Thời sự y học số 604 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I. CẦN KHẨN CẤP HÃM LẠI DỊCH CẬN THỊ Ở TRẺ EM

Khắp nơi trên thế giới, số trẻ em và thiếu niên cận thị gia tăng nhanh.
OPHTALMOLOGIE. Chẳng bao lâu nữa tất cả chúng ta sẽ bị cận thị ? Hôm nay, hơn 2,6 tỷ người trên thế giới bị liên hệ bởi rối loạn thị giác này. Sẽ hơn 5 tỷ người ở chân trời 2050, hoặc một nửa dân số thế giới, căn cứ vào nhiều dự đoán.

Một sự bùng nổ nhanh chóng làm lo sợ các thầy thuốc nhãn khoa, họ không còn do dự nữa khi nói đó là dịch bệnh cận thị. Mặc dầu dịch bệnh này liên quan trước hết châu Á (trong vài vùng, hơn 90% những người trưởng thành trẻ tuổi bị ảnh hưởng), nhưng châu Âu cũng không thua kém với hơn 47% những người cận thị. Một cách so sánh, amblyopie (giảm thị lực), cũng được gọi là « l’oeil paresseux » liên quan khoảng 3% những trẻ em. Sự tiến triển của cận thị nặng cũng là nguồn quan ngại. Ở châu Âu, 7% những người dưới 30 tuổi bị chứng giảm thị lực (amblyopie) trong khi khoảng 2% những người trên 70 tuổi bị rối loạn này. « Cận thị là một rối loạn xuất hiện trong thời thơ ấu và được liên kết với sự dài ra của nhãn cầu. Thế mà, sự dài ra của nhãn cầu bắt đầu càng sớm, càng có nguy cơ rằng một cận thị mạnh xuất hiện và với lô các biến chứng », GS Arnaud Sauer, thầy thuốc nhãn khoa ở CHRU de Strasbourg, đã giải thích như vậy.
Trên thực tế , cận thị không chỉ được thu tóm tóm trong việc mang kính suốt đời. Đó là một trong những bệnh lý chính gây mù lòa. Những người bị cận thị nặng có nhiều nguy cơ hơn bị đục thủy tinh thể, bong võng mạc hay glaucome nặng vào khoảng 40 hay 50 tuổi. « Tiến triển mà chúng ta đang chứng kiến sẽ dẫn đến sự điều trị những người cận thị có những thương tổn nặng hơn và rất chắc chắn sớm hơn. Những hậu quả của dịch bệnh này không phải là một vue de l’esprit. Vay điều quan trọng là phải hành động, và nhanh », GS Dominique Brémond-Gignac, trưởng khoa mắt của bệnh viện đại học Necker enfants malades, Paris, đã giải thích như vậy.

QUÁ NHIỀU HOẠT ĐỘNG KHIẾN PHẢI NHÌN GẦN
Bởi vì có thể chống lại dịch bệnh này bằng cách tấn công vào cái mấu chốt của vấn đề. Mặc dầu trong một thời gian piste génétique đã được nghi ngờ, nhưng bước nhảy vọt nhanh của bệnh cận thị trong vòng dưới hai thế hệ không thể chỉ do yếu tố di truyền. Còn có tác động của môi trường và những lối sống của chúng ta. « Trong 40 năm qua, lối sống của các trẻ em đã thay đổi nhiều. Chúng trải qua nhiều thời gian hơn trong nhà và thực hành những hoạt động chủ yếu đòi hỏi phải nhìn gần, như đọc sách hay nhìn các écran. Ở châu Á, áp lực giáo dục cũng bị quy kết, GS Vincent Soler, thầy thuốc nhãn khoa ở CHU de Toulouse đã giải thích như vậy.
Thật vậy, làm việc nhìn gần (travail de près) được liên kết với một sự gia tăng của tỷ lệ lưu hành của cận thị và với sự tiến triển của nó. Nhưng những écran không chịu trách nhiệm nhiều hơn đọc sách. Không một nghiên cứu nào đã cho thấy ảnh hưởng truc tiếp của các ordinateur hay smartphone. Ngược lại ta biết rằng đọc buộc mắt phải điều tiết, một cố gắng, trong thời gian dài hạn, làm dễ sự dài ra của nhãn cầu. « Chính vì lý do này mà ta khuyên tạm nghỉ 20 giây mỗi 20 phút để nhìn chăm chú một vật ở cách xa hơn 5 mètre », GS Sauer đã chỉ như vậy. Người ta cũng khuyên đọc dưới 2 giờ 30 mỗi ngày và giữ một khoảng cách 30 cm.
Nhưng yếu tố quyết định nhất là sự thiếu tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên. Người ta xác lập rằng những trẻ sinh vào mùa đông bị cận thị nhiều hơn những trẻ khác, và rằng cận thị tiến triển nhanh hơn vào mùa này. Ngoài ra, những thử nghiệm được thực hiện ở châu Á cho thấy một sự gia tăng của tỷ lệ lưu hành của cận thị ở những trẻ buộc phải ở trong lớp học trong giờ ra chơi và, ngược lại, một sự giảm ở những trẻ được phép chơi ở ngoài trời ít nhất 40 phút mỗi ngày.

 Những kết quả này đã gợi ý cho nhiều quốc gia á châu như Singapour hay Đài Loan. Những nước này đã thiết lập một chương trình phòng ngừa quốc gianhằm khuyến khích các học sinh thực hành mỗi ngày 2 giờ hoạt động ở ngoài trời. Kiến trúc của các trường học cũng đã được nghĩ lại. Những lớp học có những lỗ có lồng kính (baie vitrée) lớn, những nhà tập thể dục của những mái bằng thủy tinh…Đó là một khía cạnh đã không được tính đến ở Pháp, ở đây sự ý thức về mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh này và những tác động của nó đã chưa xây ra », vị thấy thuốc nhãn khoa của Strasbourg đã nói như vậy.
(LE FIGARO 7/3/2022)
Đọc thêm:
– TSYH số 481
– TSYH số 361 : bài số 6,7
– TSYH số 275 : bài số 1 (épidémie de myopie en Asie), 2 (techniques chirurgicales)
– TSYH số 49 : bài số 3

II. LA RÉALITÉ VIRTUELLE CÓ THỂ ĐIỀU TRỊCHỨNG GIÁM THI LỰC (AMBLYOPIE)
Vào mùa thu 2021, Cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ đã cho phép một casque de réalité virtuelle, được đặt tên là Luminopia One, để điều trị chứng giảm thị lực (amblyopie), cũng có biệt danh là « syndrome de l’oeil paresseux ».

