở (glaucome à angle ouvert), thường gặp nhất ở Pháp (90%), được đặc trưng bởi một thị trường bị biến đổi.
Các nhà nghiên cứu đã quan sát rằng trong trường hợp bị glaucome, những tế bào của trabéculum có số lượng ít hơn so với một mắt lành mạnh, điều này giải thích tại sao chức năng lọc bị hỏng. Những kíp nghiên cứu của Inserm, được lãnh đạo bởi GS Christophe Baudouin, trưởng khoa ngoại nhãn thuộc hôpital des Quinze-Vingts (Paris) đã tập trung nghiên cứu những phân tử của viêm, có nhiều trong trabéculum của các bệnh nhân, những chimiokine. Kíp đã nhận diện những thụ thể của những chimiokine này, CXR3, và tự hỏi về vai trò của nó trong sự thoái biến của trabéculum và sự liên hệ của nó trong những biến đổi tế bào được quan sát. Sau đó, ở chuột ; các nhà nghiên cứu đã làm bất họat thụ thể này. Kết quả : áp lực nội nhãn đã giảm nhanh chóng ! ” Như thế chúng tôi đã chứng minh rằng chức năng lọc của trabéculum có thể được phục hồi, điều này đã bảo vệ thị giác của các con chuột trong nhiều năm “, BS Alexandre Denoyer, tác giả đầu tiên của công trình được công bố trong tạp chí Plos One (2012). Từ đó vị thầy thuốc đồng thời là nhà nghiên cứu này đặt mục tiêu kiểm tra giả thuyết này ở người, ngay khi những thử nghiệm có thể bắt đầu, có lẽ vào năm 2015. Từ nay đến khi có những kết quả đầu tiên, không ai có thể cấm ta mơ tưởng : nếu một ngày nào đó một chất chống CXR3 có hiệu quả có thể được tìm thấy, ta sẽ có thể ngăn ngừa bệnh glaucome bằng cách cho nó trước khi bệnh phát khởi. Trong lúc chờ đợi, các nhà khoa học tập trung vào những thuốc nhỏ mắt, những giọt thuốc được đưa trực tiếp vào trong mắt. Rất nhiều sản phẩm, khoảng hơn 50, được thương mãi hóa, vài loại có chất căn bản prostaglandine, những kích thích tố làm gia tăng sự bài xuất của thủy dịch, những loại khác có chất cân bằng beta bloquant, làm giảm sự bài tiết thủy dịch.
” Những thuốc chứa prostaglandine, hiệu năng hơn, rất được kê đơn nhưng những phối hợp thường hữu ích và bổ sung cho nhau”, GS Philippe Denis, trưởng khoa mắt thuộc hopital de la Croix-Rousse (Lyon) và chủ tịch của Société française du glaucome, đã bình luận như vậy. Tính hiệu quả của chúng được ước tính khoảng 80%. 20% trường hợp thất bại được điều trị bằng laser, phẫu thuật hay mới nhất bằng kỹ thuật siêu âm. Nhưng sự sử dụng chúng rất nặng nề : thật vậy thuốc phải được nhỏ mỗi ngày. Một protocole quá bó buộc đến độ cứ 4 bệnh nhân thì một ngừng điều trị ngay khi hết lọ thuốc đầu tiên, theo một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ.
MỘT CAPSULE NANOMETRIQUE ĐƯỢC TIÊM VÀO KẾT MẠC
Do đó những kíp nghiên cứu, ở châu Á và ở Hoa Kỳ, nghiên cứu những thiết bị cho phép dùng ba tháng một lần. Bằng cách sử dụng, như Ocular Therapeutic Engineering Centre (OTEC) của Université technologique de (Songapour) đã làm, một capsule có kích thước một nanomètre (un milliardième de mètre) để tiêm vào trong kết mạc, màng che phủ một phần của mắt.
Được đặt tên là LipoLat, capsule phóng thích một cách tự động một dung dịch điều trị trong nhiều tuần. Ở bên kia Đại Tây dương, start-up pSivida Corps đã nghĩ ra một thiết bị tương tự, được mệnh danh là Durasert, bằng silicone biodégradable. Những thử nghiệm đang còn rất sơ bộ và chỉ được thực hiện trên khoảng 10 bệnh nhân bị một thể đặc biệt nghiêm trọng của bệnh. Nhưng những thử nghiệm này mở ra một hướng nghiên cứu để cải thiện cuộc sống hàng ngày của bệnh nhân.
Các nhà nghiên cứu cũng tìm cách để làm giảm độc tính của những sản phẩm được sử dụng, trong đó những tác dụng tại chỗ đã bị đánh giá thấp. Thật vậy, phần lớn các chất bảo quản (conservateur) được thêm vào những thuốc nhỏ mắt để tránh sự phát triển của các vi khuẩn và nấm có thể có hại trong thời gian dài hạn đối với mắt, và gây rát hay một cảm giac mắt khô. Sự sử dụng chúng đều đặn làm dễ vỡ bề mặt của mắt và làm cho nó dễ phát triển một viêm tại chỗ có thể trở thành mãn tính.
