Thời sự y học số 327 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CẢI TẠO CÁC TẾ BÀO LYMPHO CỦA MÌNH ĐỂ CHỐNG LẠI UNG THƯ

10% đến 14% những ung thư được phát khởi bởi những nhiễm trùng virus, vi khuẩn hay ký sinh trùng.

Những tế bào ung thư, chết vì hóa học liệu pháp, có năng lực dạy cho những tế bào lympho hiện diện tiêu hủy u ung thư như thế nào.
Professeur Laurence Zitvogel Oncologue à l’Institut de Gustave Roussy de Villejuif

VACCIN KÍCH HOẠT HỆ MIỄN DỊCH NHƯ THẾ NÀO NGUYÊN TẮC CỦA TIÊM CHỦNG
1. Tiêm những tế bào sinh bệnh
Những tế bào sinh bệnh bị làm bất hoạt được chủng vào bệnh nhân, nói chung bằng tiêm (injection).
2. Chế tạo những kháng thể
Những tế bào lympho, những tế bào của hệ miễn dịch, sản xuất những kháng thể để chống lại tế bào lạ.
3. Phá hủy tế bào
Các kháng thể đặc hiệu nhận biết kháng nguyên của tế bào sinh bệnh.
Chúng liên kết với những   thụ thể nằm ở bề mặt của tế bào và phá hủy nó.
Sau đáp ứng miễn dịch, có thể có những lymphocytes à mémoire, có khả năng chế tạo những kháng thể đặc hiệu trong trường hợp bị một nhiễm trùng mới bởi cùng kháng nguyên, vi rus, vi khuẩn hay khối u.

Đối với nhiều loại khối u, hệ miễn dịch của chúng ta có thể học tập để hiệu quả hơn.
IMMUNOLOGIE. Rút từ những puissantes ressources của hệ miễn dịch để chống lại ung thư : một ý tưởng xưa cũ lại chiếm lĩnh các tâm trí trong hội nghị của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO : American Society of Clinical Oncology) tháng tám vừa qua. Thật vậy, những kỹ thuật miễn dịch liệu pháp mới cho phép dạy cơ thể tấn công các khối u ung thư. Từ năm 2010, hai loại thuốc mới đã được cho phép để điều trị những ung thư tiền liệt tuyến và những u hắc tố (mélanome) đề kháng với những điều trị hiện có. Hai loại thuốc khác sắp được thương mãi hóa và danh sách dài ra trong khi nghiên cứu chống ung thư tập trung vào phương thức mới, hứa hẹn một điều trị càng có hiệu quả khi, mỗi bệnh nhân trở nên tác nhân trong công cuộc chống lại ung thư của mình.
MỘT THEO DÕI MIỄN DỊCH TỰ NHIÊN.
Tất cả bắt đầu với William Coley, một thầy thuốc Hoa Kỳ, trong những năm 1890, đã tiêm những protéine vi khuẩn vào trong những u xương. Những khối u này sau đó teo lại hoặc biến mất. Ông nghi ngờ rằng hệ miễn dịch, được kích hoạt bởi “vaccin” này, đã tấn công vào các khối u. Phương pháp này dẫn đến sự hiệu chính , vào năm 1975, một điều trị ung thư bàng quang bằng cách tiêm vaccin chống lao, vẫn còn được sử dụng ngày nay. Ngoài ra quan sát dịch tễ học những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch cho phép chứng thực rằng họ phát triển nhiều ung thư hơn những người lành mạnh. Tuy nhiên, mặc dầu rất hứa hẹn, miễn dịch học được áp dụng vào ung thư đã chịu một thụt lùi quan trọng với sự phát triển những thuốc độc hại tế bào (cytotoxique). Những loại thuốc này đã được sự chiếu cố của nghiên cứu và những nhà đầu tư, sau khi chúng thành công trong điều trị ung thư máu (leucémie) trong những năm 1950.
Miễn dịch học đã có thể phát triển trở lại khi, trong những năm 1990, chữ ký kháng nguyên (signature antigénique) của các khối u đã có thể được nhận diện, mở cửa cho sự phát triển những vaccin đặc hiệu. Mới đây hơn, các nhà nghiên cứu Pháp đã xác lập một tương quan giữa mức độ dồi dào của những tế bào lympho được kích hoạt quanh những khối u đại tràng và tiên lượng của những bệnh nhân. ” Tất cả những công trình này chứng minh rằng có một sự theo dõi miễn dịch (immuno-surveillance) tự nhiên của những khối u ở người “, GS Laurence Zitvogel, thầy thuốc chuyên khoa ung thư thuộc Viện Gustave-Roussy de Villejuif và giám đốc của unité Inserm, đã nhấn mạnh như vậy.
Với kíp của bà, GS Laurence Zitvogel đã chứng minh rằng những hóa học liệu pháp hiệu quả 10 đến 100 lần hơn ở những động vật có hệ miễn dịch còn nguyên vẹn. ” Những tế bào khối u chết vi hóa học liệu pháp có khả năng, ở vài cá thể, dạy cho những tế bào lympho hiện diện làm sao tiêu diệt khối u. Mục tiêu của những công trình hiện nay là, vừa nhận diện những bệnh nhân có khả năng tự nhiên này, vừa hiệu chính những điều trị có khả năng làm phát khởi đáp ứng này ở những bệnh nhân khác.
Dựa vào những quan sát đa dạng này, các nhà nghiên cứu trước hết đã tìm kiếm những thụ thể trên bề mặt của những tế bào lympho có khả năng kích hoạt đáp ứng của hệ miễn dịch chống lại các khối u, một phương pháp đã làm phát khởi một cơn bão miễn dịch dữ dội ở những bệnh nhân đầu tiên, làm họ tử vong.
TÌM KIẾM NHỮNG PHỐI HỢP TỐT HƠN.
Nghiên cứu từ nay tập trung vào những thụ thể khác, có khả năng làm bất hoạt những frein ngăn cản những tế bào lympho tấn công vào các khối u. Một phương pháp tinh tế hơn, đã dẫn đến, vào năm 2011, sự thương mãi hóa ipilimumab (Yervoy), một anti-CTL-A4, chống lại những u hắc tố di căn (mélanome métastatique) và tỏ ra rất hiệu quả đối với 10% đến 15% những bệnh nhân. Rất sắp được thương mãi hóa, một anti-PD-1 đã được phát triển bởi một kíp Nhật Bản và cho thấy đến 40% những đáp ứng một phần hay hoàn toàn lên các loại u khác nhau. Nghiên cứu đã vào một giai đoạn rất mới, nhằm tìm kiếm những phối hợp tốt hơn đối với mỗi bệnh nhân : hiệu quả hơn và ít độc hại hơn.
Miễn dịch liệu pháp cho các bệnh nhân những điều hứa hẹn mới nhưng sự phát triển của phương pháp điều trị này tốn kém và dựa trên một sự cộng tác chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu và những nhà lâm sàng nhưng cũng dựa trên sự tham gia của các bệnh nhân. ” Lần đầu tiên, chúng ta sẽ có thể nói với các bệnh nhân rằng họ có thể đầu tư vào điều trị của họ vì lẽ hệ miễn dịch của chính họ chống lại bệnh “, GS Danila Valmori, giám đốc của unité Inserm 1102 thuộc đại học Nantes, đã nhấn mạnh như vậy. Phấn khởi, bà giải thích rằng tất cả có thể tiến triển rất nhanh từ hôm nay nhưng rằng các bệnh nhân phải được đả thông tốt hơn và tích cực hơn để tham gia vào các thử nghiệm, ngay cả khi chúng xảy ra hơi xa chỗ ở của họ : ” Mọi thuốc mới ít nhất có để sử dụng trong một trung tâm nghiên cứu ở Pháp và, khi những điều trị hiện nay thất bại, chớ nên buông thả.”
(LE FIGARO 7/10/2013)

