Thời sự y học số 603 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I. UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN : MỘT CHẨN ĐOÁN CHÍNH XÁC HƠN

Hỏi : Ông có thể nhắc lại tầm quan trọng của ung thư này ở Pháp ?
BS Jochen Walz. Ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate) là nguyên nhân thứ ba gây tử vong bởi ung thư ở người đàn ông (sau ung thư đại-trực tràng và ung thư phổi) với mỗi năm 9000 tử vong và khoảng 55.000 trường hợp mới. Nó là ung thư thường được chẩn đoán nhất trong lứa tuổi từ 65 đến 70. Những thể sớm (forme précoce), ngay 50 tuổi, hiện hữu. Sự nguy hiểm của ung thư này là, trái với adénome prostatique, im lặng trong thời gian lâu, không một dấu hiệu lâm sàng nào, ngoai trừ ở một giai đoạn tiến triển. Trái lại, vì đó là một bệnh tiến triển chậm, một nguy hiểm khác thường gặp là điều trị quá mức (surtraitement) các bệnh nhân, mà nguy cơ tiến triển trong thời gian dài hạn là thấp. Phân biệt hai kịch bản này là thiết yếu.

Hỏi : Trên phương diện chẩn đoán những tiến triển là gì ?
BS Jochen Walz : Sự định lượng hàng năm của PSA (antigène prostatique spécifique), marqueur cổ điển của ung thư tiền liệt tuyến, ngay ở tuổi 50 (và ngay cả 40 tuổi trong trường hợp tiền sử gia đình), vẫn là không thể tránh được, mặc dầu một nồng độ tăng cao không luôn luôn đồng nghĩa ác tính (PSA cũng tăng cao trong trường hợp nhiễm trùng hay viêm tiền liệt tuyến). Một sinh thiết được khuyến nghị nếu những xét nghiệm này gợi ý sự hiện diện của một ung thư. Hiệp hội niệu học châu Âu khuyên thực hiện một IRM trước khi thực hiện sinh thiết. IRM cần một sự thành thạo đặc biệt (IRM được gọi là paramétrique) và cần được dẫn đường bởi một thầy thuốc X quang chuyên gia. Nếu IRM được thực hiện tốt, nó cho phép, nhờ sự tinh tế của những hình ảnh hiện nay, gia tăng chất lượng chẩn đoán, cho một score de risque, hướng dẫn một cách chính xác hơn những sinh thiết và theo dõi một cách dễ dàng hơn trong lời gian dài hạn. Ưu điểm : 1. Những cơ may có thể nhận một điều trị hiệu quả cá thể hóa được gia tăng. 2. Nguy cơ điều trị quá mức (surtraitrement) được giảm bớt.

Hỏi : Khi nào thực hiện một sinh thiết và như thế nào ?
BS Jochen Walz : Thúc đẩy những thăm dò ở những bệnh nhân rất già và/hay mang những bệnh nền là không được biện minh bởi vì họ ít có khả năng chết do ung thư này. Những bệnh nhân này sẽ được theo dõi, ưu tiên là sự thoải mái trong cuộc sống của họ. Ngoài những trường hợp này, sinh thiết bắt buộc khi có chút ít nghi ngờ về ung thư (PSA tăng cao, thăm khám trực tràng sờ thấy một tiền liệt tuyến hóa cứng, IRM đáng ngờ). Sinh thiết được thực hiện bằng đường qua trực tràng (voei transrectale) hay qua đáy chậu (voie transpérinéale : xuyên qua da phủ sàn hội âm), với gây tê tại chỗ hay tổng quát và dưới sự che chở của một kháng sinh. Ưu điểm của đường qua đáy chậu là giảm nguy cơ nhiễm trùng, mặc dầu thấp : một sự duyệt xét 165 nghiên cứu, bởi Hiệp hội niệu học châu Âu, thu thập 162577 bệnh nhân, chỉ một tỷ lệ nhiễm trùng 0,1% bằng đường qua đáy chậu, so với 0;9% bằng đường qua trực tràng. Trên thực hành, những hình ảnh được thu thập qua IRM có thể được phối hợp với những hình ảnh được sinh ra bởi một siêu âm trong phòng can thiệp (salle interventionnelle), điều này cho phép hướng dẫn một cách chính xác những kim lấy mẫu sinh thiết trên những vùng nghi ngờ, trong khi trước đây những sinh thiết được thực hiện qua nhiều mũi kim mò mẫm (do đó 30 đến 40% âm tính giả). Sinh thiết cho phép phân tích mô của khối u, định rõ mức độ ác tính, qua những score được xác lập rõ (Isup và Gleason), cũng như thế tích của nó.

Hỏi : Điều đó thay đổi điều trị như thế nào?
BS Jochen Walz : 1. Nếu khối u có độ ác tính thấp (tumeur à faible agressivité), một sự theo dõi chăm chú được lên chương trình. Sự theo dõi này gồm một sinh thiết xác nhận (biopsie de confirmation) 6-12 tháng sau sinh thiết đầu tiên, một định lượng của PSA mỗi 6 tháng, một IRM mỗi 2 năm. Điều đó liên hệ gần 1/3 những bệnh nhân ! Chỉ 30 đến 50% trong số họ một ngày nào đó sẽ được điều trị bằng những phương pháp chữa lành (méthode curative) hiện nay bởi vì ung thư sẽ tiến triển. 2. Ung thư tức thì có một độ ác tính tăng cao hay đã trở thành như vậy sau một thời kỳ theo dõi : ba phương pháp chữa lành điều trị toàn bộ tuyến tiền liệt có thể được áp dụng, mỗi phương pháp với những ưu điểm và những bất tiện, cần được bàn bac voi thầy thuốc điều trị : prostatectomie totale (bằng nội soi ổ bụng hay tốt hơn bằng robot), curiethérapie locale (grains radioactifs được đưa vào tuyến tiền liệt nhờ échographie), ngoại xạ trị (radiothérapie externe). Vài trường hợp được chọn lọc (15%) có thể nhận một điều trị tại chỗ vi xâm nhập, tiêu hủy khối u (thí dụ bằng siêu âm cường độ cao hay laser, cryothérapie) trong tuyến tiền liệt mà không cần lấy nó đi. Những kỹ thuật này còn đang được đánh giá nhưng không loại trừ một chu kỳ theo dõi mới cũng như sự sử dụng về sau những điều trị chuẩn. Một điều trị cá thể hóa cải thiện chất lượng sống của các bệnh nhân và tiên lượng, nói chung là tốt.
(PARIS MATCH 24/3-30/3/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 448 : bài số 4 (dépistage), 5 (surveiller plutot que traiter)
– TSYH số 431 : bài số 5 (traitement ou surveillance ?), 6 (petit cancer), 8 (hormonothérapie et cancer métastatique)
– TSYH số 428 : bài số 6, 7 (IRM), 8 (cancer localisé et hémiablation)
– TSYH số 396 : bài số 2 (cancer de la prostate)
– TSYH số 350 : bài số 5
– TSYH số 307 : bài số 6 (cancer de la prostate précoce : surveillance)
– TSYH số 47 : bài số 5
– TSYH số 42 : bài số 4