Kíp của GS Baudouin đã phát hiện độc tính của một chất bảo quản, chlorure de benzalkonium. Một công trình từ đó khiến các nhà công nghiệp phát triển những lọ thuốc nhỏ một liều (flacons unidose) (chứa một liều duy nhất) không có chất bảo quản. ” Những chiến lược nghiên cứu của các phòng xét nghiệm cũng đã tiến triển, BS Denoyer đã nhấn mạnh như vậy. Sau tính hiệu quả (efficacité), sự dung nạp (tolérance) đã trở thành mục tiêu chính.” Tuy nhiên, những cải tiến này khó hiệu chính bởi vì ” vai trò của các chất bảo quản không chỉ nhằm khử trùng mà còn làm ổn định về mặt hóa học những thuốc nhỏ mắt”, nhà nghiên cứu nói tiếp. Điều này đã làm chậm rất nhiều công tác nghiên cứu.
MỘT THUỐC NHỎ MẮT KHÔNG CÓ CHẤT BẢO QUẢN ĐƯỢC THƯƠNG MÃI HÓA Ở PHÁP.
Chỉ bắt đầu tư năm nay, ở Pháp, thuốc nhỏ mắt đầu tiên, có chất cơ bản prostaglandine nhưng không có chất bảo quản (conservateur), được thương mãi hóa bởi các phòng bào chế Thea, dưới tên Monoprost. Xí nghiệp dược phẩm này của Pháp đã hiệu chính một thiết bị, Abak, nằm bên trong lọ thuốc, có tác dụng giữ lại chất bảo quản đồng thời phóng thích giọt chứa hoạt chất. Những thiết bị khác, như Comod, cũng đã ra đời.
Một hướng điều trị sau cùng vẫn còn bỏ ngõ nhưng hiện nay đã không cho những kết quả chứng thực : đó là gìn giữ hay sửa chữa một cách trực tiếp dây thần kinh thị giác. ” Sự thoái hóa của dây thần kinh thị giác, do áp lực quá mức tác động trong mắt, phải là một hướng nghiên cứu chủ yếu”, BS Denoyer đã nhắc lại như vậy. Mặc dầu nhiều chất bảo vệ thần kinh đã là đối tượng của những công trình nghiên cứu, nhưng hiếm có những thử nghiệm lâm sàng được tiến hành về những chất chống lại glutamate, chất trung gian thần kinh (neuromédiateur) xuất hiện quá nhiều trong bệnh glaucome. Nhưng những thử nghiệm này phần lớn đã gây thất vọng. Tuy vậy, đây là vấn đề khẩn cấp. Khi một khiếm khuyết thị giác được phát hiện vào lúc chẩn đoán, phần lớn những sợi thần kinh võng mạc đã bị phá hủy. Thế mà ở giai đoạn này, hiện nay không có một điều trị nào cho phép phục hồi thị lực.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2014)

5/ GLAUCOME : SIÊU ÂM LÀM HẠ ÁP LỰC NỘI NHÃN
Kỹ thuật này dành cho những glaucome được gọi là bất trị, không đáp ứng với những điều trị khác.
Phẫu thuật hay laser được dùng đến trong trường hợp thất bại của những điều trị bằng thuốc nhỏ mắt. Cả hai tác động lên trabéculum, được cấu tạo bởi những sợi chằng chịt với nhau, có nhiệm vụ lọc thủy dịch (humeur aqueuse) của mắt. Mắt glaucome có thể được điều trị một cách vi xâm nhập bởi thầy thuốc ngoại khoa, thực hiện những đường xẻ rất mảnh. Hay trabéculum có thể được đâm thủng bởi những lỗ rất nhỏ (micro-trous) bằng laser, có thể được lập lại, để làm hạ áp lực nội nhãn. Tiến bộ mới nhất dựa trên một phương pháp khác, nhờ đến những siêu âm điều tiêu có cường độ cao (High Intensity Focused Ultrasound) và được gọi là UC3 (cyclocoagulation circulaire par ultrasons).
