Hồi sinh cao cấp trẻ sơ sinh và nhi đồng, Chương III Phần I – BS Nguyễn Văn Thịnh

EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT
CHƯƠNG III
ĐƯỜNG KHÍ VÀ THÔNG KHÍ
(VOIES RESPIRATOIRES ET VENTILATION)

                                            Những mục tiêu
Cuối chương này các bạn sẽ có khả năng :
– Hiểu tầm quan trọng của một xử trí có hiệu quả đường khí và sự hô hấp.
– So sánh những phương pháp khác nhau cho phép giữ đường khí mở một cách hiệu quả.
– Nhận diện những phương pháp cho oxy khác nhau và những ưu điểm của chúng.
– So sánh những phương tiện thông khí khác nhau.
– Hiểu sử dụng như thế nào một quả bóng và một mặt nạ để thông khí một đứa trẻ một cách hiệu quả.
– Hiểu những kỹ thuật nội thông khác nhau và sử dụng kỹ thuật nào.
– Bàn về những chỉ định của mở sụn nhẫn-giáp (cricothyroidotomie).

PHẦN I

Sự xử trí đường khí và sự thông khí là ưu tiên cho mọi hồi sức, dầu tuổi của bệnh nhân và nguyên nhân của ngừng hô hấp hay tim-hô hấp là gì chăng nữa. Điều đó đặc biệt đúng ở trẻ em, trong trường hợp này ngừng tim hô hấp thường tiếp theo sau giảm oxy mô và nhiễm toan, thứ phát một suy hô hấp.
Do đó sự nhận biết sớm và sự xử trí thích đáng một suy hô hấp là thiết yếu. Chương này mô tả sự xử trí suy hô hấp của đứa bé thích ứng với những đặc điểm sinh lý của nó.

I. XỬ TRÍ ĐƯỜNG DẪN KHÍ
1. ĐỨA TRẺ TỈNH.
Nếu một đứa trẻ bị bệnh hay bị tai nạn thở một cách tự nhiên và hiệu quả, tốt hơn là để nó trong tư thế thoải mái, tốt nhất là tư thế mà nó chọn một cách ngẫu nhiên. Tư thế này thường là hiệu quả nhất để đảm bảo sự thông thương của đường khí. Đứa trẻ không được đặt nằm hay ép buộc phải theo một tư thế mà nó không thích ; stress và sự lo âu làm gia tăng công hô hấp và do đó làm gia tăng sự tiêu thụ oxy. Mọi động tác phải được thực hiện một cách trầm tĩnh và bố mẹ phải được khuyến khích ở lại với đứa bé.
2. ĐỨA BÉ BẤT TỈNH
Ở một đứa trẻ bất tỉnh và thở tự nhiên, các đường khí có nguy cơ bị tắc ; thật vậy, lưỡi có thể lệch ra sau và làm tắc đường dẫn khí.Ngoài ra, đứa trẻ không thể tống xuất các dịch tiết, các chất mửa hay máu hiện diện trong đường hô hấp trên. Oxygénation chỉ thích đáng khi sự mở của đường khí được đảm bảo.
3. MỞ ĐƯỜNG KHÍ
Những thủ thuật mở đường khí (thủ thuật phổ cập, antépulsion xương hàm dưới) phải được thực hiện cùng cách như trong hồi sinh tim phổi cơ bản (xem chương 2).Điều quan trọng là không tăng ưỡn đầu,không gấp cổ quá mứchay lại nữa không đè các mô mềm dưới xương hàm dưới, điều này có thể làm gia tăng tắc đường khí.

4. HÚTHầu thường bị tắc do các chất tiết, các chất mửa hay máu, và đôi khi bởi một vật lạ rắn (xem chương 2). Thiết bị hút chuẩn của phòng hồi sức bao gồm một source murale de vide, nói chung được monté trên một régulateur de dépression, một bocal réservoir, một tuyau và một embout d’aspiration. Những sonde cứng và cỡ lớn như những sonde de Yankauer có sẵn với những kích thước nhi đồng và người lớn và cho phép hút các chất mửa và các dịch tiết dồi bào và đặc.Những sonde flexible thích hợp hơn với những trẻ nhỏ hay những nhũ nhi ; có lẽ chúng ít gây chấn thương hơn. Tuy nhiên chúng có một năng lực hút hạn chế. Sự sử dụng một pièce en Y hay một lỗ bên, có thể bị bít từng hồi, cho phép kiểm soát áp lực hút ; áp lực này không được vượt quá 80-120 mmHg ở các nhũ nhi.
5. NHỮNG THIẾT BỊ MỞ ĐƯỜNG KHÍ
a. CANU MIỆNG-HỌNG (CANULES OROPHARYNGEES)
Những canun này cho phép mở một lối qua giua đáy lưỡi và thành sau của hầu. Có những kích thước khác nhau, từ 00 (trẻ sinh non) đến 4-5 (người lớn).Canun miệng-họng có kích thước thích đáng đi từ các răng cửa trên đến góc của xương hàm dưới.Nếu một kích thước không đúng đắn được lựa chọn, canun có thể gây chấn thương, co thắt thanh quản hay gây tắc thêm. Ở trẻ em, canun miệng-họng phải được đưa vào với cạnh lõm hướng xuống dưới, nhờ một cái đè lưỡi hay một lưỡi đèn của đèn soi thanh quản để đẫy lưỡi về phía sàn miệng. Điều này có ưu điểm là cho phép thấy miệng-hầu và do đó một sự kiểm soát nào đó vào lúc đặt. Ở trẻ em lớn hơn, kỹ thuật được sử dụng ở người lớn có thể chấp nhận được (đưa với đầu mút hướng lên trên cho đến khi đụng khẩu cái mềm, rồi xoay 180 độ)
Canun miệng-họng ngăn ngừa tắc đường khí do lưỡi và các mô mềm của cổ.Các canun miệng-họng chỉ có thể được đưa vào ở những bệnh nhân bất tỉnh. Ở trẻ em tỉnh táo, chúng thường không chịu được và có thể gây mửa hay co thắt thanh quản. Sự thiết đặt một canun miệng-họng không bảo vệ chống lại nguy cơ hít các thành phần chứa trong dạ dày.
b. CANUN MŨI-HỌNG (SONDES NASOPHARYNGEES)
Những canun mũi-họng là những canun bằng cao su hay bằng silicone, tạo một lối qua của không khí giữa mũi và tỵ hầu (nasopharynx). Những canun có kích thước nhi đồng nhỏ nhất không có trong thương mãi, nhưng để thay thế, ta có thể dùng một sonde trachéale được thu ngắn (một kim an toàn sẽ được đâm xuyên qua phần ngoài của sonde để ngăn cản không cho nó đi vào mũi). Chiều dài đúng đắn của ống thông mũi-họng được xác định bằng cách đo khoảng cách đi từ đầu mũi của đứa bé đến tragus của tai.Canun được đưa vào mà không làm trắng lỗ mũi. Đường kính có thể được ước tính từ đường kính của ngón út của đứa bé. Canun mũi-họng phải được bôi trơn trước khi đưa vào ; hãy vừa đẫy nhẹ canun vào vừa xoay, về phía sau dọc theo sàn mũi. Đừng hướng canun lên cao, điều này có thể gây nên những thương tổn của niêm mạc hay những xuất huyết.Những canun mũi-họng được trẻ em tỉnh táo chịu đựng tốt hơn là những canun miệng-họng. Chúng bị chống chỉ định nếu ta nghi một vỡ xương đáy sọ.

Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/8/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s