II. XƠCỨNG RẢI RÁC : ĐIỀU TRỊ HIỆN NAY VÀ TRIỄN VỌNG
Thường nhất, sự điều trị sớm của căn bệnh làm chậm, thậm chí làm ổn định tiến triển của nó

PR Bruno Stankoff, responsible du centre de sclérose en plaques à l’hôpital Saint-Antoine, chef d’équipe (avec Pr Catherine Lubetzkià à l’institut du cerveau, hôpital Pitié-Salpêtrière, Paris

Hỏi : Ta xác định căn bệnh này như thế nào ? Tần số của nó ở Pháp ?
GS Bruno Stankoff. Đó là một bệnh viêm mãn tính, tấn công bao của các dây thần kinh của não bộ và của tủy sống tạo hệ thần kinh trung ương. Bao này là một màng được gọi là myéline. 1. Bao nyéline nuôi dưỡng và bảo vệ các sợi trục (axone) kéo dài các neurone, và cho phép sự truyền của luồng thần kinh. 2. Nó tăng tốc sự di chuyển của luồng thần kinh này. Khi myéline bị phá hủy bởi viêm (démyélinisation), sự truyền thần kinh bị biến đổi, neurone bị thương tổn, sinh ra những triệu chứng đa dạng tùy theo sự định vị của các thương tổn : vận động (yếu cơ), giác quan (thị giác), cảm giác (những biến đổi của sensibilité, đau), v..v..Bệnh xơ cứng rải rác thường nhất xuất hiện giữa 20 và 40 tuổi, và xảy ra ở ba phụ nữ đối với một đàn ông. Trong 85% các trường hợp, ở phụ nữ trẻ, bệnh tiến triển bằng những đợt viêm thoái triển. Trong những trường hợp khác, thường sau 40 tuổi và xảy ra ở phụ nữ bằng với đàn ông, bệnh tiến dần lên và có khả năng thoái hóa hơn. Ở Pháp bệnh xơ cứng rải rác xảy ra ở khoảng một trên 1000.

Hỏi : Ta có biết nguyên nhân và nhưng cơ chế của bệnh này ?
GS Bruno Stankoff. Virus d’Epstein-Barr, nhiễm 95% dân số, là một yếu tố mẫn cảm (facteur de susceptibilité) mạnh, tiềm năng nguyên nhân, nhưng không đủ, do đó số lượng hạn chế những người bị bệnh. Sự chiếu ánh sáng mặt trời (vitamine D) đóng một vai trò bảo vệ, bệnh thường gặp hơn trong những vùng phía Bắc. Một tố bẩm di truyền giữ một vai trò chủ chốt : trong khung cảnh của bệnh xơ cứng rải rác, yếu tố này kích thích vài tế bào miễn dịch của người bệnh (những tế bào lympho T và B) tổ chức sự tấn công vào myéline của chính mình, trong khi những tế bào khác (những lymphocytes suppresseurs) không còn ngăn cản nữa sự tấn công này như chúng phải là như vậy. Kết quả là một viêm phá hủy myéline. Điều này có thể thấy được nhờ IRM, xác nhận chẩn đoán và cho phép một sự theo dõi.

Hỏi : Ta điều trị bệnh như thế nào ?
GS Bruno Stankoff. Khoảng 15 loại thuốc, nhắm vào sự tấn công tự miễn dịch (l’agression auto-immune) có thể được sử dụng. Độ 1 : ta có những chất điều biến miễn dịch (immunomodulateur) làm giảm bớt sự kích hoạt của những tế bào lympho. Và ta có những chất suy giảm miễn dịch (immunosupresseur) nhẹ giam hãm chúng trong vị trí gốc của chúng (các hạch). Độ 2 (những thể hoạt động hơn) : ta nhờ đến hơn những liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée), dựa trên những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal). Những kháng thể này hoặc là chẹn lối vào của những tế bào tấn công (cellules attaqueuses) trong hệ thần kinh trung ương, hoặc là tiêu huỷ chúng trong một thời kỳ nhất định, hoặc một cách chọn lọc (thí dụ những antilymphocyte B). Những đợt viêm kịch phát được làm dịu đi bởi cortisone. Một sự lọc huyết tương (filtration du plasma) để loại bỏ vài độc chất hướng viêm (toxines pro-inflammatoires) có thể hữu ích. Duy trì một hoạt động vật lý, hay nếu cần một sự phục hồi chức năng cơ (rééducation musculaire) hay một điều trị những rối loạn cơ vòng hay tâm lý, là thiết yếu.