” Kỹ thuật siêu âm này cho phép làm đông thể mi (corps ciliaire), cơ quan sản xuất thủy dịch, điều này làm giảm sự sản xuất nó một cách bền lâu, GS Jean-François Roland, trưởng khoa mắt của Lille, người đã tham gia vào những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên, đã xác nhận như vậy. Kỹ thuật này (EyeOP1), được hiệu chính bởi công ty EyetechCare, đang còn được hợp thức hóa. Hiện nay kỹ thuật này được dành cho những glaucome được gọi là đề kháng (glaucome réfractaire), nghĩa là những glaucome không đáp ứng với cả laser lẫn phẫu thuật.” Động tác có thể được thực hiện ngoại trú (không nhập viện), với gây tê tại chỗ, nhờ một thiết bị được cấu tạo bởi một sonde chỉ dùng một lần, được đặt trên mắt của bệnh nhân và được nối với một module de commande được thao tác bởi người thực hiện.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2014)

6/ LENTILLE DE NUIT CHỐNG LẠI CHỨNG CẬN THỊ
Bằng cách làm bẹt giác mạc, các lentille điều chỉnh thị giác cho ngày hôm sau và cho phép làm chậm lại sự tiến triển của chứng cận thị ở vài trẻ em.
OPHTALMOLOGIE. Mang các lentille vào ban đêm để thấy một cách đúng đắn vào ngày hôm sau. Đó là một khả năng ngày càng được xem trọng bởi các tahy thuốc nhãn khoa, với những công trình nghiên cứu mới tán trợ những lentille d’orthokératologie.
Những lentille cứng này, được mang trong khi ngủ, làm dẹt nhẹ giác mạc để điều chỉnh độ cong. Điều đó cho phép điều chỉnh chứng cận thị cho ngày hôm sau mà không cần phải mang kính. Nhưng hiệu quả chị tạm thời : giác mạc sau đó trở lại hình dạng tự nhiên, điều này buộc phải mang lại mỗi đem những lentille đặc biệt này.
Kỹ thuật này hiện hữu từ những năm 1960 và đã phát triển sau những năm 1990, đặc biệt ở châu Á và Hoa kỳ. Đến Pháp năm 2002, những lentille de nuitchi chiếm 1 đến 2% những trường hợp sử dụng lentille. ” Trước hết đó là một vấn đề dịch tễ học và văn hóa. Khoảng 90% những người dưới 18 tuổi bị cận thị ở Hongkong, so với hơn 30% ở Hoa Kỳ và hơi ít hơn ở Pháp. Vả lại, chúng tôi nắm rất tốt phẫu thuật cấn thai và có một công nghiệp kính đeo rất hiện diện ở Pháp. Như thế có thể nói orthokératologie là một marché de niche ở đây”, BS Florence Malet, thầy thuốc nhãn khoa ở Bordeaux và cựu chủ tịch của Société française de contactologie (SFOALC) và của Société européenne de lentilles de contact (ECLSO) đã giải thích như vậy.
” Những lentille de nuit này hữu ích cho những kẻ có một cận thị trung bình (dưới -5 dioptries, và không chịu được những lentille de jour, những vận động viên thể thao hay những người không thể áp dụng phẫu thuật”, BS Adrien Sarfati, thầy thuốc nhãn khoa thuộc Hotel-Dieu (Paris), và đồng tác giả của công trình nghiên cứu đầu tiên nhằm đánh giá những lentille de nuit này ở Pháp vào năm 2012.
Những lentille d’orthokératologie cũng cho phép làm chậm lại tiến triển của bệnh cận thị ở những trẻ em bị một bệnh cận thị nhẹ hay trung bình. Công trình nghiên cứu , được ti tiến n hành ở Hong kong giữa năm 2010 và 2012 trên hơn 100 trẻ em từ 6 đến 10 tuổi và có một cận thị từ -0,5 đến- 4 dioptries, đã cho thấy rằng những ortho-K (lentilles d’orthokératologie) làm giảm tiến triển của bệnh cận thị 43% so với mang kính điều chỉnh (lunettes correctrices).
Sự theo dõi được tiếp tục và những công trình nghiên cứu khác cố xác nhận tác dụng trong thời gian dài hạn hơn. Hai công trình nghiên cứu đang được tiến hành ở Trung Hoa trong những bệnh viện Bắc Kinh ở những trẻ em và thiếu niên. Maria Liu, optométriste ở bệnh viện Berkeley (Hoa Kỳ), đã bắt đầu vào tháng tám 2014 sự theo dõi 150 bệnh nhân tuổi từ 4 đến 20 để đánh giá tốt hơn lợi ích của những lentille này.
Trên thực hành, những lentille d’orthokératologie có một tuổi thọ khoảng 1 năm và phí tổn 250 đến 300 euro mỗi lentille. Sự sử dụng chúng cần những điều kiện vệ sinh nghiêm túc, và cần nhiều lần thăm khám lúc đầu đều trị để đảm bảo sự ổn định của lentille trên giác mạc và hiệu quả của nó. Ở Pháp, khoảng 150 thầy thuốc nhãn khoa được đào tạo bởi các nhà chế tạo để sử dụng chúng và được trang bị một topographe để thực thực hiện những lentille này ” sur mesure”, thích ứng một cách đặc thù với hình dạng của giác mạc.