2/ NHỮNG THUỐC MỚI NHƯNG VỚI GIÁ NÀO ?
Những inhibiteur de frein des lymphocytes T đầu tiên đã xuất hiện trên thị trường trong hai năm qua, nhưng chúng chỉ là phần nổi của iceberg của những miễn dịch liệu pháp mới chống ung thư. ” Từ nay một thuốc mới xuất hiện mỗi hai tháng “, GS Danila Valmori, giám đốc của unité Inserm 1102, đại học Nantes, đã lấy làm phấn khởi như vậy. Những loại thuốc mới này, có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch của các bệnh nhân chống lại những khối u ung thư của chính mình, mang lại những kết quả đôi khi ngoạn mục : lambrolizumab dường như hiệu quả ở 40% những bệnh nhân được trắc nghiệm. Độc tính của nó được làm giảm so với thuốc đầu tiên thuộc họ này, ipilimumab (được sử dụng trong điều trị u hắc tố ở giai đoạn tiến triển), đặc biệt gây nên những rối loạn liên quan với tính tự miễn dịch (auto-immunité).
Thật vậy tìm được một quân bình giữa tính hiệu quả và độc tính sẽ là mục tiêu chủ yếu của những phương pháp mới này bởi vì hệ miễn dịch là một vũ khí mạnh, có khả năng trở ngược chống lại ký chủ khi không được kiểm soát tốt. Vậy các nhà nghiên cứu cố tìm ra những loại thuốc có khả năng kích thích những tế bào lympho T được hướng định nhằm tấn công duy nhất vào những khối u ung thư và cho những kết quả tốt hơn những liệu pháp hiện có mà ta đã biết những tác dụng. Ngoài ra thường nhất chúng sẽ được sử dụng phối hợp với những điều trị hiện có.
Cố gắng phân tích những khối u, những tế bào lympho có khả năng loại bỏ chúng và những tác dụng của những loại thuốc được chọn lọc trên những khối u này là một phí tổn to lớn mà recherche publique không thể một mình tài trợ. Sự cộng tác với những nhà công nghiệp được tổ chức dần dần, và những nhà nghiên cứu trước hết chú tâm đánh giá những điều trị đối với những ung thư giết người nhất theo tần số và mức độ ác tính của chúng : ung thư phổi hay u hắc tố là hai đích quan trọng.
” Những thuốc này giá rất đắc và chúng ta còn khó để có được chúng với số lượng lớn để điều trị những bệnh nhân “, GS Laurence Zirvogel, thầy thuốc ung thư thuốc viện Gustave Roussy de Villejuif và giám đốc của unité Inserm 1015, đã nhấn mạnh như vậy. Một khi những thuốc này được cho phép đưa ra thị trường bởi vì chúng đã chứng tỏ tính hữu ích, cần có một thương thuyết để xác lập một giá cả có thể chấp nhận được bởi các service publics de la santé. Chính như thế mà sipuleucel-T, một loại thuốc phải được chế tạo cho từng cá thể mỗi bệnh nhân và tổn phí 70.000 euros đối với 4 mũi tiêm, đã nhận được AMM (autorisation de mise sur le marché) ở Pháp nhưng không thể được dùng một cách tự do vì không có quy chế trong hệ thống bồi hoàn.
Vả lại cộng đồng khoa học và những cấp chính quyền hiện nay rất bị lay động bởi vấn đề phí tổn điều trị và một hạn chế không được vượt qua. Số những laboratoire có liên hệ trọng liệu pháp miễn dịch đang gia tăng một cách hằng định, phải hy vọng rằng, trong lãnh vực này, sự cạnh tranh cho phép giới hạn sự leo thang của giá cả và mang lại cho bệnh nhân điều trị tốt nhất có thể có, ngay khi nó trở nên khả dụng.
(LE FIGARO 7/10/2013)

3/ TRƯỜNG HỢP NHỮNG KHỐI U NGUỒN GỐC VIRUS.
Cứ bảy ung thư ở người thì một có nguồn gốc vi khuẩn, siêu vi trùng hay ký sinh trùng. Trong những nước phát triển, con số này gần với 1 trên 10. Nếu như hệ miễn dịch có thể dạy chống lại những khối u hiện diện trong có thể, nó cũng có thể được programmé để ngăn ngừa loại ung thư này bằng cách loại bỏ một nhiễm trùng. Ở Pháp, hai vaccin có khả năng phòng ngừa đã có để sử dụng từ nhiều năm nay. Hiện nay các nhà nghiên cứu đang khảo sát một vaccin chống lại bệnh viêm gan C. Bệnh viêm gan này, cùng với viêm gan B và papillomavirus gây nên 80% những khối u ung thư liên kết với một nhiễm trùng.
Virus của viêm gan B có thể tiến triển, ở 5% những bệnh nhân, thành một nhiễm trùng mãn tính, trong 15 đến 25% những trường hợp, gây nên một xơ gan hay một ung thư gan chết người. Sự tiêm chủng nhằm bảo vệ chống lại nhiễm trùng ban đầu và do đó bảo vệ chống lại ung thư phát xuất từ nhiễm trùng này. Viêm gan B bị mắc phải do tiếp xúc với máu hay những dịch cơ thể khác phát xuất từ một người bị nhiễm virus. Trong những nước có mức độ dịch bệnh thấp, như nước Pháp, sự truyền bệnh xảy ra trong thời thơ ấu trong 1/3 các trường hợp. Do đó tiêm chủng được khuyến nghị ở nhũ nhi và phí tổn được bồi hoàn 65% bởi Sécurité sociale.
Hai loại papillomavirus chịu trách nhiệm 80% những ung thư của cổ tử cung, ung thư đầu tiên được OMS công nhận như là luôn luôn gây nên bởi một nhiễm trùng. Nó là nguyên nhân gây tử vong nữ giới do ung thư sau ung thư vú và chủ yếu gây bệnh những phụ nữ trẻ. Những virus liên quan trọng ung thư này được truyền bằng đường sinh dục : vậy vaccin phải được tiêm trước khi bắt đầu đời sống sinh dục để phòng ngừa mối nguy cơ nhiễm trùng. Lịch trình tiêm chủng khuyến nghị từ nay tiêm chủng những cô gái từ 11 đến 14 tuổi, với một khả năng rattrapage cho đến 20 tuổi. Sự tiêm chủng, cần 3 mũi tiêm trị giá khoảng 120 euro mỗi mũi, được bồi hoàn 65% bởi Sécurité sociale.
VACCIN CHỐNG VIÊM GAN C
Vaccin này cũng có thể hữu ích để phòng ngừa những ứng thư của hậu môn liên với những papillomavirus, thường gặp hơn trong giới đồng tính luyến ái. Sự sử dụng nó trong bối cảnh này sẽ khó thực hiện hơn đối với một quần thể khó xác định trước khi bắt đầu đời sống sinh dục.
Một vaccin chống viêm gan C hiện đang được phát triển : những kết quả thử nghiệm giai đoạn 1 đã tỏ ra đầy hứa hẹn. Nhiều kíp đang theo đuổi những vaccin khác chống các virus, thường được tìm thấy nhất trong những ung thư gốc nhiễm trùng và từ nay được nhận diện như chịu trách nhiệm những lymphome, leucémie hay carcinome. Tuy nhiên những virus không phải là đích duy nhất. Vài ung thư dạ dày được làm dễ bởi vi khuẩn Helicobacter pylori, và bilharziose, một ký sinh trung rất thường gặp ở châu Phi, dường như liên kết với vài ung thư của bàng quang.
(LE FIGARO 7/10/2013).