Hội chứng này đuoc đặc trưng bởi sự tồn tại của thị giác kém của một mắt, ngay cả khi đứa trẻ mang một hiệu chính (correction) để làm nhẹ bớt chứng lé (strabisme) hay cận thị của nó.«Amblyopie không phải là một rối loạn thị giác, mà là rối loạn thần kinh. Não của các đứa trẻ quyết định ưu tiên cho mắt nhìn thấy (oeil voyant) và không xét đến nữa những hình ảnh được truyền bởi mắt thấy ít tốt hơn, điều này dẫn đến một sự mất dần dần và không đảo ngược của thị giác đối với mắt này nếu không làm gì cả », GS Dominique Brémond-Gignac, trưởng khoa mắt của bệnh viện Necker (Paris) đã mô tả như vậy.

Điều trị khi đó nhằm buộc não sử dụng mắt nhìn kém (oeil malvoyant) bằng cách dấu mắt nhìn tốt, cho đến khi thị lực được cân bằng giữa hai mắt. Những điều trị này là lâu dài và gò bó đối với các trẻ em ; chúng phải giữ patch từ hai đến 6 giờ mỗi ngày trong nhiều tháng. Ta chứng thực rằng các trẻ em chỉ mang patch 50% thời gian được quy định.

CẢI THIỆN PERCEPTION EN 3 D
Vậy để cải thiện sự tuân thủ rééducation này mà những équipe như équipe de Luminopia, đã nghĩ nhờ đến những jeux vidéo và/hay những casque de réalité virtuelle. Những công cụ này không chỉ để chơi, chúng còn cho phép cải thiện tri giác theo bạ chiều không gian (perception en 3 D). Một năng lực thiếu ở những trẻ amblyope và không được kích thích bởi sự mang patch vì lẽ khi ta che một mắt, ta không còn thấy 3 D nữa. Trái lại, nhữngjeu de réalité virtuelle nhằm kích thích đồng thời hai mắt bằng cách cho mỗi mắt thấy một hình ảnh khác nhau nhưng bổ sung cho nhau. Để nhận thức hoạt động, não khi đó phải kết hợp hai hình ảnh. Cũng có thể kích thích nhiều hơn mắt bị amblyope bằng cách giảm những contraste hay luminosité của những kích thích thị giác dành cho mắtthấy (oeil voyant) », GS Paul Matusz, neuroscientifique và người phụ trách projet Gambly đã giải thích như vậy. Ông chuẩn bị phát động, đối tác với những Bệnh viện đại học Genève, một thử nghiệm lâm sàng ở các trẻ em và người trưởng thành bị amblyopie kéo dài sau rééducation.
Nhà nghiên cứu bảo rằng những kết quả của thử nghiệm của họ sẽ phải được bổ sung bởi những nghiên cứu khác để xác định điều trị này sẽ đề nghị cho ai, và khi nào. Về start up Luminopia của Hoa Kỳ, ta đánh giá rằng casque de la réalité virtuelle có thể là một giải pháp thay thế patch. GS Brémond không chia sẽ ý kiến này. Kỹ thuật này có thể là một bổ sung tốt của những patch và được đề nghị như là một điều trị duy trì, đặc biệt cho những trẻ lớn hơn, bị chán bởi rééducation », bà đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 7/3/2022)

III. PHÒNG NGỪA CẬN THỊ : NHỮNG CẢI TIẾN ĐẦY HỨA HẸN
Vào tháng năm 2021, lúc xem tournoi de Roland-Garros, Léon, 12 tuổi, đã nhận thấy rằng chứng cận thị của nó tiến triển rất nhanh. « Vào đầu cuộc thi đấu, tôi có thể đọc những score được loan báo ở TV, nhưng từ những trận bán kết điều đó trở nên khó khăn hơn », cậu học sinh trung học đã kể lại như vậy. Xét vì sự tiến triển nhanh chóng này, thầy thuốc nhãn khoa đã khuyên nó một kỹ thuật được phát triển cách nay hơn 30 năm nhưng còn ít được phổ biến ở Pháp : orthokératologie. « Đó là những thấu kính cứng (lentille rigide) mà tôi phải mang mỗi đêm trong ít nhất 6 giờ và cho phép tôi không phải dùng kính vào ban ngày. Điều đó đã thật sự thay đổi đời tôi.Bây giờ, tôi có thể tắm hay thực hành surf vào mùa hè mà không còn thấy mờ », Léon đã giải thích như vậy, phấn khởi.
Một cách giản lược, những lentille rigide, được thực hiện sur mesure, kềm hãm cận thị bằng cách làm dẹt giác mạc để làm ngắn nhãn cầu một cách tạm thời (ít nhất một ngày). Một phương thức làm giảm khoảng 45% sự tiến triển của cận thịsau hai năm, theo một phân tích meta được công bố năm 2015 trong PloS One. « Tuy nhiên, ta chứng thực một tác dụng dội ngược (effet rebond) lúc ngừng mang thấu kính. Vì thế, khi một đứa trẻ bắt đầu mang thấu kínhnày, có thể rằng nó sẽ mang chúng ít nhất cho đến năm 25 tuổi, thời kỳ mà cận thị ổn định. Thế mà, những thấu kính này không phải là không có những nguy cơ nhiễm trùng, và những trường hợp abcès đã được báo cáo, GS Arnaud Sauer đã ghi chú như vậy. Ông kê đơn một cách dè xẻn những thấu kính này, thường dành cho những thiếu niên thể thao. Điều trở ngại khác : phí tổn hàng năm khoảng 300 euro, không được đảm nhận bởi Assurance-maladie.
Ngoài những thấu kính này, những « verre frénateur » mới được thương mãi hóa từ năm 2021 : verre Miyosmart của Hoya của Nhật và Stellest d’Essilor. Chúng được trang bị bởi những technologie khác nhưng có một kết quả tương tự : chúng làm hội tụ những tia sáng trước võng mạc, chứ không trên võng mạcnhư những kính cổ điển. Những kết quả, được thực hiện ở châu Á ở hơn 300 trẻ em, cho thấy rằng những kính này làm chậm lại khoảng 60% sự tiến triển của cận thị. Những thử nghiệm đang được tiến hành ở Pháp để xác nhận những kết quả đầy hứa hẹn này.
THUỐC ĐIỀU TRỊ
Ngoài những thiết bị quang học này, những thuốc kềm hãm một cách thành công sự dài ra của nhãn cầu. Sự nhỏ mỗi ngày một giọt collyre chứa những liều thấp atropine (0,01%) làm giảm một nửa sự tiến triển của cận thị, theo một essai randomisée được thực hiện ở 438 trẻ em dưới 12 tuổi và được công bố vào năm 2020 trong Ophthalmology. Nhưng, lại nữa, một tác dụng dội ngược lúc ngừng điều trị được quan sát mặc dầu rối loạn dường như tiến triển ít nhanh hơn ở những trẻ em nhận điều trị này. Ngoài ra, những tác dụng phụ của collyre này là ít quan trọng hơn những biến chứng của orthokératologie.