” Một đứa trẻ mà chứng cận thị tiến triển nhanh có thể mất một dioptrie mỗi năm. Sự mang lentille d’orthokératologie có thể làm chậm nhịp độ này xuống còn 0,75 dioptrie trong ba hay bốn năm”, BS Adrien Sarfati đã đánh giá như vậy. Nhưng nhiều câu hỏi vẫn còn tồn tại : sự chậm lại này có được tiếp tục nhiều năm ? Những trẻ em nào hưởng lợi nhiều nhất ? Cận thị có bộc phát lại khi những lentille không còn được sử dụng nữa ?
Trong lúc chờ đợi, BS Florence Malet nhắc lại rằng nhiều yếu tố góp phần bảo vệ chống lại chứng cận thị. Đặc biệt ” dành nhiều thời gian ra ngoài, với một độ sáng tốt, trong thời kỳ mắt tăng trưởng.”
(LE FIGARO 5/12/2014)

7/ CẬN THỊ, VIỄN THỊ, LÃO THỊ : PHẢI CHĂNG LASER CÓ THỂ ĐIỀU CHỈNH TẤT CẢ NHỮNG KHUYẾT TẬT THỊ GIÁC ?

Professeur Yves Pouliquen
Ophtalmologiste
Membre de l’Académie naitionale de médecine

Từ gần 30 năm nay, ta biết rằng, ngoài những kính đeo hay những lentille de contact, ta có thể điều chỉnh những khuyết tật quang học (défauts optiques). Đó là một bó buộc mà ta có thể thoát khỏi bằng cách mổ mắt và chủ yếu bằng cách đẽo giác mạc (sculpter la cornée). Nhưng nhiều người cận thị, viễn thị hay lão thị từ lâu vẫn thận trọng trước khi nhờ đến ngoại khoa. Thật vậy, những phương pháp được đề nghị, trước hết bằng tay rồi dần dần nhờ đến laser, dường như quá hạn chế về mặt an toàn, độ tin cậy (fiabilité) hay khả năng có thể lập lại (reproductibilité).
Hôm nay, ngoại khoa khúc xạ (chirurgie réfractaire) đã trở nên một bộ môn riêng, có 30 năm nghiên cứu và hoàn thiện của các laser. Chỉ có lão thị, ảnh hưởng lên thị giác nhìn gần từ năm 45 tuổi, phải được xem xét riêng. Mặc dầu không thể được điều chỉnh một cách trực tiếp, tuy nhiên nó có thể được bù bằng phẫu thuật.
ĐIỀU ĐÓ HOẠT ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ?
Giác mạc (cornée) là mô trong suốt cho phép ánh sáng đi vào trong mắt. do những rayon de courbure, giác mạc tác động như một vật kính (objectif) bằng cách kiểm soát chủ yếu sự điều tiêu (focalisation) võng mạc. Bằng cách đẽo mô giác mạc, ta có thể thích ứng năng lực điều tiêu này và sửa chữa những khuyết tật. Phẫu thuật ko dài khoảng 15 phút. Mổ không đau. Một điều trị giảm đau phòng ngừa làm giảm cảm giác đau hậu phẫu tức thời. Trong phần lớn các trường hợp, mổ laser được thực hiện trên hai mắt trong cùng một buổi mổ, điều này cho phép phục hồi thị lực hai mắt rất nhanh, chỉ trong vài giờ.
Những chi định của một ngoại khoa khúc xạ bằng laser (chirurgie réfractaire au laser) chịu vài điều kiện. Ngoài những chống chỉ định hiếm (trong đó có thai nghén, chỉ tạm thời), hai mắt trước hết phải lành mạnh, nghĩa là không có một bệnh lý tiến triển nào. Sau đó khuyết tật thị giác phải được ổn định với sự ngừng tăng trưởng của mắt và không có loạn năng của phản xạ điều tiết. Cận thị ổn định giữa 20 và 26 tuổi, trong khi viễn thị, thường dao động và không được đánh giá đúng do một sự điều tiêu quá mức thường xuyên, ổn định hay được phát hiện thường nhất sau 40 tuổi. Sau cùng, vài điều kiện cơ thể học được đòi hỏi : giác mạc phải có một bề dày đủ và một hình dạng hoàn toàn đều đặn, mà thầy thuốc nhãn khoa kiểm tra bằng một examen topographique trước khi mổ.
Phẫu thuật laser tuy không thể hủy bỏ các kính đeo suốt đời, nhưng nó cho phép không mang kính trong nhiều năm. Người cận thị có lợi khi được mổ lúc còn trẻ vì có được một thời gian dài ổn định khúc xạ cho đến khi xuất hiện chứng lão thị. Người viễn thị thỏa mãn nhiều hơn với sự điều chỉnh khi năng lực điều tiết bị giảm sau 40 tuổi. Người loạn thị trưởng thành có thể hưởng ở mọi lứa tuổi phẫu thuật này. Còn về lão thị, chứng này có thể được điều chỉnh bởi phẫu thuật laser nếu không có đục thủy tinh thể. Bằng cách tạo một profondeur de champ, ta cải thiện thị giác nhìn gần mà không phải điều chỉnh, đồng thời gìn giữ nhìn một thị lực nhìn xa tốt.
