Hồi sinh cao cấp trẻ sơ sinh và nhi đồng, Chương II Phần II – BS Nguyễn Văn Thịnh

EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT
CHƯƠNG II
HỒI SỨC TIM PHỔI CƠ BẢN
(REANIMATION CARDIOPULMONAIRE DE BASE)

Những Mục   Tiêu

Vào cuối chương này, các bạn sẽ có khả năng :

  •   Hiểu rằng sự phòng ngừa   ngừng tim hô hấp là một ưu tiên trong xử trí trẻ em   bị bệnh hay chấn thương.
  •   Biết rằng sự tiến hành   nhanh và hiệu quả một hồi sức tim phổi cơ bản, với sự kích hoạt của AMU (aide   médicale urgente) và sự áp dụng hồi sức cao cấp (réanimation médicalisée) gồm   làm ổn định, vận chuyển và phục hồi là những giai đoạn chủ yếu cho phép làm   giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ bệnh trong tình huống ngừng tim hô hấp.
  •   Có khả năng thực hiện   những giai đoạn khác nhau của hồi sức nhi đồng cơ bản cũng như những giai   đoạn lấy ra một vật lạ được hít vào.
  •   Hiểu được tính hợp lý của   những dị biệt trong những kỹ thuật hồi sức của nhũ nhi và của trẻ em.

PHẦN II

III. SỬ DỤNG MÁY PHÁ RUNG NGOÀI TỰ ĐỘNG Ở TRẺ EM
Một máy phá rung ngoài tự động chuẩn có thể được sử dụng ở trẻ em trên 8 tuổi. Một máy phá rung ngoài tự động được trang bị với một atténuateur pédiatrique được khuyến nghị ở trẻ em từ 1 đến 8 tuổi. Nếu không có atténuateur pédiatrique, hãy sử dụng máy phá rung ngoài tự động chuẩn.
CHUỖI SỬ DỤNG MÁY PHÁ RUNG NGOÀI TỰ ĐỘNG Ở TRẺ EM
1. Hãy đảm bảo rằng đứa bé và những người chung quanh được an toàn
2. Hãy bắt đầu hồi sức tim phổi một cách thích đáng.
Nếu có hai hoặc nhiều người cứu, một trong hai sẽ đi kiếm sự hỗ trợ và mang lại một máy phá rung ngoài tự động nếu có sẵn. Nếu người cứu chỉ một mình, anh ta trước hết sẽ thực hiện một phút hồi sức tim phổi trước khi đi gọi cứu và trước khi đi kiếm máy phá rung ngoài tự động (trừ phi nguyên nhân có khả năng do tim).
Trong tất cả các trường hợp, đừng nối máy phá rung ngoài tự động trước khi đã thực hiện hồi sức tim phổi trong một phút.
3. Hãy bắt điện máy phá rung ngoài tự động và đặt các điện cực (hay những điện cực nhi đồng nếu được chỉ định). Nếu có nhiều người sơ cứu, hồi sức tim phổi sẽ được tiếp tục trong thời gian này.
4. Hãy theo những khẩu lệnh hay thị lệnh của máy phá rung ngoài tự động.
5. Đảm bảo rằng không ai đụng nạn nhân trong khi máy phá rung ngoài tự động phân tích nhịp.
6. Nếu một sốc điện được chỉ định :
– Đảm bảo rằng không ai đụng đứa trẻ
– Ấn nút ” CHOC”
– Tiếp tục hồi sức tim phổi
7. Nếu không có chỉ định sốc điện :
– Tái tục ngay hồi sức tim phổi
– Tiếp tục theo những khuyến nghị thị giác/lời nói
8. Hay tiếp tục hồi sức tim phổi cho đến khi :
– Một người giúp có năng lực đến
– Đứa trẻ thở lại bình thường
– Bạn bị kiệt sức.