Vì vậy, vào lúc này, atropine 0,01% dường như là lựa chọn tốt nhất để làm chậm lại sự tiến triển của cận thị ở các trẻ em. Nhưng sự làm theo công thức này chưa có ở pharmacie thành phố. « Vài pharmacie bệnh viện cấp atropine này cho những trẻ em được theo dõi ở bệnh viện hay ở thành phố », GS Sauer đã nói như vậy. Một chế phẩm giá khoảng 15 euros mỗi tháng và không được bồi hoàn bởi Assurance-maladie.
(LE FIGARO 7/3/2022)

IV. CHỐNG DỊCH BỆNH CẬN THỊ HIỆN NAY, CÓ NHỮNG GIẢI PHÁP

Hai giờ hoạt động ngoài trời mỗi ngày cho phép hạn chế những nguy cơ ở trẻ em. Những điều trị cũng hiện hữu, với điều kiện nhận diện khá sớm rối loạn.
OPHTALMOLOGIE. Những thầy thuốc nhãn khoa không còn do dự nữa khi nói đó là dịch bệnh không lây nhiễm » (épidémie non contagieuse) để mô tả sự gia tăng của cận thị trên thế giới. Mặc dầusự báo động đã được phát động cách nay mười năm ở châu Á, ở đây hơn 80% những thiếu niên bị ảnh hưởng, nhưng hiện tượng cũng liên hệ đến châu Âu. Theo OMS, tỷ lệ dân chúng bị rối loạn thị giác này đã chuyển từ 22% lên 33% giữa 2000 và 2020, và có thể vượt 50% trong 30 năm nữa.
Do một sự dài ra quá mức của nhãn cầu, chứng cận thị được thể hiện bởi một sự nhìn xa mờ (vision floue de loin). « Mặc dầu cận thị có một thành phần di truyền (với cả cha lẫn mẹ bị bệnh, nguy cơ đối với hậu duệ được nhân lên 6), nhưng nó rất bị ảnh hưởng bởi những yếu tố moi truong, BS Gilles Martin, thầy thuốc nhãn khoa ở Fondation Rothschild đã chỉ như vậy. Sự thực hành mỗi ngày hai giờ hoạt động ở ngoài trời để kích thích sự nhìn xa (vision de loin) và tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên cho phép làm giảm nguy cơ, và ngay cả mang nó trở lại bình thường đối với những trẻ có những tiền sử. » Đọc ở khoảng cách đúng đắn trong một gian phòng được chiếu sáng tốt và tạm nghỉ khi đứa trẻ đòi hỏi sự nhìn gần, cũng được khuyến nghị.

Vì lẽ rằng sự bùng nổ của số những người bị tác động bởi rối loạn thị giác này được kèm theo bởi một sự gia tăng những trường hợp cận thị nặng (myopies graves). Những cận thị nặng này, được đặc trưng bởi một sự mất hơn 6 dioptries, liên hệ 4% những người cận thị ở Pháp. Nhưng trong vài nghiên cứu của châu Á, đến 20% những trẻ đạt mức độ thiếu sót thị giác (déficience visuelle) này. « Đó là một vấn đề y tế công cộng quan trọng, diễn ra trước chúng ta, bởi vì thể nặng của bệnh gia tăng nguy cơ những tổn hại trên võng mạc và dây thần kinh thị giác », GS Ramin Tadayoni, trưởng khoa ở Hôpital Fondation Adolphe de Rothschild đã nhấn mạnh như vậy. Ông đã loan báo sự thành lập vào năm 2023 một viện cận thị bệnh lý (Institut de myopie pathologique) nhằm điều trị và nghiên cứu.

Cận thị mạnh (myopie forte) có thể là nguyên nhân của những vết rách và bong võng mạc, hai cấp cứu ngoại khoa. Nó cũng nhân 5 nguy cơ glaucome, một tăng áp nội nhãn làm hỏng dần dần dây thần kinh thị giác. « Áp lực này có thể được điều trị với những collyre, nhưng thường không được nhận biết trong thời gian lâu, GS Nicolas Leveziel, trưởng khoa ở CHU de Poitiers và nhà nghiên cứu ở Inserm, đã nhấn mạnh như vậy. Và khi nó được chẩn đoán, bệnh nhân đã bị những mất của thị trường.» Cận thị nặng cũng gia tăng nguy cơ đục thủy tinh thể sớm và những bệnh của macula (hoàng điểm), vùng trung tâm của võng mạc cho phép thấy những chi tiết. Tất cả những biến chứng này có thể được biểu hiện từ 40 tuổi và dẫn đến mù lòa.

Trong một nghiên cứu được thực hiện ở 198.000 bệnh nhân và được công bố vào năm 2019, Nicolas Leveziel đã cho thấy rằng 10% những người có một cận thị nặng và tuổi trên 60, bị mù lòa hay nhìn kém, so với 1% giữa 30 và 59 tuổi. Nhiều người cận thị sẽ phát triển một mù lòa ở 60 tuổi, vị thầy thuốc đã nói như vậy. Khuyên nên theo dõi đặc biệt những bệnh nhân này, trong suốt cuộc đời của họ. Tuy vậy, Gilles Martin nói « ngạc nhiên khi chứng thực ở mức độ nào ý niệm cận thị nặng và những biến chứng liên kết không được biết bởi vài thầy thuốc ».
Tuy vậy có những điều trị có thể góp phần làm chậm lại sự tăng trưởng của nhãn cầu ở những trẻ bị cận thị. Được nghiên cứu nhất là atropine pha loãng, được cho dưới dạng những giọt nhỏ mỗi ngày và tác động lên các thành của mắt. Chỉ vài pharmacie bệnh viện sản xuất nó. Những kính được gọi là « frénateur » (kềm hãm), mới đây hơn, là hiệu quả, làm giảm một nửa sự tăng trưởng của nhãn cầu, theo một thử nghiệm lâm sàng được công bố vào năm 2009. Nguyên tắc là điều chỉnh thị giác ngoại biên (vision périphérique), mà các nhà khoa học liên kết với rối loạn. « Nhưng những verre frénateur này ít được đánh giá, và một tác dụng dội ngược (effet rebond) lúc dừng điều trị không được loại trừ », Gilles Martin đã nói như vậy. Sau cùng có những thấu kính cứng (lentille rigide) để mang vào ban đêm (orthokératologie), có một tác dụng cơ học lên giác mạc.