4/ UNG THƯ HỌNG PHẢI CHĂNG LÀ DO MỘT VIRUS ?
Docteur Jean Lacau Saint Guily
Chef du service ORL
Hopital tenon, APHP.

Chính vào đầu những năm 1980 mà GS Zur Hausen của đại học Heidelberg (Đức), công bố những bài báo đầu tiên về sự liên kết giữa papillomavirus và những ung thư của cổ tử cung, khiến ông được giải thưởng Nobel y học năm 2009. Bây giờ ta biết rằng gần như toàn bộ những ung thư này đều có nguồn gốc virus. Vào năm 1983, những tác giả scandinave cho thấy rằng vài ung thư miệng và hầu được liên kết với papillomavirus ; nhưng khi đó ta không nghi ngờ quy mô của vấn đề của 30 năm sau. Những ung thư của đường dẫn khí-tiêu hóa (voies aérodigestives), thường được gọi là những TMH (ORL), những ung thư của họng, của miệng và của thanh quản, vẫn thường gặp trên khắp thế giới phương Tây và đặc biệt ở Pháp : chúng là ung thư nam giới đứng thứ tư, chúng không ngừng gia tăng ở phụ nữ và chúng ta là những vô địch thế giới về những ung thư hầu (cancer du pharynx).
Yếu tố nguy cơ lớn là thuốc lá, đơn độc hay liên kết với rượu ; ở Pháp, từ giữa những năm 1970, những ung thư này có tỷ lệ mắc bệnh giảm mạnh và đều đặn ở đàn ông bởi vì sự tiêu thụ rượu-thuốc lá của chúng ta đã giảm và biến đổi ; sự giảm đều đặn này được quan sát trong tất cả các nước phương tây, cũng như ở Hoa Kỳ, ở Scandinavie và trong phần còn lại của châu Âu, đối với tất cả những ung thư liên kết mạnh với thuốc lá như thanh quản, miệng, phần thấp của hầu. Ngoại trừ đối với một định vị, không ngừng gia tăng ở khắp nơi, ở đàn ông và đàn bà : những ung thư của khẩu hầu (oropharynx) (phần họng nằm sau miệng và đặc biệt hơn gồm các amygdale và vùng sau của họng) và rất đặc biệt những ung thư của amygdale đã trở nên, ở khắp nơi, những ung thư đứng đầu TMH. Như thế, giờ đây ta quan sát rất đều đặn những ung thư amygdale này ở những bệnh nhân không hút thuốc (non fumeur) hay những người ít hút thuốc (peu fumeur).
Thế mà những ung thư của khẩu hầu, trái với những định vị khác, được liên kết mạnh với papillomavirus. Những công trình nghiên cứu mới đây, đã được công bố trong năm này và đã được thực hiện trong những năm 2000-2008 ở Pháp, cho thấy rằng khoảng một nửa những ung thư khẩu hầu được liên kết với những papillomavirus, và con số này lên đến 55% và hơn đối với những định vị amygdale. Đó là một điều chứng thực quan trọng vì nhiều lẽ : tiêm chủng chống papillomavirus có thể đóng một vai trò phòng ngừa chống lại những ung thư của khẩu hầu ; những ung thư này có thể có tiên lượng tốt hơn (kiểm soát tốt hơn và tỷ lệ sống còn tốt hơn) ; những điều trị có thể được biến đổi. Ngoài ra, cũng như đối với ung thư cổ tử cung, chính sự truyền bằng đường sinh dục là nguyên nhân. Nhưng, hiện nay, không có một kết luận nào có thể được xác nhận.
VAI TRÒ CỦA CÁC PAPILLOMAVIRUS.
Trước hết về sự truyền bệnh ; mặc dầu tính dục đóng một vai trò, nhưng thật lạ lùng khi chứng thực rằng những virus này chỉ hiện diện trong dưới 5% những ung thư của miệng và rằng những yếu tố khác, thí dụ cơ thể học và miễn dịch học can thiệp để giải thích tính đặc thù này đối với amygdale. Thật vậy, những papillomavirus hiện diện khắp nơi ; 75% những người Pháp ở tuổi sinh dục đã đối mặt với những virus này, sự lây nhiễm ngay cả rất sớm nhưng thường nhất chúng nhanh chóng bị loại bỏ, không để lại hậu quả. Ngoài ra, sự hiện diện ADN viral (những gène của virus) trong một khối u không có nghĩa một cách chắc chắn rằng chính virus đã làm phát khởi quá trình ung thư hóa ; tuy nhiên còn cần phải biết những gène này có biểu hiện hay không. Sau cùng, còn phải chứng tỏ trên những công trình rộng lớn hơn, với những công cụ virus học hoàn chỉnh hơn và những theo dõi lâm sàng chính xác, virus tác động như thế nào, tiên lượng có thật sự bị biến đổi bởi sự hiện diện của nó hay không và bằng cách nào ta có thể sử dụng nhiễm virus như là một chỉ dấu tiên đoán (marqueur prédictif) để thích ứng điều trị. Câu hỏi để biết xem tiêm chủng có phải được mở rộng cho những cháu trai, như được thực hiện trong vài nước, cũng được đặt ra.
Những công trình nghiên cứu quan sát đang được tiến hành, đặc biệt ở Pháp, về các ung thư khẩu hầu và amygdale : những kết quả chẳng bao lâu sẽ được công bố. Với một sự phân biệt rõ nét những quần thể những bệnh nhân hút thuốc với những quần thể những bệnh nhân không hút thuốc. Ngoài ra, để hiểu hơn bệnh sử tự nhiên của nhiễm trùng của những amygdale bởi những virus này, một công trình nghiên cứu quốc gia đã bắt đầu mùa thu này ở Pháp với sự hỗ trợ của OMS, sẽ khảo sát trên những cắt bỏ amygdale, được thực hiện ở trẻ em và người lớn đối với những chỉ định không ung thư, sự hiện diện của papillomavirus và tìm kiếm sự hiện hữu của những thương tổn tiền ung thư.
Do tầm quan trọng của vấn đề y tế cộng đồng được đặt ra bởi ung thư amygdale này, đang gia tăng tuyệt đối và tương đối, kiến thức tốt hơn về yếu tố virus này là thiết yếu. Sự hiểu biến này sẽ mang lại những triển vọng điều trị chữa lành thích ứng hơn và ngay cả được cá thể hóa và có thể một phòng ngừa bằng thuốc chủng hiệu quả hơn.
(LE FIGARO 19/3/2012)