Ở người cận thị, thường nhất ta chọn một kỹ thuật monovision (hay bascule), mắt trội (oeil prédominant) được điều chỉnh để nhìn xa rõ, mắt không trội (oeil non prédominant) được để cận thị nhẹ để nhìn gần không cần điều chỉnh. Ở người viễn thị, điều trị laser cho phép có được một thị giác tốt với hầu như tất cả những khoảng cách. Ở người không có một bất thường khúc xạ nào và thấy xa rất rõ, phẫu thuật laser của lão thị tế nhị hơn, vì mọi sự cải thiện thị giác nhìn gần có thể được thực hiện với sự thiệt hại của thị giác nhìn xa.
ĐẼO MÔ
Với dục thủy tinh thể (cataracte), phẫu thuật thủy tinh thể (chirurgie du cristallin) và sự thay thế nó bằng implant thay thế cho sự sử dụng laser. Chính vài trò của thầy thuốc nhãn khoa là đề nghị và giải thích chiến lược điều trị thích ứng nhất với mỗi trường hợp đặc biệt. Đôi khi một sự phối hợp giữa những thầy thuốc nhãn khoa, những biologiste, những kỹ sư, những nhà vật lý quang học và những nhà công nghiệp cho phép giải quyết một số vấn đề một cách nhanh chóng và biến đổi một động tác ngoại khoa ban đầu bằng tay bằng một sculpture tissulaire au laser với độ chính xác vô song, trong những điều kiện đặc biệt nhanh chóng và thoải mái đối với bệnh nhân. Chúng ta có được điều đó là nhờ năng lực vật lý của các laser hiện nay và sự thành thạo của người điều khiển nó.
(LE FIGARO 8/9/2014)

8/ TẠI SAO KHÔNG NÊN LƠ LÀ VIỆC THĂM KHÁM THẦY THUỐC NHÃN KHOA ?
Đối với những người mang kính hay lentilles, một thăm khám đều đặn cho phép phát hiện vài bệnh của mắt.
OPHTALMOLOGIE. Khủng hoảng kinh tế, tiền bồi hoàn bảo hiểm y tếkhông đủ hay những thời hạn quá quan trọng để lấy hẹn ở thầy thuốc chuyên khoa mắt là bấy nhiêu những lý do khiến những người Pháp càng ngày càng trì hoãn thời điểm thay đổi kính đeo. Theo một thăm dò Ipsos được thực hiện cho nhóm Krys, 2/3 các thầy thuốc nhãn khoa nói là gặp phải hiện tượng này. Hiện nay, một người Pháp thay đổi kính đeo (verres de vue) mỗi 3,2 năm, nhưng thời hạn này còn có thể kéo dài. Thật vậy, trong khung cảnh của loi consommation, các nghị sĩ vừa thông qua một amendement nhằm kéo dài thời hạn có giá trị của các ordonnances de lunettes từ 3 lên 5 năm.
Một biện pháp khiến các chuyên gia lo ngại. Họ ước tính rằng 12% những bệnh nhân của họ có nguy cơ chịu những vấn đề nghiêm trọng do một theo dõi sức khỏe mắt không đủ của họ. Thật vậy, sự thăm khám thầy thuốc nhãn khoa để được kê đơn thay kính cho phép phát hiện những bệnh lý khác âm ĩ hơn nhiều bởi vì không có triệu chứng. ” Cứ 10 bệnh nhân đến khám để thay kính, chúng tôi phát hiện ở 3 bệnh nhân những bệnh lý của mắt, đôi khi rất nặng.”, BS Jean-Bernard Rottier, chủ tịch của Nghiệp đoàn quốc gia của những thầy thuốc nhãn khoa Pháp đã giải thích như vậy.
Có phải vì vậy mà phải đi khám thầy thuốc nhãn khoa mỗi năm, như 29% những người Pháp hiện làm hay không ? Nhịp độ này đặc biệt được chỉ định đối với những trẻ em mang kính. ” Trong thời kỳ tăng trưởng, mắt gia tăng kích thước. Vậy phải theo dõi các trẻ em mỗi năm hay mỗi 18 tháng, GS Alain Pechereau, thuộc CHU de Nantes đã giải thích như vậy. Ở trẻ em, không thể có sự thay đổi kính mà không đi khám thầy thuốc, bởi vì ta phải kê đơn cho nó một thuốc giọt làm phong bế sự điều tiết.”