Trong tất cả các trường hợp, một điều tra phát hiện sớm vẫn là cần thiết. Thế mà, mặc dầu cận thị thường được phát hiện ở tiểu học, nhưng nó không được thực hiện một cách hệ thống. «Trong khi phần lớn những học hành đều phải dùng mắt, các thầy thuốc học đường không có đủ thời gian để dành cho sự phát hiện. Thế mà những thời hạn lấy hẹn ở những thầy thuốc nhãn khoa thường rất dài. »
Ngoài ra, jmột nghiên cứu quốc tế năm 2016 đã phát hiện tuổi xuất hiện ngày càng sớm của rối loạn (20% những trẻ em dưới 6 tuổi bi liên hệ). Sau đó nó tiến triển, nhất là giữa 7 và 12 tuổi, và tiếp tục suy sụp ở tuổi thiếu niên. Đó là điều đã được quan sát bởi Nicolas Leveziel lúc phân tích những đơn mang kính của hơn 600.000 thanh niên Pháp, một công trình được công bố trong British Journal of Ophtalmology. Mối liên hệ giữa cận thị thông thường (myopie commune), phát ra ở tuổi ấu thơ và ổn định trước 25 tuổi, và cận thị nặng (myopie grave) xấu đi trong suốt cuộc đời, không được xác định rõ. Tuy nhiên Nicolas Leveziel đã chứng thực rằng độ cận thị càng cao ở một trẻ em, nguy cơ của nó phát triển một dạng nặng trong 5 năm tiếp theo càng quan trọng.
(LE FIGARO 31/1/2022)

V. TIM CỦA CÁC PHỤ NỮ LÂM NGUY
Ta nói các phụ nữ có tình cảm hơn, đó cũng có phải là lý đó giải thích tim của họ yếu ớt hơn ? Không chắc, nhưng y sĩ đoàn dường như quyết định xét đến những đặc thù nữ giới (spécificités féminines) để phát hiện, phòng ngừa và điều trị tốt hơn những bệnh tim-mạch tấn công họ càng lúc càng trẻ tuổi.
Giữa 2008 và 2013, ở Pháp, số những nhập viện của những phụ nữ dưới 65 tuổi vì một nhồi máu cơ tim đã gia tăng 19% và một phụ nữ trên ba chết vì một bệnh tim-mạch máu não (maladie cardio-cérébrovasculaire), hoặc 6 lần nhiều hơn ung thư vú. Những phụ nữ trẻ nhất không thoát được : bằng chứng, 11% những nhồi máu cơ tim xảy ra ở những phụ nữ dưới 35 tuổi, một con số gia tăng hằng định. Làm sao giải thích điều đó ? Các chuyên gia đề xuất nhiều giả thuyết : từ những năm 1970, lối sống của các phụ nữ đã có những nét giốngmột cách đáng kể với lối sống của những người đàn ông. Nghiện thuốc lá, stress, nhàn rỗi không hoạt động…lót đường cho cao huyết áp, tăng thể trọng và béo phì, bấy nhiêu những yếu tố nguy cơ đúng là được nhận diện trong sự phát sinh của các bệnh tim mạch.
Rất lâu, ta đã tin rằng các phụ nữ được các bệnh tim-mạch chừa ra nhờ tác dụng có lợi của các kích thích tổ của họ. Cho mãi đến tậnthời kỳ mãn, mặc dầucác oestrogène có tác dụng bảo vệ hơn, nhưng chúng không còn đủ để bù lại những tác dụng có hại của vệ sinh đời sống xấu của chúng ta. Vả lại, tim của các phụ nữ có những đặc điểm mà không ai tính đến : cho đến nay, ta chỉ áp dụng những kiến thức mà ta có về tim của những người đàn ông lên tim của các phụ nữ. Thế mà hôm nay ta biết rằng họ có nhiều yếu tố nguy cơ hơn (nhất là do thai nghén) và rằng tác động của chúng lên các huyết quản là quan trọng hơn.

MỘT SỰ CHẬM TRỄ TRONG ĐIỀU TRỊ.
Các phụ nữ cũng được phát hiện và điều trị muộn hơn, như BS Frédéric Bouisset và GS Jean Ferrières, cardiologue ở CHU de Toulouse và các nhà nghiên cứu Inserm đã chứng thực điều đó : có nhiều phụ nữ hơn được nhập viện hơn 12 giờ sau khi xuất hiện những triệu chứng của nhồi máu cơ tim, trong khi lý tưởng là phải can thiệp trong vòng 3 giờ. Điều này không làm ngạc nhiên GS Claire Mounier-Vehier, cardiologue và médecin vasculaire ở CHU de Lille :“ Bởi vì đôi khi những triệu chứng của các phụ nữ khác với những triệu chứng của đàn ông, nên vài thầy thuốc không nghĩ đến chẩn đoán nhồi máu cơ tim, hay ngay cả viêm động mạch của các chi dưới, nhất là nếu phụ nữ không có những yếu tố ngụy cơ rõ rệt. Về các phụ nữ, họ thường có khuynh hướng giảm nhẹ và coi thường những triệu chứng của mình, họ lo lắng sức khỏe của gia đình họ hơn là sức khỏe của họ.“ Và ngay cả một khi được điều trị, các phụ nữ chết trong năm tiếp theo sau đó, đơn giản bởi vì họ được điều trị ít tốt hơn, một nghiên cứu Anh-Thụy Điển đã tiết lộ như vậy. Mặc dầu những khuyến nghị, các phụ nữ theo, ít thường hơn đàn ông, những chương trình réadaptation cardiaque et vasculaire. Cũng sẽ phải đưa nhiều phụ nữ hơn vào những thử nghiệm điều trị, để có thể làm cho những điều trị thich hop hơn voi nữ giới. Chỉ một sự phòng ngừa tốt hơn, một sự phát hiện ở ba giai đoạn chủ yếu của đời sống hormone, một chẩn đoán và một điều trị sớm cũng như một sự theo dõi thật sự mới sẽ cho phép bảo vệ tim của các phụ nữ.
(TOP SANTE 3/2002)

VI.TIM CỦA PHỤ NỮ : NHỮNG ĐẶC THÙ NỮ GIỚI

Từ lâu ta đã tin rằng những vấn đề tim là đặc quyền của những người đàn ông ở lứa tuổi 60 vui sống. Không hề là như vậy. Các phụ nữ ngày càng ít được bảo vệ. «Tim của các phụ nữ được phân bố thần kinh nhiều hơn đàn ông. Vậy tim của họ giàu những thụ thể cảm thụ đối với các kích thích tổ của stress và đối với oestrogène hơn », GS Mounier-Vehier đã giải thích như vậy. Như thế, một sự xáo lộn kích thích tố và một stress (cấp tính hay mãn tính) sẽ có nhiều ảnh hưởng lên tim hơn. Mảnh hơn, những động mạch phụ nữ cũng chịu nhiều co thắt hơn, điều này có thể làm dễ sự tạo thành những vi thương tổn, có thể không được nhận biết trong nhiều năm, nhưng làm yếu tim.
Ở các phụ nữ, rung nhĩ (fibrillation auriculaire), rối loạn nhịp tim thường gặp nhất, cũng gây nên một nguy cơ tai biến mạch máu não 20 đến 30% quan trọng hơn đàn ông, và những hậu quả của nó nói chung nghiêm trọng hơn.