IV. TẮC ĐƯỜNG DẪN KHÍ BỞI MỘT VẬT LẠ
1/ NHẬN BIẾT TẮC ĐƯỜNG KHÍ BỞI MỘT VẬT LẠ
Khi một vật lạ đi vào trong đường dẫn khí, đứa bé phản ứng tức thời bằng cách ho để cố tống xuất nó ra. Một phản xạ ho tự nhiên có hiệu quả hơn và an toàn hơn mọi thủ thuật khác mà một người cứu có thể thực hiện. Tuy nhiên nếu không có phản xạ ho hay nếu không hiệu quả và nếu vật lạ làm tắc hoàn toàn đường dẫn khí đứa bé ngạt thở một cách nhanh chóng. Do đó một can thiệp để lấy đi vật lạ là cần thiết chỉ khi nào ho không có hiệu quả, nhưng trong trường hợp này, những thủ thuật phải được bắt đầu một cách nhanh chóng và với sự quyết tâm.
Phần lớn những trường hợp hít vật lạ ở nhũ nhi hay trẻ em xảy ra trong khi chơi hay trong khi ăn, và thường xảy ra với sự hiện diện của một người lớn. Vậy thường có một nhân chứng của biến cố và do đó phần lớn các can thiệp được bắt đầu trong khi đứa trẻ đang còn tỉnh táo.
Sự hít vào vật lạ được đặc trưng bởi sự xuất hiện một suy kiệt hô hấp liên kết với ho, những dấu hiệu ngạt thở hay một tiếng rít.
Những dấu hiệu và triệu chứng như thế cũng có thể do những nguyên nhân tắc đường dẫn khí khác, như một viêm thanh quản hay một viêm nắp thanh quản, sẽ cần một xử trí khác.
Hãy nghĩ đến một vật lạ nếu :
– Khởi đầu rất đột ngột
– Không có những dấu hiệu khác của bệnh
– Có những chỉ dấu báo động người cứu, thí dụ một bệnh sử chơi hay đưa vào miệng những vật nhỏ hay bữa ăn ngay trước khi xuất hiện các triệu chứng.

2/ ĐỨA BÉ TỈNH TÁO VỚI TÁC ĐƯỜNG KHÍ BỞI MỘT VẬT LẠ
– Nếu đứa trẻ luôn luôn tỉnh táo nhưng không ho hay ho không hiệu quả, hãy cho 5 vỗ vào lưng (tapes dorsales)
– Nếu 5 vỗ vào lưng không cho phép tổng xuất vật lạ, hãy cho 5 ép ngực ở nhũ nhi và 5 ép bụng ở trẻ em. Những thủ thuật này tạo nên một phản ứng ho nhân tạo nhằm làm gia tăng áp suất trong ngực và tống xuất vật lạ.
a. VỖ LƯNG
+ Ở NHŨ NHI
– Đặt trẻ trên cẳng tay tư thế sấp, đầu thấp hơn phần còn lại của cơ thể dễ sử dụng trọng lượng nhằm loại bỏ vật lạ.
– Người cứu ngồi hoặc qùy phải có thể giữ chắc đứa bé trên các đầu gối.
– Đầu của nhũ nhi được giữ bằng cách đặt ngón cái ở góc xương hàm dưới và một hay hai ngón tay của cùng bàn tay trên góc kia của xương hàm.
– Không đè ép các mô mềm của xương hàm, bởi vì điều đó có thể làm tắc thêm đường khí.
– Hãy vỗ 5 vỗ vào lưng với gót của một bàn tay, giữa hai xương bã vai.– Mục đích là làm cho vật lạ ra vào mỗi lần vỗ hơn là cho tức thời
5 vỗ.
+ Ở TRẺ EM TRÊN MỘT TUỔI
– Những vỗ lưng hiệu quả hơn nếu trẻ nghiêng đầu xuống dưới.
– Trẻ nhỏ có thể được đặt trên các đầu gối của người cứu như đối với nhũ nhi.
– Nếu điều đó không thể thực hiện, hay nghiêng đứa trẻ về phía trước và bạn đứng sau nó và cho những cú vỗ vào lưng.
Nếu các vỗ lưng không cho phép làm bật vật lạ ra và nếu đứa trẻ luôn luôn tỉnh táo, hãy bắt đầu ấn ngực đối với các nhũ nhi và những ấn bụng ở trẻ em.
Những ấn bụng (thủ thuật Heimlich) không được dùng ở nhũ nhi.
b. ẤN NGỰC Ở NHŨ NHI
– Nhũ nhi phải được xoay ở tư thế ngửa đầu hướng xuống dưới. Điều này đạt được bằng cách đặt cánh tay rổi của người cứu dọc theo lưng của đứa bé đồng thời bao quanh vùng chẩm với bàn tay.– Hãy đỡ đứa bé trên cánh tay bạn, và cánh tay này được đặt trên đùi bạn.– Hãy nhận diện những điểm mốc đối với ấn ngực (một nửa dưới của xương ức, 1 ngón tay trên mõm ức).
– Hãy cho 5 ấn ngực. Những ấn ngực này tương đương với 5 xoa bóp ngoài tim nhưng rõ nét hơn và được cho chậm hơn.c. ẤN BỤNG ĐỐI VỚI TRẺ TRÊN 1 TUỔI
– Hãy ở vào vị trí hay qùy sau đứa bé. Hãy đặt các bàn tay của bạn dưới các cánh tay của đứa bé thế nào để ôm vòng lấy ngực của nó.
– Hãy kẹp nắm tay lại và đặt nó ở giữa rốn và mõm ức.
– Hãy che nắm tay này bằng bàn tay kia và thực hiện một cử động rõ nét từ ngoài vào trong và từ dưới lên trên.
– Hãy lập lại cử động này 5 lần
– Hãy đảm bảo rằng không đè lên mõm ức hay lồng ngực điều này có thể gây nên một chấn thương bụng.Thủ thuật Heimlich ở một đứa trẻ tỉnh táo.