Hỏi : Những kết quả toàn bộ là gì ?
GS Bruno Stankoff : Trong những thể với những cơn bộc phát (formes à poussées), điều trị sớm hiện nay giảm tần số từ 1,5 mỗi năm (moyenne historique) xuống 0,2 hay 0,3 mỗi năm. Hiệu quả làm chậm lại này làm chậm tiến triển hướng về một forme progressive secondaire : thể tiến triển thứ phát này, sau 15 năm theo dõi, chỉ còn xảy ra ở 20% các bệnh nhân so với 50% trước đây. Vậy phần lớn những bệnh nhân này có thể có một cuộc sống gia đình và một cuộc sống nghề nghiệp bình thường, và những phụ nữ, một maternité bình thường. Còn những forme progressive, theo thời gian chúng chịu những tình trạng tàn phế (invalidités), mà những hậu quả làm giảm 7 năm hy vọng sống so với mức trung bình.

Hỏi : Ta có thể phòng ngừa bệnh này ?
GS Bruno Stankoff : Sự hiệu chính một vaccin phòng ngừa chống Epstein-Barr ở những người tố bẩm cũng như sự đánh giá vaccin lên căn bệnh sẽ cần một thời gian dài (15 đến 20 năm). Mục đích của équipe nghiên cứu của chúng tôi là phong bế thêm nữa sự viêm kéo dài và sữa chửa myéline. Những loại thuốc có khả năng đạt những mục tiêu này đã được nhận diện ; chúng ta biết đánh giá hiệu quả của chúng trong chụp hình ảnh tiến tiến. Bây giờ những quỹ cho những thử nghiệm lâm sàng là cần thiết
(PARIS MATCH 24/2-2/3/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 597 : bài số 2 (virus d’ Epstein-Barr et SEP)
– TSYH số 585 : bài số 8 (những triễn vọng mới)
– TSYH số 480 : bài số 7 (microbiote), 8 (biomarqueur)
– TSYH số 442 : bài số 6 (cellulules souches), 7
– TSYH số 441 : bài số 4 (tabac)
– TSYH số 440 : bài số 10 (les progrès)
– TSYH số 434 : bài số 5, 6 (IRM), 7 (điều trị bằng cellules souches)
– TSYH số 417 : bài số 6 (NDP-MSH)
– TSYH số 358 : bàisố 7
– TSYH số 322 : bài số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

III. LE VIRUS D’EPSTEIN-BARR PHÁT KHỞI XƠ CỨNG RẢI RÁC
Mối liên hệ giữa một nhiễm bởi virus Epstein-Barr và sự phát khởi của một xơ cứng rải rác, được nghi ngờ từ gần 40 năm qua, đã được xác nhận bởi équipe của Alberto Ascherio trong một nghiên cứu được công bố bởi tạp chí Science.

Hỏi : Ông đã chứng minh mối liên hệ nhân quả này như thế nào ?
Alberto Ascherio : Chúng tôi đã theo dõi 10 triệu người trưởng thành trẻ tuổi trong gần 10 năm, trong đó một số lượng lớn đã không có virus vào lúc đầu của nghiên cứu. Những người đã không bị nhiễm virus trong thời kỳ này đã không phát triển bệnh xơ cứng rải rác (SEP : sclérose en plaques), trong khi gần như tất cả những người được chẩn đoán xơ cứng rải rác đã bị nhiễm bởi virus Epstein-Barr. Như thế sự nhiễm bởi virus Epstein-Barr gia tăng gấp 30 lần nguy cơ bị xơ cứng rải rác. Tuy nhiên phải nhắc lại rằng 95% dân số thế giới mang virus này và rằng nhiễm virus không đủ giải thích sự xuất hiện của xơ cứng rải rác. Nhưng nó có một vai trò phát khởi.

Hỏi : Cơ chế giải thích mối liên hệ này ?
Alberto Ascherio : Có thể rằng đáp ứng miễn dịch chống lại Epstein-Barrlầm đích và tấn công những tế bào của não. Vậy không phải virus trực tiếp gây bệnh, nhưng hễ miễn dịch, vì cố chống lại nhiễm trùng, tấn công não bộ.

Hỏi : Khám phá của ông thay đổi gì trên mặt trận của bệnh này ?
Alberto Ascherio : Bây giờ chúng ta biết rằng một vaccin ngăn cản nhiễm virus Epstein-Barr cho phép tránh đại đa số những trường hợp xơ cứng rải rác. Chúng ta cũng có thể dự kiến một thuốc chống virus để điều trị những người đã bị nhiễm, bởi vì có thể rằng bằng cách loại bỏ virus, chúng ta sẽ có thể cải thiện điều trị bệnh xơ cứng rải rác và có lẽ ngay cả chữa lành bệnh này.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 597 : bài số 2 (virus d’ Epstein-Barr et SEP)

IV.CÓ 3 LOẠI BỆNH ALZHEIMER
Các nhà nghiên cứu xét lại approche của bệnh thoái hóa thần kinh này bằng cách phối hợp những nguyên nhân di truyền và môi trường.
Một modèle mới để hiểu hơn bệnh Alzheimer : đó là điều được đề nghị bởi một consortium de chercheurs, đi đến chỗ xét lại giả thuyết amyloide. Thường được chấp nhận, giả thuyết này coi là định đề rằng nguyên nhân của bệnh là một đợt không thể tránh được của những biến cố dẫn đến sự thoái hóa thần kinh (neurodégénérescence). Sự tích tụ của các protéine beta-amyloide thành các mảng dẫn đến sự gia tăng của những protéine tau, chúng làm thoái biến những neurone.
Chính cơ chế này được nhắm đến bởi thuốc đầu tiên chống bệnh Alzheimer, Aduhlem (aducanumab), được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ vào tháng sáu 2021. Trừ những lợi ích của Aduhlem đã tỏ ra hạn chế. Thuốc này đúng ra phải tỏ ra hiệu quả hơn nhiều, Giovanni Frisoni, giáo sư của đại học Genève (Thụy Sĩ) và đồng tác giả của một nghiên cứu trong Nature Reviews Neuroscience đã ghi chú như vậy. Ông đề nghị một sự xét lại quan niệm (révision conceptuelle): Alzheimer không phải là một, nhưng là ba bệnh với những động lực đặc thù.