NHỮNG BIẾN CHỨNG CHÍNH
Một cách sơ lược, quá trình luôn luôn giống nhau : một tiểu động mạch hay động mạch bị làm tắc một phần bởi một cục máu đông (thrombus) hay một mảng xơ vữa (plaque d’athérome), tuần hoàn máu bi cản trở, tim ít được phân bố mạch hơn. Nếu tim không còn có thể thực hiện một cách đúng đắn công việc bơm của nó để phóng máu vào trong phần còn lại của cơ thể, ta nói là suy tim. Suy tim có thể xuất hiện một cách lặng lẽ và sau vài năm được thể hiện bởi mệt, hồi hộp và khó thở trước hết lúc gắng sức, rồi dần dần trong đời sống hàng ngày và ngay cả lúc nghỉ ngơi. Suy tim có thể là nguyên nhân của một nhồi máu nhưng nó cũng là di chứng chính của nhồi máu.

NHỒI MÁU CƠ TIM, THÌNH LÌNH VÀ ĐỘT NGỘT
Nếu một vùng của tim ngừng được tưới máu bởi một trong những động mạch vành cung cấp tim oxygène, đó là nhồi máu cơ tim, thình lình và đột ngột, dẫn đến một hoại tử (chết) của một phần của cơ tim. Khi đó phải tức thời gọi 15 hay 112, để được đội cấp cứu xử trí càng sớm càng tốt và để các cardiologue interventionnel sửa chữa/ khai thông động mạch vành nguyên nhân của nhồi máu. Trong đại đa số các trường hợp, để giữ cho động mạch (hay các động mạch) giãn và tái phân bố mạch nó, ta sẽ đặt một hay nhiều stent, những ống nhỏ xíu nhằm giữ cho động mạch mở để phục hồi tuần hoàn máu. Đôi khi, một pontage sẽ được thực hiện : đó là ghép một động mạch hay tĩnh mạch (lấy ở bệnh nhân) giữa động mạch chủ và một động mạch vành để tái lập dòng máu bằng cách « contourner » chỗ hẹp.

 TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO, SỰ CHẾT CỦA NHIỀU TRIỆU NEURONE.
Khi bệnh nhân bị những rối loạn của nhịp tim, một cục máu đông có thể được tạo thành trong những xoang tim và di chuyển vào trong một động mạch não, đó là điều mà ta gọi là một tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ (AVC ischémique).Tai biến này, xảy ra ngày càng nhiều ở những phụ nữ dưới 50 tuổi, gây nên, trong vài phút, sự chết của nhiều triệu neurone và sự mất nhanh của vài năng lực như sự phát âm và tính chuyển động. Một cách đột ngột, bệnh nhân có thể có một nửa mặt không động đậy với miệng bị méo đi, một cẳng chân hay một cánh tay không đáp ứng nữa, thị giác mờ của một mắt, khó phát âm, khó tìm những chữ…Lại nữa, phải phản ứng càng nhanh càng tốt bằng cách gọi 15 hay 112, bởi vì mỗi phút đều quan trọng. Ở bệnh viện, một IRM hay một scanner sẽ cho phép xác nhận chẩn đoán. Nếu còn mô não cần phải cứu, bệnh nhân có thể nhận một thrombectomie mécanique sau khi tiêm một thuốc tiêu huyết khối (médicament thrombolytique) trong một tĩnh mạch (thrombolyse veineuse).« Với sự kiểm soát của X quang, tôi sẽ sử dụng tĩnh mạch đùi để đưa vào nhiều cathéter xếp gối lên nhau, sau đó tôi đưa chúng lên trong động mạch chủ, rồi trong động mạch cảnh và như thế cho đến tận thrombus (cục huyết khối) », BS Fabrice Bing, neuroradiologue interventionnel đã giải thích như vậy. Lúc tiếp xúc với cục máu đông, ta có thể thực hiện một sự hút đơn thuần hay triển khai một stent trong động mạch : đó là điều trị bằng thrombectomie. Như một lưỡi câu, stent này sẽ móc vào thrombus và cho phép đưa nó xuống trở lại và lấy nó ra ngoài. Đồng thời khi ta lấy stent ra, ta nối một bơm hút vào cathéter để đảm bảo rằng thrombus được lấy ra toàn bộ. »

NHỒI MÁU CƠ TIM Ở PHỤ NỮ : NHỮNG DẤU HIỆU KHÔNG ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ ĐÚNG.
Phụ nữ có thể cảm thấy một đau ngực hay một cảm giác nóng rực ở giữa ngực, nhưng, trong 50% các trường hợp, theo GS Mounier-Vehier, thương tổn tim được biểu hiện bởi « những đau ở giữa các xương sườn, trong gáy, những hồi hộp lúc gắng sức và ngay cả những rối loạn tiêu hóa, vài động mạch của thành bên và thành dưới của tim ở gần thực quản. Các phụ nữ thường nghĩ rằng họ đã cảm thấy một cảm giác lo âu mạnh và nguy hiểm. » Và trong 1/4 các trường hợp, họ nhớ đã quan sát vài trong những dấu hiệu này trong những ngày và tuần trước đó, mà không lo ngại, than ôi !

NHỮNG BỆNH LÝ TIM-MẠCH ĐIỂN HÌNH XẢY RA Ở PHỤ NỮ…
Nếu những bệnh lý tim-mạch chính xảy ra ở hai giới tính, vài bệnh lý đa số các trường hợp xảy ra ở phụ nữ.