5/ CÓ PHẢI TẤT CẢ CÁC UNG THƯ ĐỀU ĐƯỢC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN TỐT ?
Professeur Claude Dreux
Pharmacien
Docteur ès sciences

Người ta đã chứng tỏ rằng một ung thư được phát hiện sớm có thể được điều trị với những cơ may thành công nhất. Chính vì vậy càng ngày càng có nhiều chiến dịch điều tra phát hiện đại chúng (dépistage de masse) được tổ chức, nhất là đối với những ung thư vú và đại tràng. Cũng có những điều tra phát hiện cá nhân (dépistage individuel), theo đơn thuốc y khoa, đối với những ung thư tuyến tiền liệt và da, trong đó có u hắc tố (mélanome) đáng sợ. Tuy vậy, ở Pháp công tác điều tra phát hiện không đủ. Mặc dầu tính chất miễn phí và những điều quy định rất thuận lợi, như sự tự do lựa chọn thầy thuốc X quang của mình, nhưng chỉ có 58% những phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi đáp ứng với công tác phát hiện của ung thư vú, được phổ biến từ năm 2004. Thế mà phải cần một tỷ lệ 70% để làm giảm 25% tỷ lệ tử vong do ung thư này, thường gặp nhất trong số những ung thư nữ giới, với hơn 40.000 trường hợp mới mỗi năm. Làm sao để làm tốt hơn ? Bằng cách trước hết làm mất sự sợ hãi khi bị khám phá một ung thư, điều này chiếm khoảng 6 trường hợp trên 1000 phụ nữ được điều tra phát hiện. Bằng cách giải thích rằng thăm khám lâm sàng không đủ : sự ấn chẩn vú ít nhạy cảm hơn nhiều so với mammographie. Ngoài ra, tốt nhất là avancer tuổi phải điều tra phát hiện là 40 tuổi, nhưng đó là một vấn đề phí tổn đối với Assurance-maladie !
HALO SUR LE CANCER COLORECTAL
Với hơn 35.000 trường hợp mỗi năm và 17.000 trường hợp tử vong, ung thư đại trực tràng làm sợ.Vậy sự phát hiện sớm ung thư này là một ưu tiên y tế. Hiện có một điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) trong gần như toàn nước Pháp, với trắc nghiệm Hémoccult, được chủ trương mỗi hai năm đối với những người đàn ông và những phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi…Trong những điều kiện này, ta hiểu rằng tỷ lệ đáp ứng với phát hiện chỉ mới 35% trong khi tỷ lệ tham dự phải 50% để thực hiện mục tiêu làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư đại trực tràng. Nhưng ta không hiểu tại sao, trong khi có một phương pháp miễn dịch học nhạy cảm và đặc hiệu hơn nhiều, được công nhận và được khuyến nghị bởi Bộ y tế, ta lại tiếp tục tiêu thụ những stock Hémoccult gây phí tổn cho y tế cộng đồng.
Ung thư tuyến tiền liệt giết chết 9000 trường hợp đối với 60.000 ung thư được chẩn đoán mỗi năm, và cũng bao hàm những nguy cơ di căn nghiêm trọng và đau, nhất là xương. Nhưng công tác điều tra phát hiện sớm và đáng tin cậy hiện nay không được sự nhất trí, do đó một sự thiếu hụt những bệnh nhân được phát hiện. Tuy nhiên Hiệp hội niệu học Pháp (AFU : Association française d’urologie) khuyên sự phát hiện ung thư tiền liệt tuyến bằng định lượng PSA (antigène prostatique spécifique) và thăm khám trực tràng bắt đầu từ 50 tuổi. Trong trường hợp nghi ngờ, tốt nhất là khuyên thăm khám thầy thuốc gia đình của bệnh nhân, sẽ xét đoán lợi ích gởi đến một thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu, bởi vì quyết định điều trị hay không tùy thuộc vào tuổi của bệnh nhân, loại ung thư được phát hiện và những lựa chọn của bệnh nhân về chất lượng sống của mình. Công tác điều tra phát hiện ung thư cổ tử cung có vẻ thỏa mãn hơn với một couverture khoảng 60% nhờ hơn 5 triệu frottis mỗi năm. Điều này được khuyến nghị mỗi 3 năm đối với những phụ nữ từ 25 đến 65 tuổi được tiêm chủng hay không và đạo luật tháng 7 năm 2009 khuyến nghị thực hiện hệ thống một frottis đối với những phụ nữ mang thai. Vai trò của các nữ hộ sinh là thiết yếu về phòng ngừa và điều tra phát hiện. Tuy nhiên, sự hiện hữu của hai vaccin chống lại papillomavirus, chịu trách nhiệm những ung thư của cổ tử cung, được khuyến nghị ở những thiếu nữ ở tuổi 14 (HPV), có nguy cơ làm giảm tần số của điều tra phát hiện. Tuy nhiên công tác này là cần thiết, nhất là vaccin không bảo vệ chống lại tất cả HPV.
U HẮC TỐ : MỘT ƯU TIÊN
Sau cùng, trong số tất cả những ung thư, u hắc tố (mélanome) có lẽ là ung thư phải phát hiện ưu tiên, khi biết rằng, trong trường hợp này, sự phòng ngừa có thể đủ để hủy bỏ nguy cơ. Thông điệp thật đơn giản : đừng tiếp xúc với ánh nắng quá độ và không bao giờ theo những séances de bronzage en cabine.
(LE FIGARO 6/12/2010)