GIẢ THUYẾT AMYLOIDE LIÊN QUAN 1% CÁC TRƯỜNG HỢP.
Giả thuyết về cascade amyloide chỉ được xác minh đối với những bệnh nhân của một sous-groupe thứ nhất (dưới 1% các trường hợp), có liên quan đến một biến dị gène di truyền nguồn gốc của cascade này. Hai loại Alzheimer khác phát ra muộn hơn và được phân biệt tùy theo sự hiện diện hay không của một sự biến dị của một gène khác, APOE. «Hai người trên ba mang biến dị này sẽ phát triển muộn, ít hay nhiều, những triệu chứng của bệnh, Giovanni Frisoni đã định rõ như vậy. Trong nhóm thứ ba không có biến dị gène này (30 đến 40% những trường hợp), sự phát triển bệnh lại còn ít có thể dự kiến hơn : cascade amyloide bị ảnh hưởng bởi một phối hợp các yếu tố (di truyền, môi trường) phức tạp hơn. Theo các nhà nghiên cứu, tính đến những khác nhau này cho phép xây đựng những điều trị đặc hiệu với những cơ may thành công tốt hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 526 : bài số 8
– TSYH số 511 : bài số 5
– TSYH số 490 : bài số 5
– TSYH số 470 : bàisố 7 (dépisage par prise de sang)
– TSYH số 450 : bài số 5 (stade asymptomatique), 6 (piste d’insuline)
– TSYH số 434 : bài số 9
– TSYH số 415 : bài số 9 (piste infectieuse)
– TSYH số 381 : bài số 1 (risques), 2, 4, 6 (piste de la barrière hémato-encéphalique), 7 (espoirs thérapeutiques)
– TSYH số 340 : bài số 4 (stimulation magnétique transcranienne)
– TSYH số 377 : bài số1 (causes), 3 (stade asymptomatique), 8 (prévention), 10 (prévention)
– TSYH số 367 : bài số 5 (médicaments)
– TSYH số 361 : bài số 10 (signes avant-coureurs)
– TSYH số 360 : bài số 8 (diagnostic)
– TSYH số 359 : bài số 9 (thérapeutique)
– TSYH số 268 : bài số 6, 7

V. BỆNH NHÂN CHẾT SAU GHÉP TIM HEO

Không đủ điều kiện để ghép một trái tim người, một người Mỹ 57 tuổi suy tim giai đoạn cuối, đã nhận, 7/1/2022 ở trung tâm y tế của đại học Maryland, ở Baltimore, một trái tim heo, được biến đổi về mặt di truyền để không biểu hiện những protéine heo khả dĩ nhất dẫn đến một thải bỏ. Bệnh nhân chết hôm 8/3 : đó có phải là một phản ứng của hệ miễn dịch của bệnh nhân chống lại tim hay đó có phải là một sự không thích nghi huyết động của bệnh nhân này, ta chưa biết điều đó. Tuy nhiên vẫn còn hy vọng cho phép những ghép dị loại (xénogreffe: donneur là một động vật) để cứu chữa tình trạng thiếu greffons humains.
(PARIS MATCH 17-23/3/2022)
Đọcthêm : TSYH số 597 : bài số 1

VI. SỰ TRỞ LẠI MẠNH MẼ CỦA CÀ PHÊ
Là nguồn của các chất chống oxi hóa (antioxydant), nước uống này kiêm nhiệm những lợi ích dinh dưỡng, với điều kiện tiêu thụ nó với lượng vừa phải và không cho quá nhiều đường.

Expresso, long, décaféiné… Cà phê là một điểm hẹn không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của chúng ta. 62% những người Pháp dùng nó vào bữa ăn sáng và 47% lúc nghỉ trưa. Trong thời kỳ phong tỏa và télétravail, cà phê ngay cả đã nhận được sự ưa thích trở lại, về thể tích cũng như về giá trị. Doanh số của cafés torréfiés en grains đã gia tăng 38% giữa 2020 và 2021. Cà phê cùng đặt những hạt nhỏ trong smoothie và kombucha (coffbucha), một đồ uống được lên men từ một loại nấm cùng tên. Đó là không nói đến những khuynh hướng mới như cold brew, rất phổ biến ở châu Á, không khác gì hơn là một café hãm lạnh (infusé à froid), hay butter coffee (café au beurre) quyến rũ những người Mỹ từ vài năm nay.

Cà phê là lợi ích về nhiều mặt đối với sức khỏe, với điều kiện tiêu thụ nó với lượng vừa phải và không cho quá nhiều đường ! Để ghi nhớ, chỉ một cục đường tương đương 20 calories (đối với những khuyến nghị mỗi ngày từ 1800 đến 2200 calories ở phụ nữ và 2400 đến 2600 ở đàn ông).

Cà phê giàu chất chống oxi hóa (antioxydants)
Theo một nghiên cứu Nutri-net Santé, cà phê là nguồn thực phẩm của những người Pháp về polyphénols, những chất chống oxi hóa mạnh. Cà phê chiếm 36,9% (hoặc 317 mg/ngày đối với đàn ông và 298 mg/ngày đối với phụ nữ) của toàn thể của những cung cấp polyphénol mỗi ngày, so với 33,6% đối với sự tiêu thụ trà xanh hay đen, 10,4% và 6,7% đối với những tiêu thụ chocolat và trái cây. Những polyphénol dồi dào nhất trong cà phê là những acide chlorogénique (acide 5-caféoylquinique và feruloylquinique). Tuy nhiên, tốt nhất là tiêu thụ những grains blonds hay brun clair bởi vì sự ran cà phê làm giảm hàm lượng các chất chống oxi hóa. Cà phê cũng chứa những vitamine nhóm B và những muối khoáng (calcium, potassium, magnésium).