1. TAKO-TSUBO : trong 90% những trường hợp xảy ra ở một phụ nữ, nói chung trong một xúc cảm mạnh, dầu là tích cực (đám cưới, sinh đẻ…) hay tiêu cực (cãi lộn, đoạn tuyệt, mất việc…). Số những trường hợp cũng đã gia tăng với bầu không khí gây lo âu của đại dịch mới đây. « Stress » này phát khởi một sự phóng thích ồ ạt của catécholamine, tim « phồng lên », đỉnh và thành bên của nó khi đó không thể co bóp nữa, ta nguy cơ ngừng tim. Những triệu chứng là giống với những triệu chứng của nhồi máu cơ tim. Đó là một cấp cứu. Nếu ta hành động nhanh, tim lấy lại hình dáng và những chức năng ban đầu của nó với một điều trị, liên kết với một rééducation cardio-vasculaire.
2. DISSECTION SPONTANÉE DES ARTÈRES CORONAIRES (SCAD) xảy ra ở 8 phụ nữ đối với 2 đàn ông, nói chung trong lứa tuổi 30. « Dạng nhồi máu cơ tim này (với cùng những triệu chứng) thường xảy ra trong năm tiếp theo sau một sinh đẻ », Nabila Bouatia-Naja, nhà nghiên cứu Inserm, đã định rõ như vậy. Bệnh được làm dễ bởi thuốc lá và stress, kích thích những co thắt động mạch, nhưng ta cũng tìm thấy những SCAD này ở những phụ nữ trẻ với một vệ sinh đời sống rất tốt. « Những động mạch vành tưới máu tim bị rạn nứt và gây nên một máu tụ làm tắt một phần hay hoàn toàn động mạch. Vậy tim không còn được tưới máu một cách đúng đắn nữa. » Ta đánh giá rằng ở phụ nữ dưới 60 tuổi, không có yếu tố nguy cơ rõ rệt (tăng thể trọng, cao huyết áp), 1/3 đến 1/4 của những nhồi máu là những SCAD.
3. DYSPLASIE FIBROMUSCULAIRE ARTÉRIELLE cũng gây bệnh ở 80% những phụ nữ, dưới 60 tuổi và có sức khoẻ tốt. Đó là « một bất thường, một phần do di truyền, được thể hiện bởi sự biến dạng của các động mạch. Rất bị hẹpở nhiều nơi (sténoses) và bị phình lên ở những nơi khác (phình động mạch), chúng không còn có năng lực tưới máu một cách đúng đắn những cơ quan sinh tử như tim », nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Những hậu quả chính là một cao huyết áp quan trọng và một nguy cơ gia tăng tai biến mạch máu não.
(TOP SANTÉ 3/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 422 : bài số 5 (athérosclérose), 6 (prévention), 8 (prévention)
– TSYH số 423 : bài số 4 (athérosclérose), 6 (SCA), 7 (angine de poitrine), 9 (IDM)
– TSYH số 424 : bài số 1 (les facteurs de risque)

VII. NHỮNG ĐE DỌA ĐÈ NẶNG LÊN TIM PHỤ NỮ : HÃY NGỪNG NHỮNG ĐỊNH KIẾN

+ Surmenage là nguyên nhân chính của nhồi máu cơ tim
Sai. Ở phụ nữ dưới 50 tuổi, 7 nhồi máu cơ tim trên 10 là do thuốc lá. Chứng nghiện thuốc lá làm cứng các động mạch lại, gia tốc sự lão hóa của chúng và sự phát triển của vữa động mạch (athérome), một lắng đọng được tạo bởi sự tích tụ của mỡ, máu, mô sợi và vôi trên thành trong của các động mạch. Ở các phụ nữ, tác động của thuốc lá lại còn quan trọng hơn, và, vì những động mạch của phụ nữ dễ bị thương tổn hơn, nên tác động còn có hại hơn, với nguy cơ tim mạch 6 lần nhiều hơn đàn ông. Về cannabis, nó gia tăng tần số của tim và làm dễ những rối loạn nhịp tim.

+ Tốt hơn là có một dáng người thanh
Đúng. Một tour de taille trên 88 cm ở phụ nữ là một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng. Thật vậy, những tế bào mỡ (adipocyte), những tế bào chuyên môn hóa trong sự tích trữ mỡ, cũng có thể tiết những chất viêm. Khi chúng càng nhiều, chúng càng làm lan tràn viêm ở bề mặt của các huyết quản, như vậy tạo điều kiện cho sự phát triển của những bệnh tim-mạch. Thế mà nếu mỡ trong bụng có tính chất tấn công hơn, đó là bởi vì nó nằm gần gan hơn, các chất viêm sẽ được trực tiếp phóng thích trong cơ quan này.

+ Diễn biến của thai nghén có thể là một dấu hiệu báo động
Đúng. Mặc dầu mọi chuyện đâu vào đó sau khi sinh, các phụ nữ đã bị đái đường thai nghén (diabète gestationnel) hay cao huyết áp thai nghén (hypertension gravidique), với hoặc không tiền sản giật (pré-éclampsie) (cao huyết áp và sự hiện diện của những protéine trong nước tiểu trong thời kỳ thai nghén), sau đó phải được đặc biệt theo dõi. Thật vậy, nếu không có những biện pháp phòng ngừa, chúng có khả năng hơn phát triển một đái đường loại 2, một cao huyết áp hay một tai biến mạch máu não trong những năm tiếp theo. Thí dụ, tiền sản giật nhân gấp 4 những nguy cơ suy tim và cao huyết áp và tăng gấp đôi nguy cơ tai biến mạch máu não.

+ Thuốc ngừa thai xấu đối với tim
Đúng. « Đó nhất là những oestrogène tổng hợp, mà ta cũng tìm thấy trong những anneau và patch contraceptifs », GS Geneviève Plu-Bureau, gynécologue médicale đã định rõ như vậy. Chính vì vậy, trước khi kê đơn một thuốc ngừa thai, thầy thuốc phải đo huyết áp và kê đơn (trong trường hợp tiền sử gia đình về đái đường hay dyslipidémie) một bilan máu hoàn toàn (glucose huyết, cholestérol…). Trước hết thầy thuốc sẽ kể đơn một thuốc ngừa thai thế hệ thứ hai chứa lévonorgestrel. Sau đó những yếu tố nguy cơ khác nhau sẽ được theo dõi đều đặn (lên cân quan trọng, thuốc lá, tiền sử gia đình về bệnh lý huyết quản…) ; có thể xảy ra giữa hai buổi khám bệnh.

+ Không nên điều trị mãn kinh bằng hormone
Sai. Ta càng bị nhiều phừng mặt (bouffée de chaleur) (trên 6 lần mỗi ngày), nguy cơ tim-mạch dường như càng quan trọng. « Điều trị mãn kinh bằng kích thích tố (patch và gel transdermique) làm giảm một cách hiệu quả những rối loạn mãn kính này, thầy thuốc phụ khoa đã đảm bảo như vậy, và, liên kết với progestérone tự nhiên, nó sẽ làm giảm ngay cả nguy cơ động mạch vành nếu nó được bắt đầu khá sớm sau mãn kinh. » Tuy nhiên phải luôn luôn đánh giá nguy cơ tim mạch trước khi kê đơn điều trị này, bởi vì nó không được khuyến nghị ở những phụ nữ có nguy cơ tim mạch cao hay sau một tai biến mạch máu não, một nhồi máu cơ tim hay một nghẽn tắc động mạch phổi quan trọng. «Ta cũng không khuyến nghị điều trị hormone sau 60 tuổi cũng như hơn 10 năm sau khởi đầu mãn kinh », GS Mounier-Vehier đã nói thêm như vậy.