Ngoài trường hợp đặc biệt của các trẻ em, sự thăm khám hàng năm ở thầy thuốc chuyên khoa phần lớn là vô ích đối với đa số 31 triệu người mang lentille hay kính đeo. Bằng cớ, những đơn thuốc mang kính có giá trị ba năm, ngoại trừ chỉ định trái lại của của thầy thuốc chuyên khoa. Các thầy thuốc nhãn khoa đánh giá rằng kéo dài thời hạn này có thể có hại cho các bệnh nhân.
Thời hạn hợp lý năm giữa 2 và 5 năm, tùy theo người. ” Hiện nay, nếu anh lập lại đơn thuốc của anh một lần giữa hai lần thăm khám, anh được khám bởi một thầy thuốc nhãn khoa mỗi 5 năm. Nếu anh không có một vấn đề gì ở mắt vào lần khám cuối, thời hạn này vẫn hợp lý “, GS Catherine Creuzot-Garcher, trưởng khoa ở CHU de Dijon đã đánh giá như vậy.” Với một đơn thuốc có giá trị 5 năm anh có thể trong 10 năm không được đo áp lực nội nhãn hay khám đáy mắt “, GS Catherine Creuzot-Garcher lấy làm lo ngại, bởi vì vài bệnh lý có thể phát triển mà không có dấu hiệu nào có thể được phát hiện và bắt đầu làm tổn hại mắt ngay trước khi xuất hiện những triệu chứng.
Đó là trường hợp glaucome. Căn bệnh này, do một sự gia tăng áp lực nội nhãn, gây nên một thương tổn của dây thần kinh thị giác và thị trường. Hơn 2% những người trên 45 tuổi bị bệnh glaucome. Như thế ở Pháp 1 triệu người bị bệnh này. Khi được chẩn đoán sớm và được điều trị tốt, bệnh glaucome không tiến triển nữa và thị lực được ổn định. Nếu điều trị không được thực hiện, glaucome có thể tiến triển và nhiên hậu cản trở sự lái xe hay đọc. Do đó, đo đều đặn áp lực nội nhãn là điều có ích. ” Nếu anh mất 10 năm để chẩn đoán bệnh glaucome, anh sẽ làm hạ áp lực nội nhãn nhưng anh sẽ không phục hồi những tổn hại gây nên ở mắt “, GS Catherine Creuzot-Garcher đã cảnh báo như vậy.
Bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’age), căn bệnh thoái hóa ảnh hưởng vùng trung tâm của võng mạc, cũng tiến triển trong nhiều năm không triệu chứng trước khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện. DMLA gây bệnh ở 12% những người trên 65 tuổi và nếu được phát hiện sớm (nhất là nhờ soi đáy mắt) sẽ được điều trị tốt hơn.
Những khuyến nghị về một thảm khám đều đặn ở một thầy thuốc nhãn khoa cũng liên quan đến 9% những người mang lentille. Nhưng hiện nay, điều lo ngại các thầy thuốc nhãn khoa nhất, đó là sự cho phép mua lentille trên internet mà không được kiểm tra y tế thật sự.
” Các lentille không phải là những accessoire như các kính đeo, bởi vì chúng sẽ được đặt tiếp xúc với mắt “, GS Catherine Creuzot-Garcher đã nhấn mạnh như vậy.” Biến chứng mà chúng tôi lo sợ, đó là áp xe giác mạc (abcès de la cornée). Trong trường hợp tốt nhất, anh có thể thoát khỏi với một thị lực bị giảm, trong trường hợp xấu nhất anh sẽ mất con mắt của anh”, Gilles Reanrd, giám đốc khoa học của Société française d’ophtalmologie, đã cành cáo như vậy.
Mặc dầu những trường hợp vô cùng trầm trọng này cũng rất ít gặp, nhưng thường nhất chúng xảy đến ở những người trẻ. Các chuyên gia về mắt đặc biệt cành cáo chống lại những lentille cosmétique đã được bán không thăm khám y khoa.
(LE FIGARO 16/9/2013)

9/ NHỮNG THƯƠNG TỔN TỦY SỐNG : HY VỌNG CỦA NHỮNG TẾ BÀO TÁI SINH
BS Pierre-François Pradat, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, chercheur en neurosciences, bệnh viện Pitié-Salpêtrière, giải thích tác dụng của một điều trị mới, đã cho phép một sự phục hồi gây ngạc nghiên sau một thương tổn trầm trọng.
Hỏi : Những chấn thương của tủy sống là gì ?
BS Pierre-François Pradat. Nguyên nhân thường gặp nhất là một tai nạn đường xá ; nguyên nhân thứ hai, đâm đầu vào nước cạn. Vài nước, trong đó có Úc, ngay cả đã phát động những chiến dịch phòng ngừa về vấn đề này.
Hỏi : Tùy theo mức độ của các thương tổn, những hậu quả là gì ?