d. TÁI ĐÁNH GIÁ EM BÉ
– Nếu vật lạ đã không được tống xuất và nếu nạn nhân luôn luôn tỉnh táo, hãy tiếp tục những vỗ lưng và những ấn ngực (ở nhũ nhi) hay bụng (ở trẻ em).
– Hãy gọi giúp đỡ hay gọi người nào đó đi kêu cứu.
– Đừng rời bệnh nhân ở giai đoạn này.
Nếu vật lạ được tống xuất, hãy đánh giá tình trạng lâm sàng của đứa bé. Có thể rằng một phần của vật lạ vẫn còn trong đường khí và gây nên những biến chứng. Nếu có chút ít nghi ngờ, hãy nhờ sự giúp đỡ y tế. Vì lẽ nguy cơ bị những thương tổn nội tạng, nên mọi đứa trẻ đã bị ấn bụng phải được thăm khám bởi một thầy thuốc.3. ĐỨA TRẺ BẤT TỈNH VỚI TẮC ĐƯỜNG KHÍ BỞI MỘT VẬT LẠ
– Nếu đứa trẻ đã hít vào một vật lạ, đang hoặc trở nên mất tri giác, hãy đặt nó trên một mặt phẳng cứng.
– Hãy gọi giúp đỡ hay gọi người nào đó đi kêu cứu.
– Đừng rời nạn nhân ở giai đoạn này và hãy tiến hành như sau
a. MỞ ĐƯỜNG KHÍ
– Hãy mở miệng và tìm kiếm sự hiện diện của một vật lạ có thể thấy được.
– Nếu có thể thấy được một vật lạ, hãy cố dùng ngón tay móc nó ra.
Đừng cố lấy ra liên tiếp nhiều lần hay một cách mù quáng, bởi vì điều này có khả năng làm kẹt vật lạ xa hơn trong họng và tạo những thương tổn.
b. THÔNG KHÍ
– Hãy mở đường khí và cho 5 cú thổi vào
– Hãy đánh giá tính hiệu quả của mỗi lần thổi vào : nếu lồng ngực không nâng lên, hãy chỉnh lại vị trí của đường khí trước khi cho một cú thổi vào mới.
c. ẤN NGỰC VÀ HỒI SỨC TIM PHỔI
– Hãy thử 5 cú thở vào và nếu không đáp ứng (chuyển động ngực, ho hay thở tự nhiên), hãy bắt đầu ấn ngực.
– Hãy theo chuỗi Hồi sức tim phổi (như đã mô tả trên đây) trong khoảng 1 phút trước khi kích hoạt aide médicale urgente (nếu điều đó đã chưa được thực hiện bởi người nào khác).
– Khi đường khí được mở để cho những cú thở vào, hãy kiểm tra rằng vật lạ không được nhìn thấy trong miệng.