+ Lo âu, stress và trầm cảm gia tăng nguy cơ các bệnh tim mạch.
Đúng. Thí dụ, bằng cách phóng thích vài hormone, như cortisol, sự lo âu gia tăng huyết áp, gia tốc nhịp tim hay làm dễ sự đề kháng với insuline, bấy nhiêu yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ở phụ nữ, tác động của chúng lại càng bất lợi hơn trên hệ thần kinh tự trị vì hệ này điều hòa huyết áp và nhịp tim.

+ Nếu tim bắt đầu đập nhanh, phải luôn luôn gọi 15.
Sai. Nếu không có tiền sử tim, tim nhịp nhanh là một phản ứng bình thường đứng trước một sự sợ hãi, một stress hay trong một hoạt động vật lý. Ngược lại, nếu tim nhịp nhanh được kèm theo bởi một cảm giác khó ở hay một sự mất tri giác, một khó thở bất thường hay một đau ngực, hãy gọi cấp cứu.
(TOP SANTÉ 3/2022)

VIII. MALADIE DE LAPEYRONIE : NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI

Rat handicapant, bệnh tác động đến dương vật. Bệnh lý này trong thời đại của chúng ta có thể điều trị được. GS Lebret mô tả các dạng vẻ của nó.

Hỏi : Đó là gì vậy ?
GS Thierry Lebret : Đó là một bệnh được mô tả vào năm 1743 boi BS François Gigot de Lapeyronie, thầy thuốc ngoại khoa hạng nhất của Louis XV. Bệnh là do một sự xơ hóa (fibrose) của vỏ (được gọi là albuginée) bao quanh những thể hang (corps caverneux) của dương vật , được canxi hóa ít hay nhiều. Tôi nhắc lại rằng những thể hang này được cấu tạo bởi những nang (alvéole), khi được làm đầy máu, cho phép su cương của dương vật. Đau khi cương là dấu hiệu đầu tiên của căn bệnh này. Triệu chứng đau thể hiện một viêm của albuginée. Tiếp theo là quá trình xơ hóa. Tác dụng của sự xơ hóa là tác dụng của một hauban (dây néo cột buồm). Sau vài tuần hay vài tháng, bệnh thuyên giảm trong khi dương vật cong lại dần dần từ 10 độ đến…120 độ (dương vật lật ngược về phía bụng của bệnh nhân !) Trong phần lớn các trường hợp chỉ một phần cong duy nhất. Có thể có những biến dạng phức tạp với nhiều phần cong.

Trong mặt lõm của phần cong, bệnh nhân có thể sờ thấy dưới da những thể cứng (plaque hay nodule), là những vùng xơ hóa. Bệnh Lapeyronie gây bệnh ở 2% đến 3% những người đàn ông, một tỷ lệ bị đánh giá thấp. Bệnh nói chung xảy ra vào khoảng 50 tuổi. Những thể sớm, giữa 20 và 30 tuổi, cũng hiện hữu. Những bệnh lý cân mạc (pathologies aponévrotiques) tương tự, như bệnh Dupuytren (bàn tay) hay bệnh Ledderhose (lòng bàn chân) đôi khi được liên kết với bệnh Lapayronie. Tuy vậy, không có thể trạng di truyền được xác lập một cách rõ ràng. Ta nghi ngờ một vai trò của stress (thí dụ sau phẫu thuật nặng nề), gây một phản ứng tự miễn dịch xảy ra ở albuginée. Bệnh Lapeyronie có một tác động lên sexualité, đến độ đôi khi làm cho những giao hợp không thể thực hiện.

Hỏi : Bilan gồm những gì ?
GS Thierry Lebret : Những thăm dò siêu âm hay chụp hình ảnh thường là vô ích. Những photo chính diện và nghiêng (lúc cương), được cung cấp bởi bệnh nhân, cho phép đo độ cong. Điều cũng quan trọng là cần phân biệt bệnh này với chấn thương albuginée do tai nạn (vỡ) trong khi giao hợp : « faux pas du coit » này được kèm theo bởi một máu tụ cần tháo cấp cứu bởi ngoại khoa để ngăn ngừa mọi nguy cơ xơ hóa về sau.

Hỏi : Những điều trị hiện có là gì ?
GS Thierry Lebret : Ta làm cho chúng thích hợp với những triệu chứng của bệnh nhân. Những điều trị bằng đường miệng ít hiệu quả. Những corticoide tiêm tại chỗ làm thuyên giảm đau trong giai đoạn viêm. Vào giai đoạn xơ hóa, những expandeur de la verge(ở trạng thái nhuyễn), được đặt giữa pubis và gland, mà bệnh nhân dùng tại nhà 2-3 giờ mỗi ngày có thể đủ. Nếu không, ngoại khoa vẫn là phương pháp hiệu quả nhất. Đó có thể là : 1. Một plicature bằng những fils non résorbable kéo dương vật theo chiều ngược lại với đoạn cong (không đau nhưng rút ngắn dương vật ít hay nhiều tùy theo trường hợp). 2. Cắt bỏ những plaque hay những nodule mà ta thay thế bằng một tissu composite (không rút ngắn nhưng có thể có những rối loạn cảm giác). Ta dành kỹ thuật này cho những đoạn cong trên 80 độ. 3. Trong trường hợp bất lực (impuissance) hay không thể giao hợp, implant pénien là một cùng kế. Nó dựng lại dương vật, phục hồi tính cứng đồng thời gìn giữ cảm giác của gland. Vài điều trị đã bị bỏ vì những kết quả thất thường (iontophorèse làm dễ sự đi vào tại chỗ của thuốc bằng một dòng điện) ; những điều trị khác vì phí tổn của chúng (tiềm collagénase, enzyme tiêu hủy fibrose). Một hy vọng vào sự sử dụng plasma giàu những tiểu cầu được lấy ở bệnh nhân. Tác dụng có lợi của nó đang được nghiên cứu, cơ chế tác dụng còn chưa được biết rõ. Sau cùng, những onde de choc từ (magnétique) hay électroacoustique, có thể làm vỡ plaque và phóng thích những sợi thần kinh (tác dụng giảm đau): 4 buổi điều trị 20 phút (4000 impacts mỗi session), cách nhau 7-15 ngày, được đòi hỏi. Một thử nghiệm lớn quy mô quốc gia đang được tiến hành (Suresnes, Nice, Montpellier, Toulouse) trong mục đích đánh giá lợi ích của kỹ thuật này.
(PARIS MATCH 6/1-12/1/2022)

IX. BỆNH VERNEUIL VỚI 5 CÂU HỎI
Bị nhận biết muộn, bệnh ngoài da này biến đổi sâu đậm chất lượng sống. BS Claire Fenoll giải thích những nguyên nhân.

