Cấp cứu hô hấp số 29 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HO RA MÁU
(HEMOPTYSIS)

James E. Winslow, M.D
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
Wake Forest University School of Medicine
Winston-Salem, North Carolina

Ho ra máu là khạc ra máu từ cây phế quản phổi. Ho ra máu nặng (massive hemoptysis) là một cấp cứu và được định nghĩa hơn 600 mL trong 24 giờ và đòi hỏi can thiệp nhanh để tránh ngạt thở do suy giảm trao đổi khí. Ho ra máu nhẹ (minor hemoptysis) là sự sản xuất những lượng máu nhỏ, thường trộn lẫn với niêm dịch, và cũng đòi hỏi xử trí cẩn thận ở phòng cấp cứu.

I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Ho ra máu có thể là triệu chứng khám bệnh đối với nhiều bệnh khác nhau. Một bệnh sử cẩn thận nên được thực hiện để đánh giá đối với bất cứ bệnh phổi nào hay bệnh sử dụng thuốc lá. Khởi đầu cấp tính với sốt, ho, và đờm có máu (bloody sputum) có thể chỉ viêm phổi hay viêm phế quản. Một triệu chứng ho sinh đờm không đau có thể chỉ viêm phế quản hay giãn phế quản. Khó thở và pleuritic chest pain thường là những chỉ dấu của nghẽn tắc động mạch phổi (pulmonary embolisme). Lao nên được xét đến nếu có một bệnh sử sốt hay vã mồ hôi ban đêm (night sweats). Ung thư phổi (bronchogenic carcinoma) có thể biểu hiện với mất cân kinh điển và một sự biến đổi của triệu chứng ho. Khó thở mãn tính và ho ra máu thể nhẹ có thể chỉ hẹp van hai lá (mitral stenosis) hay hội chứng xuất huyết phế nang (alveolar hemorrhage syndrome). Hội chứng xuất huyết phế nang thường được liên kết với bệnh thận.
Khám vật lý có mục đích đánh giá mức độ nghiêm trọng của ho ra máu và quá trình bệnh nguyên nhưng thường hữu ích trong việc định vị nơi xuất huyết. Những dấu hiệu thông thường gồm có sốt và thở nhịp nhanh. Thở nhịp nhanh có thể là một dấu hiệu của suy giảm hô hấp với giảm oxy huyết. Hạ huyết áp là một dấu hiệu xấu bởi vì nó chỉ thường xảy ra ở ho ra máu thể nặng (massive hemoptysis). Khám tim có thể cho thấy bệnh van tim (thí dụ tiếng thổi trương tâm của hẹp van hai lá). Thính chẩn phổi có thể cho thấy những ran nổ thì thở vào (inspiratory crackles) do máu trong phế nang hay những ran nổ thì thở ra (expiratory crackles) do các chất tiết hay máu trong đường dẫn khí. Các xoang mũi và miệng nên được nhìn cẩn thận để giúp loại bỏ một nguyên nhân ngoài phổi của xuất huyết (pseudohemoptysis)

II. CHẨN ĐOÁN VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Một bệnh sử và một thăm khám cẩn thận có thể gợi ý một chẩn đoán. Pulse oxymetry và một X quang ngực thường là những thăm dò hữu ích nhất. Những phim X quang ngực tư thế thẳng và nghiêng nên được thực hiện trừ phi bệnh nhân không ổn định. Bệnh cảnh lâm sàng xác định những thăm dò khác có hữu ích hay không. Vài trong những thăm dò bổ sung này có thể là khí huyết động mạch (arterial blood gas), những nồng độ hemoglobin và hematocrit, số lượng tiểu cầu, xét nghiệm đông máu, phân tích nước tiểu, và điện tâm đồ. Chụp cắt lớp vi tính ngực nên được xét đến nếu có ho ra máu với phim X quang ngực bất thường. Chẩn đoán phân biệt gồm có những căn nguyên nhiễm trùng, tân sản (neoplastic), và tim. Những nguyên nhân nhiễm trùng gồm có viêm phế quản, giãn phế quản, viêm phổi vi khuẩn, lao phổi, viêm phổi do nấm (fungal pneumonia) và áp xe phổi. Những nguyên nhân tân sản (neoplastic) gồm có bronchogenic carcinoma và bronchial adenoma. Những căn nguyên do tim gồm có hẹp van hai lá (mitral stenosis) và suy thất trái. Chấn thương, hít vật lạ, nghẽn tắc động mạch phổi, tăng áp lực động mạch phổi nguyên phát (primary pulmonary hypertension), viêm huyết quản phổi (pulmonary vasculitis), và thể trạng xuất huyết (bleeding diathesis) là những nguyên nhân khả dĩ khác. Không có chẩn đoán xác định trong 28% các trường hợp.

III. XỬ TRÍ Ở PHÒNG CẤP CỨU
1. Cho oxy bổ sung để duy trì oxygenation thích đáng.
2. Normal saline hay lactated Ringer nên được cho ban đầu đối với hạ huyết áp.
3. Máu nên được phân loại và làm phản ứng chéo nếu truyền máu có thể cần. Khối hồng cầu (packed RBC) nên được truyền nếu cần.
4. Huyết tương tươi đông lạnh (FFP : fresh frozen plasma) 2 đơn vị nên được cho ở những bệnh nhân với bệnh đông máu : nên cho tiểu cầu khi có giảm tiểu cầu (thrombocytopenia)
5. Những bệnh nhân với xuất huyết ồ ạt và liên tục nên được đặt nằm nghiêng
6. Codeine (15-30 mg) hay những opioids khác có thể hữu ích để làm ngừng ho.
7. Nội thông khí quản với ống đường kính lớn (8mm) nên được thực hiện nếu có suy hô hấp hay nếu bệnh nhân không thể khạc máu hay các chất tiết ra khỏi đường dẫn khí. Một ống nội thông cỡ lớn hơn sẽ cho phép hút tốt hơn và cho phép soi phế quản.
8. Bất cứ bệnh nhân nào với ho ra máu mức độ vừa phải đến nặng cần phải nhập viện, và cần phải xét đến để đưa vào phòng hồi sức. Những bệnh nhân với ho ra máu nhẹ nhưng có những tình trạng tạo điều kiện xuất huyết nặng cũng được xét để đưa vào khoa hồi sức. Sự tham gia của thầy thuốc chuyên khoa phổi hay giải phẫu ngực được đòi hỏi để quyết định có cần phải soi phế quản,,, chụp cắt lớp vi tính hay chụp mạch để embolization động mạch phế quản (bronchial artery). Nếu không có những chuyên gia thích hợp, bệnh nhân phải được ổn định rồi chuyển đến cơ sở thích hợp.
9. Những bệnh nhân được cho về nhà nên được điều trị trong vài ngày với những thuốc chống ho (thí dụ codeine 15-30 mg mỗi 4 đến 6 giờ), inhaled beta-agonist bronchodilators nếu cần, và các kháng sinh nếu nhiễm trùng vi khuẩn được cho là nguyên nhân. Theo dõi sát là điều thiết yếu.

Emergency Medical Manual. Sixth Edition.2004

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/2/2015)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu hô hấp, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s