Cấp cứu dạ dày ruột số 31 – BS Nguyễn Văn Thịnh

DiverticulitisVIÊM TÚI CÙNG
(DIVERTICULITIS)

Nathaniel S. Bowler
Resident Physician
University of Michigan Medical Center
Saint-Joseph Mercy Hospital

– Diverticulosis để chỉ sự hiện diện của những túi niêm mạc nhỏ trong thành của ruột già.
– Viêm túi cùng (diverticulitis) chỉ sự hiện diện của viêm và nhiễm trùng ở túi cùng (diverticulum)
– Diverticulosis gây bệnh cho 1/3 những người trên 45 tuổi và đến 2/3 những người trên 80 tuổi.
– Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở Hoa Kỳ, châu Âu, và Úc châu và có thể liên hệ với một sự thiếu hụt toàn bộ sợi trong chế độ ăn.
– </= 25% những bệnh nhân với diverticulosis tiến triển thành viêm túi cùng.

I. SINH LÝ BỆNH
– Các túi cùng được đặc trưng về cấu trúc bởi thoát vị niêm mạc (mucosal herniation) qua thành đại tràng.
– Viêm túi cùng xảy ra khi một túi cùng bị tắc nghẽn bởi phân bị nêm chặt (impacted stool) trong cổ của túi cùng, dẫn đến viêm và thủng nếu không được điều trị.
– Ở các xã hội phương tây, </= 90% những bệnh nhân có thương tổn của đại tràng sigma.
– Những trường hợp có thể tiến triển thành thủng, tạo thành áp xe, tắc ruột, hay rò túi cùng (diverticular fistula).

II. LÂM SÀNG
– 93-100% có triệu chứng đau bụng, chủ yếu ở hố chậu trái, trong trường hợp viêm túi cùng của đại tràng sigma.
– Những triệu chứng khác gồm có nôn, mửa, bón, ỉa chảy, khó tiểu, và tiểu nhiều lần.
– Sốt thường xảy ra, và những bất thường dấu hiệu sinh tử khác có thể hiện diện.
+ Tim nhịp nhanh và hạ huyết áp phải khiến nghi ngờ thủng và báo hiệu cần phải hồi sức.
– Thăm khám vật lý thuờng chứng tỏ nhạy cảm đau khu trú (localized tenderness) ở hố chậu trái, ngoại trừ trong trường hợp bệnh lý phía phải.
– Đề kháng khu trú (localized guarding), nhạy cảm đau dội ngược khu trú, hay một khối u có thể ẩn chẩn có thể hiện diện.
– Thăm khám trực tràng có thể phát hiện nhạy cảm đau và nên xét nghiệm để tìm máu (xuất huyết nhiều hiếm khi xảy ra trong viêm túi cùng).
– 25% những bệnh nhân với viêm túi cùng có Hemoccult dương tính.

III. XỬ TRÍ Ở PHÒNG CẤP CỨU
1. CHẨN ĐOÁN
– Những xét nghiệm ban đầu gồm có công thức máu, xét nghiệm nước tiểu, và một phim chụp X quang bụng tư thế nằm và đứng để tìm thủng hay tắc
– Trong những bệnh cảnh cổ điển của viêm túi cùng, trong đó những bệnh lý phụ khoa hay niệu khoa khác đã thật sự được loại trừ, chẩn đoán viêm túi cùng có thể được thực hiện chỉ trên những tiêu chuẩn lâm sàng.
– Trong những trường hợp chẩn đoán có vấn đề, những phương thức chụp hình ảnh gồm CT scan, contrast enema, và siêu âm.
+ Thăm dò chụp hình ảnh chọn lựa là chụp cất lớp vi tính, có tính nhạy cảm </=97% và tính đặc hiệu 75-100%. Phương pháp này có thêm ưu điểm là có thể định vị bệnh lý ở những hệ cơ quan khác và, do đó, đã trở thành phương thức chẩn đoán chọn lựa ở hầu hết phòng cấp cứu.
2. ĐIỀU TRỊ
– Những phương thức điều trị là các kháng sinh bằng đường miệng hay tĩnh mạch, và dẫn lưu ngoại khoa hay qua da.
– Vài yếu tố ảnh hưởng lên thái độ xử trí :
+ Tuổi : Viêm túi cùng cấp tính độc lực hơn ở người già
+ Đau : Các bệnh nhân thường cần narcotics băng đường tĩnh mạch
+ Sức khỏe của bệnh nhân : Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, những bệnh nhân đái đường, sử dụng steroids, và những bệnh nhân suy thận có thể cần kháng sinh tiêm tĩnh mạch và tái đánh giá.
+ Định vị : Viêm túi cùng phía phải độc lực hơn phía trái.
+ Các kháng sinh được sử dụng phải hiệu quả chống lại các trực khuẩn gram âm và những vi khuẩn ky khí.
– Những chế độ điều trị kháng sinh tĩnh mạch gồm có :
+ Metronidazole hay clindamycin cộng một aminoglycoside, monobactam (Azactam), hay cephalosporine thế hệ thứ ba.
+ Ampicillin/sulbactam, ticarcillin/clavunate, và cefotetan là những kháng sinh thay thế
– Những chế độ điều trị kháng sinh bằng đường miệng gồm :
+ SMX-TMP + metronidazole
+ Quinolone + metronidazole
– Những áp xe túi cùng có thể được điều trị bảo tồn hay tích cực
+ Những áp xe nhỏ quanh đại tràng có thể tan biết với chỉ điều trị kháng sinh và bowel rest
+ Những áp xe lớn có thể được điều trị bằng dẫn lưu qua da hay ngoại khoa.
+ Cắt bỏ vùng của đại tràng bị thương tổn thường được xét đến sau hai đợt viêm túi cùng không biến chứng.
3. XỬ TRÍ
+ Những viêm túi cùng không biến chứng (uncomplicated diverticulitis) ở những bệnh nhân có thể chịu được thuốc viên, không có những triệu chứng toàn thân hay những dấu hiệu phúc mạc, và ở những bệnh nhân mà triệu chứng đau có thể được kiểm soát với thuốc giảm đau bằng đường miệng có thể được xét để điều trị ngoại trú.
– Các bệnh nhân được cho về nhà phải đủ tin cậy trong việc uống thuốc và theo dõi ở thầy thuốc gia đình.
– Họ được điều trị ngoại trú với chế độ ăn lỏng, kháng sinh bằng đường miệng, và những thuốc giảm đau thích hợp.
+ Tất cả những bệnh nhân khác nên được nhập viện để điều trị kháng sinh bằng đường tĩnh mạch và bowel rest.

Emergency Medicine. Quick Glance

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/9/2014)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu dạ dày ruột, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s