V. TỪ THẾ BẾN AN TOÀN
Đứa trẻ bất tỉnh thở một cách tự nhiên phải được đặt nằm tư thế bên an toàn nếu không có chống chỉ định (thí dụ nghi chấn thương cột sống cổ).
Những mục đích khác của tư thế này là :
– Tránh không cho lưỡi bị đẫy ra sau hầu và làm tắc đường khí.
– Làm giảm nguy cơ hít các chất mửa hay dịch tiết.
Không có tư thế an toàn vạn ứng, nhưng những quy tắc chung phải được tôn trọng.
Đứa trẻ phải :
– Ở tư thế càng bên càng tốt
– Có đường khí được giữ thông thoáng
– Có thể được quan sát và đánh giá một cách dễ dàng.
– Vững và không có thể lăn.
– Cho phép dẫn lưu các chất dịch và các chất mửa qua miệng.
– Không đè lên ngực gây khó thở
– Có thể lật ngửa dễ dàng để bắt đầu hồi sức tim phổi nếu cần.

Thí dụ đặt tư thế nghiêng an toàn :
+ Người cứu quỳ cạnh đứa trẻ.
+ Dựng lại các cánh tay và các cẳng chân. Lấy đi kính đeo mắt và tất cả đồ vật sắc và gây cồng kềnh (thí dụ pinces à cheveux, những vật hiện diện trong túi quần…) Nới lỏng mọi y phục bao quanh cổ đứa bé.
+ Hãy đánh giá tính thông thoáng của đường khí và mở chúng nếu cần.
+ Sau đó phải duỗi cánh tay của đứa bé về phía bạn, thẳng góc với thân mình.(Tư thế ban đầu của các chi. Hãy lấy cánh tay phía đối diện của đứa bé và đưa nó về phía kia của thân mình
+ Hãy đặt bàn tay dưới má của đứa bé (lòng bàn tay dựa vào má).(Đặt vị trí của cánh tay xa nhất đối với người cứu)
+ Với bàn tay kia của bạn hãy gấp ở đầu gối cẳng chân của đứa bé (cẳng chân xa nhất đối với người cứu).(Đặt vị trí của cẳng chân xa nhất đối với người cứu)
+ Bằng cách đẫy đầu gối gấp của đứa bé, người cứu có thể lăn một cách thận trọng đứa bé về phía mình.(Hình 4. Đứa bé được xoay nằm nghiêng)
+ Hãy kiểm tra để bàn tay đặt dưới má của đứa bé không đè lên mặt.(Kiểm tra không có đè ép da)(Tư thế bên an toàn)

Hô hấp và tuần hoàn của đứa bé phải được đánh giá thường xuyên trong khi chờ đợi secours đến. Nếu xảy ra một suy sụp tình trạng tổng quát của đứa bé, đứa bé tức thì phải được quay ngửa lại và một đánh giá ABC phải được thực hiện.
Hãy ghi nhận rằng ở trẻ em nhỏ, có thể cần phải đặt một chiếc mền hay chiếc khăn dọc theo lưng để tránh không để cho đứa bé từ vị trí nghiêng trở thành ngửa.

Những điểm chủ yếu
– Các người cứu phải luôn luôn bắt   đầu bằng đảm bảo sự an toàn của chính mình trước khi bắt đầu thực hiện hồi sức tim phổi
–   Hãy sử dụng một tỷ suất ấn ngực-thông khí 15 : 2 ở mỗi đứa trẻ
–   Phải thực hiện một phút hồi sức tim phổi trước khi người cứu rời đứa trẻ để   đi xin hỗ trợ (ngoại trừ nghi ngừng tim nguyên phát).
–   Nếu một máy phá rung tự động ngoài có sẵn, nối nó sau một phút hồi sức tim   phổi ở trẻ hơn 1 tuổi.
–   Hãy sử dụng một atténuateur ở trẻ giữa 1 đến 8 tuổi
–   Những thủ thuật lấy một vật l lạ được hít vào ở nhũ nhi còn tri giác gồm có   những vỗ lưng và những ấn ngực và ở trẻ em còn tri giác, những vỗ lưng và ấn   bụng. Đừng cố áp dụng những thủ thuật lấy vật lạ ở trẻ em bất tỉnh, nhưng hãy   bắt đầu ngay hồi sức tim phổi.

Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/8/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s