Những hàm lượng caféine thay đổi
Hàm lượng caféine khác nhau tùy theo nhiệt độ và thời gian ran (torréfaction), thứ cà phê (variété), mức đó xay và cách pha chế cà phê. Như thế, những hạt arabica chứa ít caféine (1,2%) hơn những hạt robusta (2,2%). Trung bình, 90 mg caféine đối với một tách 20 clcà phê filtre : đó là nhiều hơn một expresso (6dl)(chứa 80 mg). Sự khác nhau này được giải thích bởi thời gian pha chế lâu hơn của café filttre (5 phút), điều này cho phép nó hãm tốt hơn.Theo Autorité européenne de sécurité des aliments (Efsa), những người trưởng thành có sức khỏe tốt có thể tiêu thụ không nguy cơ đối với sức khỏe đến 400 mg caféine mỗi ngày (hoặc tương đương với 5 expresso) và 200 mg/ngày đối với những phụ nữ có thai và cho con bú.

Nó làm giảm mệt và đau…
Caféine được hấp thụ trong vòng dưới 1 giờ trong ruột non. Ở những người trưởng thành, demi-vie của nó (thời gian cần để cơ thể thải 50% caféine) thay đổi từ ba đến bảy giờ. Cấu trúc phân tử của caféine tương tự với cấu trúc của adénosine, một chất dẫn truyền thần kinh làm chậm hoạt động thần kinh, do đó làm giảm sự thức tỉnh (éveil) và làm dễ giấc ngủ. Bằng cách liên kết với những thụ thể của nó, caféine khi đó sẽ ức chế những tác dụng của nó. Như thế, với những liều vừa phải (40 đến 300 mg), caféine làm giảm mệt, gia tăng sự cảnh giác và giảm thời gian phản ứng khoảng 20 phút sau khi uống. Ngoài ra, 100 đến 130 mg de caféine được thêm vào một thuốc giảm đau góp phần làm thuyên giảm đau. Nhưng cần thận trong : tiêu thụ cà phê ở nhiệt độ trên 60 độ gia tăng nguy cơ phát triển một ung thư thực quản.

…nhưng nó có hại cho giấc ngủ
caféine khởi động lại đồng hồ nội tại của cơ thể, nghĩa là toàn bộ những tín hiệu phân tử duy trì sự vận hành chức năng của nó và của các tế bào, được ấn định theo một chu kỳ 24 giờ. Như thế, uống một double expresso 3 giờ trước khi đi ngủ sẽ làm chậm lại khoảng 40 phút đồng hồ sinh học. Ngoài ra, theo một nghiên cứu được thực hiện bởi một trung tâm nghiên cứu Hoa Kỳ về giấc ngủ, được thực hiện trên những người không có rối loạn giấc ngủ, uống 4-5 tách cà phê (hay khoảng 40 mg caféine) cho đến 6 giờ trước khi ngủ làm giảm hơn 1 giờ thời gian ngủ. Ngoài ra, uống một cà phê sữa có thể làm phức tạp sự tiêu hóa ở vài người.

Một bạn đồng minh khả dĩ của tim
Theo một phân tích méta, uống chỉ một ly cà phê mỗi ngày liên kết với một sự giảm nguy cơ suy tim trong thời gian dài hạn. Ngược lại, nghiên cứu gợi ý rằng café décaféiné có thể gây tác dụng ngược lại.

Ngoài ra, uống một ly cà phê mỗi ngày (15 cl) làm giảm nguy cơ toàn bộ của tử vong khoảng 22% ở những người có những tiền sử nhồi máu cơ tim so với những người không tiêu thụ đều đặn cà phê. Những người tham dự không có tiền sử tim mạch, tiêu thụ một hay nhiều tách cà phê mỗi tuần có một nguy cơ tử vong giảm 14% so với những người không tiêu thụ cà phê.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 515 : bài số 4 (café et espérance de vie)
– TSYH số 447 : bài số 1, 2, 3, 4
– TSYH số 430 : bài số 10 (café et cancer)
– TSYH số 360 : bài số 1, 2, 3, 4
– TSYH số 312 : bài số 4
– TSYH số 247 : bài số 6 (contre dépression)
– TSYH số 179 : bài số 3
– TSYH số 50 : bài số 6

VII. TA BIẾT NGUỒN GỐC CỦA MIGRAINE
Thiên hướng phát triển các đau đầu có thể là hậu quả của một sự tiếp xúc quá mức với với những kích thích tố trong bụng mẹ.
Migraine có nguồn gốc trong thời kỳ thai nghén. Đó là kết luận của một nghiên cứu được thực hiện ở đại học Californie ở San Diego (Hoa Kỳ). Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một cơ sở các dữ liệu về các trẻ sinh đôi : 51872 người đã được sàng lọc để nhận diện những người bị bệnh migraine. Bài học đầu tiên : môi trường tiền sinh (environnement prénatal) dường như gia tăng nguy cơ bị migraine. Sau đó : những yếu tố di truyền (facteurs génétiques), còn cần phải xác định, có thể giải thích những khác nhau giữa đàn ông và đàn bà.Thật vậy, nếu migraine liên hệ đến khoảng 12% dân số, nó ảnh hưởng các phụ nữ 5 lần nhiều hơn. Một dữ liệu được tìm thấy trong các công trình của các nhà nghiên cứu : các cô gái có một trẻ sinh đôi trai có một nguy cơ bị migraine cao hơn nếu các cô gái này có một trẻ sinh đôi nữ. Theo các nhà nghiên cứu, điều đó gợi ý rằng những yếu tố tiền sinh, như những nồng độ của các kích thích tố trong tử cung, có thể góp phần vào nguy cơ phát triển hội chứng.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 511: bài số 8
– TSYH số 345 : bài số 5
– TSYH số 268 : bài số 8
– TSYH số 200 : bài số 8
– TSYH số 152 : bài số 4
– TSYH số 55 : bài số 6
– TSYH số 44 : bài số 3