6/ KHỐI U BÀNG QUANG : ĐỐI VỚI VÀI THẦY THUỐC, MỘT ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN.
BS Hervé Baumert, thầy thuốc ngoại tiết niệu thuộc bệnh viện Saint-Joseph, giải thích trong những trường hợp ung thư thâm nhiễm nào một phẫu thuật nặng nề có thể tránh được.
Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên khiến nghĩ một khối u bàng quang là gì ?
BS Hervé Baumaert : Máu trong nước tiểu với muốn đi tiểu thường xuyên và cấp bách. Những người đàn ông bị mắc phải ung thư bàng quang 4 lần nhiều hơn đàn bà. Đây là một ung thư tiết niệu (cancer urologique), thường gặp nhất sau ung thư tiền liệt tuyến (ở Pháp 11.000 trường hợp mới mỗi năm).
Hỏi : Làm sao ta đảm bảo chẩn đoán ?
BS Hervé Baumaert : Bằng một siêu âm mà kết quả được xác nhận bởi một nội soi (endoscopie), cho phép lấy đi polype nghi ngờ bằng đường tự nhiên và gởi đến phòng xét nghiện phân tích. Sau đó ta sẽ biết đó là một khối u hiền tính hay ác tính.
Hỏi : Những yếu tố làm dễ của các ung thư bàng quang ?
BS Hervé Baumaert : 1. Yếu tố chính là thuốc lá. Những chất hóa học độc hại của thuốc là được thải qua đường tiểu và do đó, cũng như ở phổi, là nguồn gốc của một quá trình sinh ung thư. 2. Một sự tiếp xúc nghề nghiệp với những sản phẩm hóa học, như vài thuốc nhuộm, hay những hydrocarbure. 3. Một nhiễm trùng bởi vài loại ký sinh trùng, như bilharziose, thường gặp ở Tây Phi cũng như ở Ai cập.
Hỏi : Làm sao ta có được một chẩn đoán đáng tin cậy ?
BS Hervé Baumaert : Mới đây, sự hiệu chính một kỹ thuật huỳnh quang (technique de fluorescence) cho phép, nhờ một chất phản ứng (réactif) được tiêm trước vào bàng quang, thấy được những polype dẹt mà trước đó không thể thấy được với một nội soi chuẩn (endoscopie standard), giải thích một tỷ lệ tái phát quan trọng.
Hỏi : Những giai đoạn khác nhau của những khối u bàng quang là gì ?
BS Hervé Baumaert : Ở giai đoạn đầu tiên, polype chỉ chạm đến lớp nông của bàng quang. Ở giai đoạn thứ hai thương tổn ung thư và trở nên xâm nhập ; nó đi vào cơ bàng quang. Ở giai đoạn thứ ba, khối u di căn, những tế bào ung thư đã xâm chiếm những cơ quan khác.
Hỏi : Những điều trị chuẩn của những giai đoạn khác nhau là gì ?
BS Hervé Baumaert : Đối với những khối u nông giai đoạn 1, điều trị tùy thuộc vào mức độ ác tính của những tế bào ung thư. Đối với ung thư có nguy cơ cao (tumeur à haut risque) (có tiến triển nhanh), ta cho BCG (vaccin chống lao) hay một hóa học liệu pháp tại chỗ, với 60% những kết quả tốt. Đối với những ung thư có nguy cơ thấp, ta chỉ cần một theo dõi đều đặn (93% được chữa lành).
Hỏi : Thế còn đối với những ung thư thâm nhiễm (cancers infiltrants) giai đoạn 2 ?
BS Hervé Baumaert : Điều trị chuẩn là cắt bỏ bàng quang liên kết với cắt bỏ tuyến tiền liệt đối với đàn ông và cắt bỏ tử cung đối với phụ nữ. Tùy theo mức độ ác tính của ung thư, ta liên kết một hóa học liệu pháp trước hoặc sau phẫu thuật. Đối với những ung thư giai đoạn 3, những điều trị dựa trên miễn dịch liệu pháp đang được đánh giá và dường như đầy hứa hẹn.
Hỏi : Những bất tiện của phẫu thuật là gì ?
BS Hervé Baumaert : Để thực hiện can thiệp, ta tạo một bàng quang mới bằng một khúc đoạn ruột non, có thể là nguyên nhân của rò tiểu. Để tránh những rò tiểu này, giải pháp thay thế là gắn vào bụng một bọc nước tiểu trong đó nước tiểu chảy vào. Vài bệnh nhân khó có thể chấp nhận điều đó, nhất là điều này gây một biến đổi schéma corporel. Bất tiện khác ở đàn ông : một nguy cơ bất lực do thương tổn những dây thần kinh cương.
Hỏi : Để tránh phẫu thuật này, những tiến bộ mới nhất là gì ?
BS Hervé Baumaert : Một điều trị bảo tồn liên kết cắt bỏ u bằng đường nội soi, hóa học liệu pháp và những buổi phóng xạ liệu pháp.
Hỏi : Protocole là gì ?
BS Hervé Baumaert : Sau khi cắt bỏ ung thư bằng đường tự nhiên, bệnh nhân nhận, trong 6 tuần, một điều trị chimiothérapie radiosensibilisante (dựa trên cisplatine) nhằm làm cho những tế bào ung thư dễ bị tiêu hủy hơn bởi bức xạ liệu pháp.
Hỏi : Những kết quả của phối hợp cho phép tránh một phẫu thuật nặng nề là gì ?
BS Hervé Baumaert : Những kết quả, được công bố cách nay vài tháng trong tạp chí ” European Urology “, báo cáo đến 63% những trường hợp thuyên giảm vào lúc 5 năm.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với phương pháp bảo tồn này hay không ?
BS Hervé Baumaert : Điều trị chỉ có thể được đề nghị đối với những bệnh nhân mà khối u là duy nhất, không vượt quá 3 cm và không làm tắc niệu đạo. Do đó tầm quan trọng chọn lọc dùng những bệnh nhân có thể hưởng được tiến bộ này.
(PARIS MATCH 17/10- 23/10/2013)

7/ CHỤP HÌNH ANH PHÂN TỬ CÓ CHO PHÉP CHẨN ĐOÁN TỐT HƠN NHỮNG UNG THƯ ?
Professeur Alain Luciani
Imagerie médicale
CHU Henri-Mondor