BS Pierre-François Pradat. Phế tật tùy thuộc vào định vị của các thương tổn. Nằm ở cổ, thương tổn gây liệt vận động và cảm giác ở 4 chi. Và nếu thương tổn quan trọng, đó là bại liệt hoàn toàn (tétraplégie). Khi tủy sống bị thương tổn ở vùng lưng (dorsal) hay thắt lưng, chính các chi dưới bị bại liệt. Tùy theo mức độ thương tổn, bệnh nhân sẽ khó bước hay sẽ hoàn toàn bị bại liệt hai chi (paraplégie).
Hỏi : Trong những trường hợp nào, ta có thể hy vọng phục hồi khả năng vận động ?
BS Pierre-François Pradat : Chấn thương gây thương tổn những sợi thần kinh truyền những thông tin phát ra từ não bộ đến các cơ để thực hiện những cử động và những thông tin truyền cảm giác. Trong trường hợp tủy sống bị đứt hoàn toàn, không có một khả năng phục hồi nào cả. Nhưng vẫn còn có hy vọng khi tủy sống chỉ đi đứt một phần.
Hỏi : Cho đến nay, ta điều trị nhung bại liệt một phần như thế nào ?
BS Pierre-François Pradat : Những buổi phục hồi chức năng chủ động với một kinésithérapeute được thiết lập để vận động tối đa các chi.
Hỏi : Những kết quả thu được với kinésithérapie là gì ?
BS Pierre-François Pradat : Những sợi thần kinh còn sống sót có khả năng tiếp tục chức năng của những tế bào bị phá hủy, trong một mức độ nào đó. Nhưng, để có được một kết quả, phải còn sót lại một tối thiểu vùng không bị thương tổn. Cơ chế tính dẻo (plasticité) này, rất từ từ, được kích thích bởi công tác phục hồi chức năng. Bất hạnh thay không phải chính những sợi thần kinh bị hủy hoại mọc lại một cách ngẫu nhiên, bởi vì khả năng này không hiện hữu ở tủy sống.
Hỏi : Ở Ba Lan, một thanh niên bị bại liệt cho đến tận thân mình vừa phục hồi sự vận động của các chi một cách bất ngờ với một điều trị mới. Nguyên tắc là gì ?
BS Pierre-François Pradat : Đó là một première, được thực hiện bởi một kíp nghiên cứu Ba Lan của bệnh viện Wroclaw. Điều trị chủ yếu nhằm sử dụng những tế bào tái sinh (cellules régénératrices) để có phép những sợi thần kinh bị cắt đứt mọc lại. Những công trình ở động vật đã cho thấy rằng một loại tế bào nào đó được trích từ các hành khứu (bulbe olfactif) của não có năng lực này. Trong điều kiện bình thường, những tế bào này, vốn có nhiệm vụ truyền cảm giác khứu giác (odorat), cũng có khả năng tái sinh và mọc lại, trái với những tế bào của tủy sống.
Hỏi : Ông có thể mô tả cho chúng tôi protocole ?
BS Pierre-François Pradat : Cần thực hiện nhiều can thiệp. 1. Ở não bộ, thầy thuốc ngoại khoa trích lấy một hành khứu (bulbe olfactif) rồi đem cấy những tế bào. 2. Ở tủy sống, thần thuốc lấy đi những di chứng sẹo (xơ hóa) ngăn cản sự mọc lại của các sợi thần kinh, rồi tiêm những tế bào của hành khứu vào vùng tủy sống bị thiết đoạn. 3. Sau cùng, một dây thần kinh được lấy ở một chi để tạo một chiếc cầu nối các đầu của tủy sống bị thiết đoạn.
Hỏi : Những kết quả của những cuộc mổ này ?
BS Pierre-François Pradat : 5 tháng sau can thiệp, người thanh niên này đã bắt đầu phục hồi cảm giác, rồi ở một mức độ nào đó, khả năng vận động của các chi. Trong năm sau đó, anh ta có khả năng đứng với một sự giúp đỡ, rồi bước với một déambulateur. Một sự phục hồi bất ngờ ở một bệnh nhân có tủy sống đã bị tổn hại nghiêm trọng như thế !
Hỏi : Ta có thể xác nhận rằng sự phục hồi này là do điều trị mới chứ không phải do công tác phục hồi cơ năng ?
BS Pierre-Franois Pradat : Hiện nay, ta không thể xác nhận điều đó. Sẽ phải xác nhận những kết quả này bằng những công trình nghiên cứu trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu hiện đang được thực hiện nhằm vào những hướng khác nào ?
BS Pierre-Franois Pradat : Một trong những hy vọng là ở ghép những tế bào gốc. Mục đích là tạo những neurone và những tế bào thần kinh này sẽ thiết lập những nối kết để thay thế những neurone đã bị phá hủy. Những kết quả đáng phấn khởi đã được chứng minh ở chuột. Sự ghép những tế bào gốc này có thể điều trị một thương tổn của tủy sống, sclérose latérale amyotrophique, căn bệnh gây bại liệt dần dần 4 chi.