VIII. MIGRAINE : 7 ĐỊNH KIẾN
1. Những người bị migraine có nhiều nguy cơ phát triển một bệnh thần kinh hơn phần còn lại của dân số.
Đúng. « Đó là hoàn toàn sai đối với những bệnh thoái hóa (maladie dégénérative) như Parkinson hay Alzheimer », BS Carole Séréni, neurologue, đồng phụ trách consultation multidisciplinaire de la douleur chronique của bệnh viện Saint-Joseph, Paris, đã trấn an như vậy. « Ngược lại, các phụ nữ, có những migraine với tiền triệu (aura), có một nguy cơ hơi cao hơn bị một tai biến mach máu não (AVC). Nhất là nếu những bệnh nhân này hút thuốc và uống thuốc ngừa thai giàu oestrogène. Vậy tốt nhất là từ bỏ vinh viễn thuốc lá và thay đổi, nếu cần, những thuốc ngừa thai.

2. Crise de foie không hiện hữu, đó là một migraine
Đúng. « Đặc biệt ở trẻ em, migraine thường được biểu hiện bởi nôn và mửa. Đôi khi đó cũng là trường hợp ở những người trưởng thành », BS Séréni đã giải thích như vậy. Cách nay một thế hệ, người ta gọi những triệu chứng này là indigestion (chứng khó tiêu) hay crise de foie. « Thì ra ăn quá nhiều, uống quá nhiều, lạm dụng chocolat hay vài thức ăn mỡ, có những giờ ăn không bình thường có thể gây một cơn migraine. Nhưng gan không có liên hệ gì với điều này. »

3. Sự lạm dụng thuốc có thể gây đau đầu
Đúng. Những thuốc chống đau (antalgique) và những thuốc chống viêm (antiinflammatoire) phải được tiêu thụ một cách vừa phải trong những cơn migraine. Nếu không, các bệnh nhân bị điều mà ta gọi là một đau đầu do lạm dụng thuốc (céphalée par abus médicamenteux). « Ta có thể đi đến một mức độ là ta đau đầu một cách thường trực, trừ phi chỉ sau khi uống một viên thuốc. Đó là một ngõ cụt bởi vì các thuốc càng ngày càng kém hiệu quả, và các liều lượng phải được gia tăng để có được cùng hiệu quả. » Để thoát vòng luẩn quẩn này, phải bắt đầu cai thuốc (sevrage), với sự giúp đỡ của một thầy thuốc. Sau đó, nếu điều này đã không làm, thiết đặt một điều trị nền.

4. Đau của migraine bắt đầu một cách đột ngột
Sai. «Trong trường hợp của một migraine, đau tăng lên dần dần. Khi đau bùng nổ trong đầu, như một tiếng sét đánh, ta có thể sợ một bệnh nghiêm trọng hơn », BS Séréni đã báo động như vậy. Tai biến mạch máu não, viêm màng não, glaucome aigu…là một số bệnh lý có thể được biểu hiện bởi những đau đầu dữ dội. Triệu chứng này là một cấp cứu. Nhất là nếu nó được kèm theo bởi những dấu hiệu khác như sốt, hay nếu nó xảy ra sau một chấn thương đầu. Phải đi khám ngay để nhận diện nguyên nhân.

5. Thức ăn đóng một vai trò
Đúng. «Nếu anh đặt câu hỏi này cho một người bị bệnh migraine, có lẽ người này sẽ trả lời với anh rằng một thức ăn nào đó là một trong những yếu tố phát khởi chính. » Danh sách của những thủ phạm giả định là dài. Thí dụ chocolat và rượu là rất thường bị quy kết. » Nhưng tất cả tùy thuộc vào tính mẫn cảm của mỗi người. Một thức ăn nào đó sẽ phát khởi những migraine ở một người nào đó và không chút nào ở một người khác. Sự mất nước cũng thường bị nghi là gây migraine. Đối kháng ? Uống tối thiểu 1,5 lít mỗi ngày, được phân bố tốt trong ngày. Đối với cà phê, điều đó rắc rối hơn. Với liều thấp, vài người gán cho cà phê những tính chất chống đau, nhưng vượt quá 3 tách mỗi ngày, theo một nghiên cứu Hoa Kỳ được công bố năm 2019 trong « the American Journal of Medicine », cà phê có thể phát khởi các cơn. Ngoài các thức ăn, điều nhất là phải tránh, đó là những thái quá, trong nghĩa này cũng như trong một nghĩa khác. Nói một cách khác, tốt nhất là đừng nhảy một bữa ăn cũng như đừng ăn quá độ.

6. Tăng thể trọng không có một tác động nào
Sai. Có quá nhiều kilo sẽ không làm một người không có vulnérabilité génétique trở thành người bị bệnh migraine. Nhưng một người bị bệnh migraine sẽ có những cơn thường hơn và mạnh hơn. Một nghiên cứu của Na U,y được công bố năm 2020, đã xác lập một cách rõ ràng mối liên hệ này giữa tăng thể trọng và migraine. Nguy cơ làm một crise migraineuse gia tăng đồng thời với chỉ số khối lượng cơ thể (IMC : indice de masse corporelle). Dường như rằng trạng thái viêm liên kết với tăng thể trọng và béo phì gia tăng sự chế tạo CGRP, một peptide đóng một vai trò quan trọng trong sự xuất hiện của những cơn migraine. Một cách logic, một nghiên cứu khác được công bố trong «the Endocrine Society » năm 2019 xác nhận rằng theo một régime hay một chirurgie bariatique làm giảm tần số của migraine, thời gian và cường độ của chúng. Để nhẹ bớt vài kilo thừa, không có régime miracle, mà là một sự tái cân bằng ăn uống (rééquilibre alimentaire) cần theo đuổi trong thời gian dài hạn, và hoạt động vật lý đều đặn.