Những tia X cho những thông tin về cơ thể học và hình thái học của các cơ quan và của các khối u, nhưng không cho phép thấy sự hoạt động của một tế bào. Chụp cộng hưởng từ (IRM) và tất cả những kỹ thuật scintigraphie mang lại khả năng hiểu được chuyển hóa tế bào. Như thế chụp hình ảnh đã chuyển qua một quy mô mới. Chụp hình ảnh phân tử (imagerie moléculaire) cho phép định vị và thấy được in vivo một tế bào và hoạt động của nó, cũng như nhà mô học (histologiste) và immuno-histochimiste làm như vậy in vitro trên các mô chết. Phương pháp này tạo khả năng khảo sát một mô sống nhưng không làm biến thái nó. Thật vậy những tiến bộ quan trọng đã được thực hiện trong những năm qua nhờ những tiến bộ kết hợp của ingénierie de la biologie moléculaire, của hóa học, của miễn dịch học và của di truyền học, dẫn đến những đổi mới liên ngành, ảnh hưởng lên những chiến lược điều trị.
Hai kỹ thuật imagerie hybride et fonctionnelle hôm nay được sử dụng và đang được hợp thức hóa trong ung thư học, trong khung cảnh chẩn đoán, phân tầng (stadification : satging), bilan d’extension, đánh giá nguy cơ và tiên lượng, theo dõi và những lựa chọn điều trị trong những bệnh ung thư khác nhau : PET-scan và IRM.
Chụp cộng hưởng từ khuếch tán (IRM de difusion) trước hết đã được sử dụng trong chụp hình ảnh não để nhận diện sớm những tai biến mạch máu não, rồi nó đã được áp dụng ở những cơ quan khác nhau, gan, ruột, phổi…Và sau cùng trên quy mô toàn thân thể, thí dụ, để phát hiện và xác định đặc điểm thương tổn hạch ung thư.
SU TĂNG SINH TẾ BÀO
Nhắc lại tóm lược về nguyên tắc của IRM de diffusion : thăm dò này cho phép đo lường tầm quan trọng của sự khuếch tán của những phân tử nước trong các mô (trị số đo của hiện tượng khuếch tán này được gọi là ADC hay coefficient de diffusion apparent). Nếu tính di động của những phân tử nước trong một mô thấp, có một sự hạn chế của sự khuếch tán, và ADC thấp, điều này được thể hiện bói một tăng tín hiệu (hypersignal) trên séquence de diffusion khi chụp cộng hưởng từ. Ngược lại, nếu các phân tử nước rất di động, ADC tăng cao.
Những mô ung thư vì được cấu tạo bởi một sự tăng sinh tế bào vô tổ chức, do đó với một sự gia tăng của cellularité, nên IRM de diffusion toàn cơ thể mang lại những thông tin chính xác trong khung cảnh chẩn đoán và phân định giai đoạn (stadification) (thường hơn được chỉ bởi thuật ngữ staging) của vài bệnh ác tính. Nó cho phép xác định đặc điểm những hạch và xác định vị trí những di căn ở xa, nhất là xương, không được phát hiện bởi scanner. Nó cũng có thể có một lợi ích quan trọng trong sự theo dõi những điều trị, bằng cách phân biệt những thương tổn hiền tính và ác tính còn sót lại, thông tin có tính chất quyết định đối với điều trị.
Còn PET-scan là một kỹ thuật chụp hình ảnh hạt nhân càng ngày càng được sử dụng trong chẩn đoán, phân định giai đoạn (staging) và theo dõi những u ác tính khác nhau. PET-scan liên kết những dữ kiện hình thái học của scanner và những thông tổn cơ năng của PET (positron emission tomography), theo sự định vị của một traceur, FDG (2-fluoro-2-deoxy-glucose), có một ái tính đặc biệt đối với đường. FDG gắn vào những cấu trúc tiêu thụ nhiều đường.
Trong khung cảnh của những ung thư, PET cung cấp những thông tin quý giá về chuyển hóa chất và lượng của các khối u, những dữ kiện thiết yếu để chẩn đoán và theo dõi. PET-scan cho phép phát hiện một hoạt động chuyển hóa bất thường ở mức phân tử trong các cơ quan có vẻ có hình thái học bình thường lúc những thăm dò X quang chuẩn. Nó cho phép phân biệt những thương tổn hiền tính và ác tính và trong vài trường hợp làm rõ giai đoạn của ung thư. PET cũng hữu ích trong theo dõi các bệnh nhân.
Hiện nay những nghiên cứu được thực hiện để xác nhận những đóng góp của IRM toàn thân thể và PET-scanner, để xác định trong trường hợp nào ưu tiên thăm dò này hay thăm dò kia, trong những tình huống nào phối hợp chúng để thu được những thông tin bổ sung. Những nhà chế tạo đã đề nghị những máy phối hợp IRM de diffusion toàn cơ thể và PET-scan.
Trong trường hợp lymphome B diffus à grandes cellules, PET-sanner cho phép đánh giá ngay đợt hóa học liệu pháp thứ hai khối u có đáp ứng với điều trị hay không. Trước đây, phải đợi cuối những đợt điều trị hóa học liệu pháp để thực hiện một bilan và đánh giá tính hiệu quả của điều trị. Theo những công trình nghiên cứu sơ khởi, IRM de difusion cũng có thể cho phép, nếu lựa chọn điều trị đầu tiên không hiệu quả, sớm theo một hóa học liệu pháp khác, điều này mang lại nhưng cơ may mới cho bệnh nhân và tránh bắt bệnh nhân chịu một điều trị nặng nề và vô ích. Những công trình quy mô lớn bao gồm PET-sanner và IRM đang được tiến hành.
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ TÁI PHÁT.
Trong trường hợp ung thư gan, PET-scan, mà vai trò trong sự phát hiện các ung thư gan nguyên phát xuất hiện từ xơ gan lúc đầu đã bị lãng quên, có một lợi ích quan trọng trong đánh giá nguy cơ tái phát và những cơ mày sống còn sau khi ghép gan. Điều này, trong khung cảnh thiếu các mẫu ghép, có thể cho phép chọn lọc tốt hơn những bệnh nhân sẽ hưởng lợi từ một ghép gan.
Chỉ định quan trọng khác của chụp hình ảnh chức năng và phân tử : ung thư trực tràng. IRM de diffusion có thể làm đảo lộn sự xử trí điều trị. Điều trị chuẩn của những ung thư trực tràng, thường chẩn đoán muộn và như thế ở một giai đoạn tiến triển, phối hợp hóa học liệu pháp và bức xạ liệu pháp, tiếp theo sau, dầu kết quả như thế nào, bởi một amputation abdominopelvienne với thiết đặt một stomie đôi khi vĩnh viễn. Thật vậy, cho đến nay, chụp hình ảnh không cho phép xác định có còn sót lại hay không mô ung thư. IRM de diffusion phân biệt những thương tổn còn sót lại hiền tính và ác tính, mang lại khả năng gìn giữ sự liên tục của ruột trong trường hợp hiền tính.
Sự xếp loại TNM (tumor-node-metastasis), bao gồm sự đánh giá kích thước của khối u, một thương tổn hạch, sự lan rộng của nó và sự hiện diện hay không những di căn ở xa, có tính chất quyết định trong các chiến lược điều trị. Trong khung cảnh của các ung thư phế quản, PET-scan cải thiện sự nhận diện của khối u, sự phát hiện của các hạch và các di căn, điều này cho phép một sự xếp loại chính xác hơn và do đó một sự xử trí thích ứng hơn.
(LE FIGARO 26/11/2012)