Hỏi : Bệnh Verneuil là gì ?
BS Claire Fenoll : Đó là một bệnh viêm mãn tính của các nang lông (follicules pileux), bắt đầu vào tuổi thiếu niên hay ít lâu sau đó. Ban đầu được mô tả bởi BS Aristide Verneuil vào năm 1854, bệnh này cũng được gọi hidradénite suppurée. Bệnh xảy ra ở 3 phụ nữ đối với một người đàn ông và chỉ liên quan khoảng 1% dân số thế giới. Bệnh thường bị sai lầm chẩn đoán (errance diagnostique) (trung bình 7 năm và sáu thầy thuốc được khám).

Hỏi : Nguyên nhân là gì ?
BS Claire Fenoll : Nhiều yếu tố có thể kết hợp với nhau.

1. Một sự mất cân bằng của flore bactérienne của da (được gọi là « commensale »), liên kết hay có lẽ được gây nên bởi một sự rối loạn miễn dịch (dérèglement immunitaire). Ở trạng thái bình thường, flore bactérienne này tạo nên trên bề mặt một film chứa các mầm không sinh bệnh (500.000 đến nhiều triệu mỗi cm vuông) cần thiết cho sự bảo vệ da và cho miễn dịch của chúng ta. Những étude cartographique của Viện Pasteur đã cho thấy sự hiện diện bất thường, trong những thương tổn của bì sâu (derme profond) do bệnh Verneuil này,của vài vi khuẩn (nhất là kỵ khí, nghĩa là tăng trưởng không oxygène). Bệnh bắt đầu bằng một lỗ bị bít ở chân lông, bẫy những vi khuẩn này, sinh ra những độc tố phá hủy các mô và gây nên các áp xe sâu. Một khi đợt bộc phát giảm bớt, những mầm bệnh này vẫn yên ngủ trong những đường hầm sẹo (tunnel cicatriciel) (réservoirs) dưới dạng biofilm có thể tái kích hoạt.

2. Vài thể trạng làm dễ bệnh Verneuil : tăng thể trọng (70% những bệnh nhân), đái đường, di sản di truyền (patrimoine génétique) (những áp xe tương tự từng xảyra trong gia đình ở 1/3 những bệnh nhân), vài bệnh viêm (Crohn, spondylarthritre, syndrome des ovaires polykystiques), đôi khi những thuốc làm suy giảm miễn dịch (những thuốc chống viêm, những thuốc làm suy giảm miễn dịch).

3. Stress, mệt và bệnh trầm cảm có thể là những yếu tố khởi phát.

4. Tabagisme làm chậm lại sự lành sẹo của các thương tổn.

Hỏi : Bệnh được biểu hiện như thế nào ?
BS Claire Fenoll : Bệnh được biểu hiện bởi những kyste profond hay những abcès rất đau ở nách, nhưng nếp bẹn, mông, đáy chậu (périnée) và đôi khi mặt. Bệnh tiến triển bằng những đợt viêm thường rất handicapant, được kèm theo bởi những chất nước rỉ hôi thối. Bệnh có khuynh hướng, nhờ những đường hầm dưới da, tái phát và tạo những sẹo xấu hình chân cua điển hình. Chất lượng sống bị ảnh hưởng (bệnh nhân thường trầm cảm). Mức độ nghiêm trọng được đánh giá bởi một échelle de score (ba giai đoạn của Hurley), đi từ những poussée de nodules hai đến ba lần mỗi năm đến những thể nặng với những placard douloureux suppurant gần như thường trực. May mắn thay, thể ít nghiêm trọng nhất xảy ra ở 70% những bệnh nhân !

Hỏi : Điều trị gồm những gì ?
BS Claire Fenoll : Trước hết là điều trị nội khoa và bao gồm những quy tắc vệ sinh-tiết thực : ngừng thuốc lá, mất tăng thể trọng bằng hoạt động vật lý thích hợp và chế độ ăn uống cân bằng. Cũng phải tránh những quần áo tổng hợp và tránh cạo râu (tốt hơn nên dùng tondeuse, crème dépilatoire…), học quản lý stress. Điều trị tấn công dựa trên những phối hợp kháng sinh thích ứng với mức độ nghiêm trọng. Điều trị tấn công sẽ được tiếp theo bởi mor điều trị nền. Nếu điều trị thất bại hay nếu có một bệnh viêm liên kết, một thuốc điều biến miễn dịch (anti-cytokine như adalimumab) được kê đơn. Ngoại khoa, khu trú hay mở rộng nếu cần, được dành cho những thương tổn tái phát trong 6 tháng sau khi thuyên giảm mặc dầu liệu pháp kháng sinh nền, và được dành cho những thể tiến triển để hủy bỏ những đường hầm dưới da chứa những biofilm. Điều thiết yếu là cần tiết kiệm da phải lấy đi. Sự sử dụng phòng ngừa của laser Yag cho phép một sự làm rụng lông vĩnh viễn, ngoài tác dụng chống viêm, làm giảm số các nang lông và do đó số các đợt bộc phát.

Hỏi : Khám ai ?
BS Claire Fenoll : Một thầy thuốc đa khoa có năng lực về vấn đề này hay một dermatologue của réseau Verneuil. Tóm tắt, một thầy thuốc thực hành mà sự vấn chẩn sẽ bao trùm những nguyên nhân và những yếu tố góp phần và biết đảm bảo một điều trị nhiều chuyện khoa.
(PARIS MATCH 23-29/9/2021)

X. TUỔI THỌ TĂNG GẤP ĐÔI TRONG MỘT THẾ KỶ
Theo Institut national d’études démographiques, ở Pháp hy vọng sống đã tăng gấp đôi chỉ trong thế kỷ XX. Vào năm 2021, hy vọng sống đã được xác lập là 79,3 tuổi đối với đàn ông và 85,4 tuổi đối với đàn bà. Giới tính, chỉ số khối lượng cơ thể, chế độ ăn uống và hoạt động vật lý là những yếu tố quyết định chủ yếu, cũng như những tiến bộ y khoa chống ung thư và những bệnh tim mạch
(PARIS MATCH 10/3-16/3/2022) Đọc thêm :
– TSYH số 447 : bài số 8
– TSYH số 359
– TSYH số 179 : bài số 1
– TSYH số 52 : bài số 7

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(15/4/2022)


 

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s