7. Chính là ở trong đầu
Sai. Vài người nghĩ rằng những người bệnh migraine là những bệnh nhân tưởng tượng, và rằng một trạng thái tinh thần tich cực đủ để loại bỏ vấn đề. Những người khác muốn migraine là một bệnh của những người đàn bà không công việc hay họ dùng nó để trốn tránh nghĩa vụ vợ chồng. Đối với Honoré de Balzac, migraine là «một cái cớ dối trá của phụ nữ Paris, tư sản và nhàn rỗi.» Dĩ nhiên không hề là như vậy. « Vâng, dĩ nhiên, điều đó xảy ra trong đầu. Nhưng một cách không thể chối cãi, migraine là một bệnh thần kinh rất có thật, BS Séréni đã chỉnh lại như vậy. Ngoài ra, nếu bạn chụp một IRM trong một cơn migraine với aura, điều đó sẽ được thấy. »
(TOP SANTÉ 12/2021)

IX. CÁC KHÁNG THỂ ANTI-CGRP, MỘT VŨ KHÍ CHỐNG MIGRAINE RẤT HIỆU QUẢ.
Hỏi : Những loại thuốc mà mọi người nói đến này là gì ?
BS Anne Donnet : Đó là ba loại thuốc đã nhận giấy phép thương mãi hóa của Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMA), vào năm 2018 đối với Aimovig (érénumab) và Emgality (galcanézumab), vào năm 2019 đối với Ajovy (frémanezumab). Hai trong các thuốc này có sẵn sử dụng từ ít lâu nay ở Pháp. Chúng được cho dưới dạng một mũi tiêm duy nhất dưới da mỗi tháng, mà bệnh nhân có thể tự tiêm lấy.

Hỏi : Sự khác nhau giữa những anti-CGRP và những điều trị nền đã có trên thị trường ?
BS Anne Donnet : Cho đến nay, để làm giảm tần số của các cơn migraine, ta sử dụng những loại thuốc, lúc đầu, được dành để điều trị những bệnh lý khác : những thuốc chống động kinh, những thuốc chống trầm cảm, hay những betabloquant, nhất là được kê đơn chống cao huyết áp. Những kháng thể đơn dòng chống CGRP (anticorps monoclonaux anti-CGRP) là điều trị nền đầu tiên đặc hiệu đối với migraine. Điều đó làm cho chúng hiệu quả hơn. Đó là một cuộc cách mạng như sự đi đến của những triptan cách nay 30 năm

Hỏi : Những kháng thể này hoạt động như thế nào ?
BS Anne Donnet : Như tên của chúng chỉ, những kháng thể đơn dòng này phong bế CRRP, một protéine được phóng thích trong cơn migraine. Những kháng thể đơn dòng này nhắm protéine này một cách chính xác, như thế ngăn cản sự truyền lên não của những tín hiệu đau. Một kỳ tích được thực hiện mà gần như không có tác dụng phụ. Nhiều lắm đôi khi ta có thể ghi nhận đau hay đỏ nơi chích, và rất hiếm những phản ứng dị ứng.

Hỏi : Chúng dành cho những ai ?
BS Anne Donnet : Ở Pháp, chúng được dành cho những trường hợp nặng, có nhiều hơn 8 ngày migraine mỗi tháng, sau khi thất bại ít nhất hai điều trị nền. Những anticorps anti-CGRP này rất hiệu quả. Vài bệnh nhân, cho đến khi đó không gì hiệu quả, đã thấy migraine của họ giảm rất rõ rệt nhờ điều trị này. Tất cả các migraine, có hay không có aura, giữa 70 và 80% các bệnh nhân đáp ứng rất tốt với điều trị. Ưu điểm khác, bệnh nhân tự mình chích lấy thuốc, chỉ một lần mỗi tháng. Một cách không thể chối cãi, điều đó là ít gò bó hơn khi phải uống một hay hai viên thuốc mỗi ngày, và như thế tạo điều kiện thuận lợi cho sự tuân thủ điều trị

Hỏi : Mua chúng ở đâu ?
BS Anne Donnet : Ở Pháp, hai loại thuốc có ở hiệu thuốc. Vấn đề là hiện nầy chúng không được bồi hoàn bởi assurance santé. Galcanézumab được bán 245 euro một mũi tiêm, frémanezumab 275 euros. Một phí tổnkhông phải là nhỏ.
(TOP SANTÉ 12/2021)

X. 5 CÂU HỎI ĐỂ QUẢN LÝ STRESS
Để chống lại những tác dụng có hại của stress mãn tính lên sức khỏe, trước hết phải học nhận biết những biểu hiện của nó. Và chọn những giải pháp cụ thể và thích nghi

1. Làm sao phân biệt stress tốt với stress xấu ?
Stress là một đáp ứng sinh lý (nghĩa là bình thường) của cơ thể chúng ta để thích nghi với một tình huống bất ngờ. Đáp ứng này có thể tỏ ra mấu chốt để tránh một tai nạn hay để huy động tốt nhất những năng lực của mình trong một điểm hẹn quan trọng. Não là cơ quan trách nhiệm phát khởi đáp ứng này : trong vài tình huống, nó kích động hệ thần kinh tự trị (kiểm soát những chức năng không tự ý của cơ thể như hô hấp) và kích thích sự tiết những hormone như adrénaline và cortisol. Hậu quả : gia tốc nhịp tim, tăng trương lực cơ và huyết áp, gia tăng nồng độ đường và mỡ trong máu, sự chậm lại củanhững chức năng tiêu hóa …Trong thời gian ngắn hạn, « bon stress » này cho phép huy động tất cả những nguồn vật lý và trí tuệ (ressources physiques et cognitives) cần thiết để phản ứng lại một mối hiểm nguy. Ngược lại nếu stress kéo dài, nó trở thành một « mauvais stress ». Stress xấu này khi đó có thể được liên kết với một sự mệt gia tăng, với những rối loạn của giấc ngủ hay của khí chất, với một sự thân thể hóa (somatisation) (thí dụ đau bụng, đau đầu hay đau lưng), với một lo âu và những trouble cognitif. Nếu những biểu hiện này lũy tích và kéo dài, chúng khiến cơ thể phải phản ứng lại. Bởi vì một stress mãn tính có những hậu quả tiêu cực lên sức khỏe trong thời gian dài hạn.