8/ UNG THƯ VÚ : MỘT CHIẾN LƯỢC MỚI ĐẦY HỨA HẸN.
Những kháng thể mang trực tiếp một “colis piégé” đến những tế bào ung thư.
CANCER. Vào năm 2011, 53.000 trường hợp ung thư vú mới đã được phát hiện ở Pháp. Tỷ lệ sinh tồn vào lúc 5 năm từ nay vượt quá 85%. Mặc dầu những con số khá thuận lợi này, những tiến bộ vẫn còn khả dĩ. Như vừa chứng tỏ điều đó qua sự trình bày của thử nghiệm Emilia, ngày 6 tháng năm, nhân hội nghị hàng năm của các chuyên gia ung thư học trên toàn thế giới, diễn ra trong thời gian 1 tuần ở Chicago. Thử nghiệm này nhằm so sánh một chiến lược mới cực kỳ nhắm đích (stratégie ultraciblée) trong vài ung thư vú di căn với một điều trị cổ điển. Đối với những trường hợp khó này, những kết quả đầu tiên cho thấy không mập mờ một tiến triển thuận lợi hơn với chiến lược điều trị này.
Nguyên tắc căn bản của ciblage moléculaire vốn đã cần thiết trong ung thư học. Ta biết rằng tất cả các khối u ung thư khác nhau trên bình diện đặc điểm di truyền của chúng. Trên lý thuyết mỗi ung thư có thể nhận một điều trị đặc hiệu được gọi là “nhắm đích” (ciblé). Các nhà ung thư học từ nay có thể tìm kiếm những chất chỉ dấu sinh học di truyền (biomarqueur génétique) trên khối u để biết trước sự sử dụng một thuốc điều trị nào đó có bỏ công hay không. Cũng gần như thế khi ta kiểm tra rất cẩn thận để xem một địa chỉ có đúng là hiện hữu trước khi gởi một bức thư ” nhắm đích” (une lettre ciblée).
SỰ CHÍNH XÁC VÔ SONG.
Thí dụ, năm 2010, trong ung thư vú, 7800 bệnh nhân đã có thể được tìm kiếm surexpression của thụ thể HER2. Thế mà khi HER2+, điều này là trường hợp trong 15% các trường hợp, chữ ký (signature) này biểu hiện một adresse valide để thực hiện những điều trị nhắm đích loại trastuzumab (Herceptin). Với thử nghiệm Emilia, các nhà ung thư học còn đi xa hơn : có thể nói họ phối hợp một colis piégé (DM1) với trastuzumab để phân phát cho tế bào ung thư một “bom chống ung thư” thật sự. Thật vậy đó là mang thuốc trực tiếp vào trung tâm của những tế bào ung thư nhằm tiêu hủy những tế bào này nhờ kháng thể (tratuzumab), cũng có một tác dụng chống ung thư. Một sự chính xác vô song đã cho phép sử dụng DM1 mạnh, một thuốc vốn không thể sử dụng bởi vì quá độc đối với những tế bào lành mạnh.
Đối với BS William Jacot, thầy thuốc ung thư học y khoa thuộc Trung tâm chống ung thư của Montpellier : ” Sự kiện liên kết DM1 với kháng thể, rất đặc hiệu đối với những tế bào khối u, cho phép đồng thời tác dụng của kháng thể lên những tế bào ung thư, nhưng cũng, sau internalisation của trastuzumab-DM14, cho phép phóng thích DM1 trong tế bào ung thư, làm gia tăng tính hiệu quả ở khối u đồng thời làm giảm rất rõ rệt độc tính ở các mô lành mạnh.”
CHƯA CÓ TRÊN THỊ TRƯỜNG
Một chiến lược có lợi, theo GS Emmanuel Mitry (Viện Curie) : ” Lợi ích tuy bé nhỏ, nhưng rất có ý nghĩa về mặt thống kê. Nhưng quan trọng nhất là về mặt dung nạp (tolérance). Có rất ít độc tính huyết học, chỉ vài trường hợp giảm tiểu cầu (thrombopénie).” Thật vậy, thời kỳ không tiến triển đã dài ra một cách rõ ràng nhờ điều trị mới này. Một kết quả tiên đoán một sự cải thiện của tỷ lệ sống còn toàn bộ, theo BS Jacot : ” Những dữ kiện sống còn toàn bộ là hứa hẹn. Ngược lại, ở Chicago, các tác giả đã nhấn mạnh sự cần thiết tái cập nhật hóa những dữ kiện cuối năm 2013, vì thời gian theo dõi các bệnh nhân còn chưa đủ.” Đối với GS Kimberly Blackwell (đại học Duke), nhà nghiên cứu chính của công trình : ” Điều trị này mở đường cho một số lớn những tác nhân chống ung thư khác nhau phối hợp với một hệ thống mang đến đích điều trị một kháng thể.” Trong tương lai, những ung thư khác sẽ nhận một chiến lược tuong tự. Hiện nay, thuốc còn đang được thử nghiệm, chưa có trên thị trường.
(LE FIGARO 8/6/2012)

9/ MỘT UNG THƯ TỰ NÓ CÓ THỂ THOÁI BIẾN KHÔNG ?
Vâng : một ung thư xuất hiện, phát triển, rồi biến mất mà y khoa không can thiệp gì hết, điều đó đúng là hiện hữu. nhưng rất là hiếm. Trong những ung thư cổ điển nhất, như ung thư vú, sự thoái biến ngẫu nhiên xảy ra dưới 1 trường hợp trên 100.000. Trong những điều kiện này khó mà rút ra được những thông tin. Nhưng có 4 thể liên quan một cách đặc hiệu bởi hiện tượng này : neuroblastome (những ung thư của hệ thần kinh của trẻ em), ung thư máu tạm thời (leucémie transitoire), ung thư thận, và u hắc tố (mélanome). Đối với hai ung thư đầu, gây bệnh những trẻ em rất trẻ tuổi, những nhà nghiên cứu có thể đưa ra một giải thích cho những thuyên giảm đáng ngạc nhiên này : những biến đổi (sinh lý, kích thích tố…) liên kết với sự tăng trưởng cơ thể chống lại sự phát triển chứa những tế bào ung thư. Nhưng giả thuyết này chỉ đứng vững đối với những ung thư nhi đồng, chứ không đúng với những thoái triển ở người lớn. Sự biến mất của một ung thư thận hay một u hắc tố có thể được giải thích bởi một phản ứng bất ngờ của hệ miễn dịch. Thật vậy, do nhận diện khối u như là một kẻ thù, cơ thể đã thành công tiêu huỷ nó. Mặc dầu chưa được biết, tính miễn dịch bẩm sinh này có thể, trong phòng thí nghiệm, tỏ ra phong phú những enseignements.
(SCIENCES &VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

