Cấp cứu chỉnh hình số 40 – BS Nguyễn Văn Thịnh

GÃY MẮT CÁ NGOÀI
(FRACTURE DE LA MALLÉOLE EXTERNE)

Dr Etienne Hinglais
Médecin urgentiste
Hôpital Tenon, Paris
Dr Jean-Paul Fontaine
Médecin urgentiste
Service des Urgences
Hôpital Saint-Louis, Paris

I. NHỮNG YẾU TỐ CHẨN ĐOÁN
Gãy mắt cá ngoài xảy ra sau một mouvement de varus hay de valgus.
Sự nghi ngờ lâm sàng dựa trên mất cơ năng, phù mắt cá ngoài và đau lúc ẩn chẩn xương.
Chẩn đoán dựa vào X quang.Đường gãy có thể nằm ở đỉnh (pointe). Khi đó đó là một bong dây chằng bên ngoài (arrachement collatéral latéral ou externe).
Nếu không, phải xem chúng như là những gãy hai mắt cá (fracture bimalléolaire) cho đến khi có bằng cớ trái lại bởi vì những gãy xương riêng rẻ của mắt cá ngoài là hiếm. Khi đó phải tìm kiếm một thương tổn của dây chằng bên trong (ligament collatéral médial ou interne), gãy mép sau của xương chày (fracture de la marge tibiale postérieure) hay một diastasis tibio-talien interne trên X quang.Ở trẻ em, mọi chấn thương với mất cơ năng và đau lúc ấn chẩn mắt cá ngoài phải được xem như là một gãy ở sụn tiếp hợp (cartilage conjugal)
Chỉ có X quang mới cho phép xác định phân độ của những thương tổn sụn nhờ sự xếp loại Salter và Harris và phải biết sử dụng những phim so sánh :– Loại 1 : gãy sụn thuần túy có hoặc không hở (X quang bình thường)
– Loại 2 : gãy sụn và hành xương (métaphyse)
– Loại 3 : gãy sụn và đầu xương (épiphyse)
– Loại 4 : gãy sụn, hành xương và đầu xương
– Loại 5 : gãy sụn do đè bẹp, tiên lượng khó do phá hủy nhân, gây nên những rối loạn tăng trưởng xương về sau.

II. ĐIỀU TRỊ
Mục tiêu là làm vững mộng chày-mác (mortaise tibio-fibulaire) lúc tì chân
Mục tiêu thứ cấp là duy trì sự sit khớp (congruence articulaire) để tái tục chức năng của khớp dưới sên (articulation sous-talienne).
1. NHỮNG PHƯƠNG TIỆN ĐIỀU TRỊ
a. ĐIỀU TRỊ CHỈNH HÌNH
Điều trị chỉnh hình dựa trên bất động bằng bột (immobilisation plâtrée), không lấy đầu gối, trong 6 tuần.Phòng ngừa nguy cơ huyết khối-nghẽn mạch phải được xét đến
b. ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA
Cho phép đặt lại vị trí và làm vững ổ gãy
c. ĐIỀU TRỊ CHỨC NĂNG
Điều trị chức năng dựa trên mang tức thời một orthèse trong 6 tuần và dường như là một thay thế cho điều trị chỉnh hình
2. NHỮNG CHỈ ĐỊNH
Điều trị chỉnh hình là thông thường nhất.
Đối với những gãy xương không di lệch, điều trị chức năng có thể cho những kết quả tương đương
Điều trị ngoại khoa được xét đến đối với những gãy xương di lệch (hơn 3 mm trên phim tư thế thẳng và nghiêng).
Ở trẻ em một radiographie normale phải được xem như một tương đương của Salter 1 hay 5 cho đến khi có bằng cớ ngược lại, biện minh một kiểm soát lâm sàng vào ngày thứ 8.Trong lúc chờ đợi, một bó bột (immobilisation plâtrée) được chỉ định. Khi radiographie xác định ngay ở cấp cứu gãy xương (Salter 1 với ho, Salter 2, 3 hay 4) phải được bàn bạc hoặc một điều trị ngoại khoa, trong trường hợp di lệch, hoặc bởi một bất động bằng botte plâtrée trong 4 tuần với kiểm soát X quang vào ngày thứ 8 bởi một thầy thuốc có năng lực về chấn thương học. Một phòng ngừa nguy cơ huyết khối nghẽn mạch chỉ phải thực hiện nếu đứa trẻ có những dấu hiệu dậy thì.

III. NHỮNG YẾU TỐ THEO DÕI.
Chụp X quang ngày thứ 8 được biện minh để đánh giá một di lệch. Ta cũng đảm bảo sự dung nạp tốt của immobilisation.

Reference : Traumatologie : Stratégies diagnostiques et orientations. Volume 1

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(28/4/2017)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chỉnh hình, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s