2. Những tác dụng được chứng minh của stress lên sức khỏe ?
Bởi vì stress tác động lên sự vận hành chức năng của cơ thể chúng ta, nên nó có thể là một yếu tố nguy cơ quan trọng của vài bệnh lý khi nó xuất hiện một cách kinh điển. Năm 2009, một nghiên cứu của đại học Copenhague (Đan mạch), được công bố trong The Journal of Internal Medicine, đã cho thấy rằng có một mối liên hệ giữa stress và đái đường, nhưng cũng với những bệnh tim- mạch như cao huyết áp và bệnh động mạch vành (sự lắng của các mảng xơ vữa trong những động mạch tưới tim). Điều đó đã được xác nhận bởi nhiều nghiên cứu, mà một được công bố năm 2019 trong The British Medical Journal. Những nhà nghiên cứu Islande và Thụy Điển đã cho thấy rằng stress mãn tính gia tăng 60% nguy cơ toàn bộ các bệnh và những tai biến tim-mạch. Ngoài ra, cộng tác với những người Anh và Phần Lan, một équipe Inserm của Centre de recherche en épidémiologie et santé des populations (Villejuif, Val-de-Marne) đã tiết lộ, vào năm 2013 trong The European Heart Journal, rằng trong số những người bị stress, những người nghĩ rằng tình trạng của họ có thể có một ảnh hưởng lên sức khỏe, có nguy cơ bị một nhồi máu cơ tim hai lần nhiều hơn những người khác.

3. Tất cả chúng ta bình đẳng trước stress ?
Không, vài người là nhạy cảm hơn những người khác, và điều này vì những lý do bẩm sinh cũng như thụ đắc. Những nghiên cứu tâm thần-xã hội (études psychosociales) gợi ý rằng một sự tiếp xúc với stress trong những năm đầu của cuộc sống sau đó gia tăng tính mẫn cảm ở tuổi trưởng thành.

Ngoài ra, những tác dụng của stress mãn tính có thể thêm vào những yếu tố của bệnh kèm theo : một nghiên cứu, được công bố trong Diabetes Care năm 2016 và được thực hiện bởi một équipe Hoa Kỳ ; nghiên cứu này, trong 5 năm đã theo dõi hơn 22000 người, trong đó 4000 bệnh nhân đái đường, cho thấy rằng «stress comorbide hay những triệu chứng trầm cảm là thường gặp ở những người bị bệnh đái đường và, cùng nhau, được liên kết với những nguy cơ dần dần gia tăng bị những vấn đề tim mạch không thuận lợi.. » Nhưng vài người có nhu cầu muốn cảm thấy stress, thí dụ để làm việc với nhiều hiệu quả hơn. Mặc dầu sự cần thiết này được quản lý trên bình diện tâm thần, tuy nhiên nó được kèm theo bởi những nguy cơ đối với sức khỏe trong thời gian dài hạn

4. Hoạt động vật lý có một tác động lên trạng thái này ?
Nếu được thực hành một cách vừa phải và đều đặn, hoạt động vật lý là một phương tiện tốt chống lại stress. Thật vậy nó kích thích sự sản xuất endorphine trọng não, điều này có tác dụng giảm stress và lo âu. Nó cũng chống lại một cách trực tiếp những tác dụng có hại lên sức khỏe, nhất là trên bình diện tim mạch. Nhưng chú ý đừng làm quá mức. Trong một expertise collective được công bố bởi Inserm vào năm 2008 về những tác dụng của hoạt động vật lý lên sức khỏe, ta có thể đọc rằng « hoạt động vật lý cường độ vừa phải dường như đúng là có một tác dụng trong thời gian ngắn hạn lên những tình trạng lo âu ở những người không bệnh lý hay có bệnh lý và có thể được sử dụng để giảm trải nghiệm này. Nhưng trái lại sự thực hành vật lý cường độ mạnh dường như có thể phát khởi một cách nhanh chóng một sự gia tăng trạng thái lo âu và gây những phản ứng stress ở những quần thể lo âu, có tình trạng vật lý kém hay già.

5. Stress có lây nhiễm (contagieux) không ?
Vâng, và điều đó chắc chắn đã cứu cuộc sống của các tổ tiên chúng ta nhiều lần đứng trước những động vật ăn mồi. Nhưng trong những xã hội hiện đại, tính lây nhiễm (contagiosité) của stress đúng hơn đã trở thành một vấn đề. Vào năm 2007, những nhà nghiên cứu Đức đã công bố trong Scientific Reports một nghiên cứu giải mã những cơ chế của stress được truyền này, nhất là giải thích rằng sự lây nhiễm hiện hữu, và rằng nó quan trọng hơn ở những người vả lại tỏ ra đồng cảm hơn. Ngoài ra chúng ta hãy nhắc lại rằng hôm nay sự xử trí stress chủ yếu dựa trên một sự theo kèm tâm lý và hành vi. Và rằng ngoài một tình trạng trầm cảm hay stress post-traumatique, các thuốc đã không chứng minh lợi ích của chúng. Những supplément alimentaire hay phytothérapie cũng vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2022)
Đọc thêm :
– TSYH so 573 : bài số 9 (stress et la digestion)
– TSYH số 526 : bài số 4 (Stress posttrauatique)
– TSYH số 457 (Stress posttraumatique)
– TSYH số 418 : vài số 9
– TSYH số 457
– TSYH số 414 : bài số 4

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(31/3/2022)



Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s