10/ JOHANN FRIEDRICH MECKEL : NHÀ CƠ THỂ HỌC GHÉT MÔN CƠ THỂ HỌC.
Khi Meckel lao mình vào y khoa, khoa học thường còn được nuôi dưỡng bởi những công trình được nặn óc viết ra mà không có bằng cớ. Meckel là một trong những kẻ đã đấu tranh để làm chấp nhận thí nghiệm (expérimentation) và quan sát (observation), và áp đặt điều sẽ là một version đầu tiên của ” evidence based medecine” của chúng ta ngày nay.
Johann Friedrich Meckel, được gọi là ” le jeune”, được dự định để trở thành thầy thuốc. Ông sinh năm 1781 ở Halle (Đức) trong một dòng họ gồm những thầy thuốc và mang tên của ông nội (l’ainé). Cậu bé này, một khi trưởng thành sẽ kế nghiệp bố và ông cố để trở thành giáo sư cơ thể học và ngoại sản ở Đại học Halle. Nhưng Meckel lại ghét y khoa từ khi bố yêu cầu cậu giúp đỡ trong lúc phẫu tích.
Tuy vậy Meckel sẽ trở thành một trong những nhà cơ thể học vĩ đại nhất của thời đại ông. Vào năm 16 tuổi ông theo cha để đi đỡ đẻ cho nữ hoàng (tsarine) ở Saint-Péterbourg. Năm sau, ông bắt đầu học y khoa và học cơ thể học dưới sự chỉ đạo của bố. Ông nhận bằng tốt nghiệp năm 21 tuổi và trình một luận án về những dị tật tim (malformations cardiaques) bằng cách sử dụng những mẫu của bộ sưu tập riêng của gia đình.
ĐƯỢC GIẢI THOÁT KHỎI BỐ
Meckel đi Wurzburg và Vienne, ở đây ông theo đào tạo triết học của tự nhiên (philosophie de la nature). Ông trở lại Halle lúc bố ông qua đời nhưng sau đó lên đường đi Paris.
Nhờ nam tước Georges Cuvier, ông phân tích một cách hệ thống bộ sưu tập to lớn về cơ thể học và động vật học của Vườn Bách Thảo. Của trời cho này, trở về từ những chiến dịch của Napoléon ở nước ngoài, đã được mô tả bởi Cuvier trong năm volume và được Meckel dịch ra tiếng Đức.
Được tuyển dụng như maitre de conférence lúc chỉ mới 25 tuổi, ông trở lại Halle khi những lực lượng của Napoléon chiếm thành phố và giải tán trường đại học địa phương. Napoléon trưng dụng nhà của ông để làm tổng hành dinh nhưng góp phần gìn giữ bộ sưu tập to lớn của gia đình..
Hai năm sau, trường y khoa tái sinh và Mecket trở thành giáo sư cơ thể học bình thường và bệnh lý, ngoại khoa và sản khoa. Ông sẽ vĩnh viên ở lại trong thành phố quê ông, làm việc dữ nhưng dần dần bị bực tức cau có bởi tính tầm thường của các đồng nghiệp và thiếu nhẫn nại trước tính chất quan liêu mà chính phủ Phổ áp đặt, xem thành phố của ông là thứ yếu và tỉnh lẻ.
MỘT SỰ NGHIỆP ĐA DẠNG
Do vẻ lôi cuốn, Meckel lôi kéo một số rất lớn những sinh viên đến từ khắp nơi tham gia những bài giảng của ông. Halle trở nên trung tâm cơ thể học so sánh (anatomie comparée) quan trọng nhất ở Đức.
Vào năm 34 tuổi, ông thành lập một tờ báo mới, Deutsches Archive fur die Physiologie và ông bố những công trình của nhiều nhân vật nổi tiếng. Meckel viết lời đề tựa của số báo đầu tiên, nhấn mạnh rằng chỉ những bài báo căn cứ trên những quan sát và thí nghiệm mới được in. Ông hy vọng rằng một phương pháp như thế sẽ chiếm ưu thế dần dần đối với tất cả các nghành khoa học.
Trong những công trình của mình, Meckel viết những mô tả đa dạng như sự phát triển của hệ thần kinh trung ương của những động vật có vú, những quan sát mới liên quan đến sự phát sinh của phổi, tim, ruột, và túi cùng nổi tiếng của ông (diverticule de Meckel), nhưng ông cũng viết quá trình phát triển phôi (embryogenèse) của các con sâu đất, những thể trạng xuất huyết (diathèse hémorragique), sự phát triển của răng người và cơ thể học não của các con chim.
VÌ MỘT KHOA HỌC CHÍNH XÁC.
Mặc dầu bị ảnh hưởng bởi những niềm tin vào một sinh lực của thiên nhiên (une force vitale de la nature), Meckel bảo vệ tính chất hiện thực của sự phát triển phôi thai. Những giải thích của ông nhanh chóng trở nên lỗi thời, nhưng tératologie de Meckel vẫn là một nguồn qúy báu nhất đối với những người say mê cơ thể học so sánh và những bất thường bẩm sinh. Ông trình bày trong tác phẩm này một phân tích chi tiết và giản dị về một chủ đề cho mãi đến khi đó còn chứa những ảo ảnh và thành kiến đạo đức.
Cuộc đời tư của Meckel ít thành công hơn, mặc dầu vợ ông điều khiển bảo tàng viện gia đình và giúp ông trong những sữa soạn cơ thể học. Cũng chính bà đã làm hộ gia đình trở thành điểm gặp gỡ của các nhà quý tộc quan trọng của đất nước. Meckel cũng nổi tiếng ở nước ngoài và nhiều khen thưởng đại học đã dành cho ông.
Không được hạnh phúc làm trong cuộc sống gia đình, bị một bệnh gan mãn tính đau đớn, ông trở nên bất khoan dung và độc tài chuyên chế lúc ông ở lứa tuổi ngũ tuần. Các bạn ông mô tả ông là người kiêu hãnh, thích điều khiển, bốc đồng và cau có, không thể thỏa hiệp và xung đột không ngừng với các đồng nghiệp của mình.
Khoa trường đại học y khoa, ông trở nên paranoide (hoang tưởng bộ phận), về hưu, sống cô lập và chết năm 52 tuổi không con cái.
(LE JOURNAL DU MEDECDIN 13/9/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/11/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s