(PARIS MATCH 11/12-17/12/2014)

10/ CHẨN ĐOÁN BỆNH ALZHEIMER TRƯỚC KHI XUẤT HIỆN NHỮNG TRIỆU CHỨNG ĐẦU TIÊN.Đó là một khám phá, khai trương rầm rộ tuần lễ não bộ (semaine du cerveau), được tổ chức ở Pháp từ mồng 10 đến 16 tháng ba 2014 : chẳng còn bao lâu nữa sẽ có thể chẩn đoán bệnh Alzheimer chỉ bằng xét nghiệm máu, nhiều năm trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên. Ý tưởng này có thể có vẻ nguy hiểm và vô ích, vì lẽ cho đến hôm nay, không có một loại thuốc nào khả dĩ dập tắt căn bệnh. Tuy vậy, chẩn đoán bằng xét nghiệm máu ở trong tầm tay của các thầy thuốc.
Thật vậy, một kíp nghiên cứu của đại học Georgetown ở Washington, được điều khiển bởi GS Howard Federoff, vừa công bố trong tạp chí quốc tế uy tín Nature Medicine, những kết quả đầu tiên của một trắc nghiệm đầy hứa hẹn.
Các nhà nghiên cứu đã lấy máu ở 525 những người trên 70 tuổi có sức khỏe tốt và đã kiểm tra họ mỗi năm trong 5 năm. Song hành, họ đã định lượng gần một trăm phân tử trong máu của những người này, chủ yếu là những biomarqueur phospholipide, những sản phẩm thoái biến của chuyển hóa neurone và lipide. Sau đó họ đã nhận thấy rằng khoảng một chục những chất chỉ dấu bị sụt giảm ở những người bị, vào cuối năm thứ ba, rối loạn nhận thức (trouble cognitif) nhẹ hay bệnh Alzheimer.
Sau đó họ đã xác định một ngưỡng phân biệt đối với 10 chất chỉ dấu sinh học này giữa những bệnh nhân không bị và những bệnh nhân phát triển những rối loạn. Giai đoạn tiếp theo nhằm kiểm tra trên một nhóm mới những bệnh nhân để xem sự tiên đoán có thể thực hiện hay không. Điều thận trọng sau cùng : đảm bảo tính hữu ích thực hành của trắc nghiệm. Thật vậy ta cho rằng một xét nghiệm chẩn đoán phải phát hiện đại đa số những bệnh nhân bị bệnh (tính nhạy cảm của xét nghiệm) nhưng cũng âm tính khi người được xét nghiệm không bị bệnh (tính đặc hiệu của xét nghiệm). Thế mà độ nhạy cảm và đặc hiệu của trắc nghiệm được phát triển ở Georgetown là 90%. ” Điều này gợi ý rằng chúng ta có thể sử dụng trắc nghiệm này vào lúc những bệnh nhân chỉ mới được xem như có nguy cơ bị bệnh “, GS Federoff đã giải thích như vậy. Nói một cách khác trước khi xuất hiện triệu chứng nhỏ nhất.
” Trong quá khứ đã có nhiều cố gắng để phát triển những loại thuốc nhằm biến đổi tiến triển của bệnh Alzheimer, GS Federoff đã nói thêm như vậy. Nhưng bất hạnh thay, tất cả những thuốc này đều thất bại.” Bởi vì những loại thuốc hiện có không cho phép chữa lành căn bệnh, nhiều nhất chúng làm chậm lại một cách khiêm tốn sự suy đồi nhận thức (déclin cognitif).” Nhưng có lẽ những thuốc này đã được trắc nghiệm không đúng lúc, trong khi căn bệnh đã được biểu lộ.”
Điều quan trọng của một trắc nghiệm chẩn đoán là thực hiện ở những bệnh nhân được xem như có nguy cơ cao phát triển bệnh trong những năm đến. Khi đó trở nên hợp lý khi đề nghị với họ thử một điều trị và có lẽ, GS Federoff đã hy vọng như vậy, ” làm chậm lại hay ngăn cản bệnh xuất hiện”.
Nếu tính hiệu quả của nó được xác nhận ở những công trình quy mô lớn hơn và trong những quần thể khác, khi đó trắc nghiệm này trở thành chìa khóa cho một loạt mới những thử nghiệm điều trị. Những chất chỉ dấu sinh học được đề nghị hiện nầy hoặc quá gò bó, hoặc không đủ hiệu năng để thực hiện những thử nghiệm quy mô lớn.
(LE FIGARO 11/3/2014)

Đọc thêm : Thời sự y học số 352

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(17/1/2015)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 361 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 490 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 508 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s