Thời sự y học số 350 – BS Nguyễn Văn Thịnh

thien 011/ TINH THẦN CHỮA LÀNH THÂN THỂ NHƯ THẾ NÀO ?
Sự luyện thiền (méditation), bằng cách biến đổi cấu trúc và sự vận hành chức năng của noa bộ, tác động một cách dương tính lên sức khỏe. Ngày nay neurosciences có khả năng chứng tỏ điều đó.
thien 07Tinh thần (esprit) không hiện hữu một cách riêng rẻ, mà cơ bản là một bộ phận của thân thể, và tinh thần và thân thể không ngừng trao đổi những thông tinh thuộc loại cảm xúc, Marc Williams, nhà nghiên cứu thuộc đại học Oxford (Vương Quốc Anh) đã xác nhận như vậy trong tác phẩm mới của ông Méditer pour ne plus stresser. Thật vậy, những tư tưởng và cảm xúc của chúng ta ảnh hưởng một phần lớn những cảm giác vật lý của chúng ta, cũng như điều xảy ra trong cơ thể của chúng ta can thiệp lên tất cả những gì ta tư duy.” Và tác giả tin chắc rằng một sự luyện tập tinh thần có thể làm đỡ nặng cơ thể. Sự luyện tập não bộ (exercice cérébral), mà nhà nghiên cứu gợi lên, là sự trầm tư mặc tưởng đầy ý thức (la médiattion de pleine conscience). Phát xuất từ những truyền thống Phật Giáo, sự thực hành này nhằm luyện tinh thần tập trung chú ý vào những cảm giác của mình, vào giây phút hiện tại, rồi dần dần học cách điều hòa. Nhiều công trình nghiên cứu neurosciences, được tiến hành từ những năm 1990, chứng tỏ rằng không những sự luyện tập não bộ này có lợi cho cơ thể của chúng ta, mà nó còn biến đổi não bộ, cấu trúc và sự vận hành chức năng của nó.thien 08Không phải chỉ là một sự hâm mộ nhất thời, sự sử dụng “y khoa” của thiền (médittaion) đã có từ cuối những năm 1970, khi một nhà khoa học vững tin Hoa Kỳ, Jon Kabat-Zinn, tiến sĩ sinh học phân tử và giáo sư y khoa ưu tú của đại học Masssachusetts, thien 09đã có ý tưởng cách mạng muốn ” thế tục hóa” (laiciser) sự hành đạo của các tu sĩ Phật giáo để chỉ giữ lại khía cạnh thực hành. Như thế Kabat-Zinn đã phát triển một chương trình được mệnh danh là ” giảm sự căng thẳng nhờ pleine conscience ” (MBSR : Mindfullness Based Stress Reduction), dựa trên yoga và nhất là thiền (méditation). Những thử nghiệm được thực hiện trên các bệnh nhân đã cho thấy rằng cách thực hành này ngăn ngừa tái phát chứng trầm cảm, đau mãn tính, quản lý stress cũng như nhiều bệnh liên kết với những rối loạn khí chất. National Institutes of Health Hoa kỳ khi đó đã thực hiện những công trình nghiên cứu để hiểu những cơ chế nhận thức và tế bào thần kinh cơ sở của những kết quả này. Hôm nay MBSR (hay MBCT, Mindfullness Based Cognitive Therapy) được đề nghị trong gần 200 bệnh viện Hoa Kỳ. Nước Pháp chỉ bắt đầu quan tâm sát điều đó. Văn bằng đại học đầu tiên đã được cấp năm nay ở đại học Strasbourg.
NHỮNG MẠNG NEURONE ĐẶC HIỆU ĐƯỢC KÍCH HOẠT
thien 04Làm thế nào để não của chúng ta trầm tư mặc tưởng và rút ra tất cả những lợi ích này ? Người tập thiền (apprenti méditant) phải an tọa trong một nơi yên tĩnh, ngồi trong một tư thế vừa thư giãn vừa tỉnh táo. ” Hãy tìm một tư thế giúp bạn vẫn thức tỉnh và hãy nhắm mắt lại nếu có thể, Christophe André, thầy thuốc tâm thần thuộc trung tâm bệnh viện Sainte-Anne (Paris), đang thực hành và giảng dạy thiền từ 10 năm nay, đã khuyến nghị như thế với giọng nói làm dịu lòng. Hãy bắt đầu giai đoạn đầu tiên bằng cách quan sát điều xảy ra trong trí của bạn, và trong thân thể của bạn, ở đây và bây giờ. Hãy quan sát météo nội tại của bạn giống với cái gì, hãy quan sát những cảm xúc lưu thông, những tư tưởng, tất cả những cảm giác trong thân thể bạn, nhưng không tìm cách làm thay đổi chúng, bằng cách cỡi mở với những gì đã ở đó.”thien 12
Sau đó thầy thuốc tâm thần yêu cầu tập trung sự chú ý vào một vật, vào hơi thở của chính mình hay những phần khác nhau của thân thể (thí dụ trong bài tập được gọi là Body Scan). Mục đích là cố không để bị đảng trí. Trên thực tế điều đó không thể thực hiện. Tinh thần không ngừng tách rời đối tượng của sự chú ý để lang thang (vagabonder). Một ý tưởng, một âm thanh làm nó lơ đãng và thế là tinh thần phiêu lãng. Tất cả sự luyện tập nhằm ý thức sự lang thang này và mang sự chú ý trở lại đối tượng.
stk23300hlsThế thì điều gì xảy ra dưới sọ của chúng ta ? Wendy Hasenkamp, neuroscientifique của đại học Atlanta (Hoa Kỳ), và kíp của ông trong thí nghiệm đã yêu cầu những người thiền (méditant) thực hành trong 20 phút, nằm dài trong một scanner và ấn vào một nút ngay khi họ nhận thức rằng trí của họ đang siêu thoát. Kết quả : kíp nghiên cứu đã khám phá rằng não bộ đi xuyên qua một chu kỳ gồm 4 giai đoạn, có thể được nhận diện bởi sự kích hoạt của 4 mạng neurone khác nhau liên kết với sự chú ý. Chu kỳ nhận thức này (cycle cognitif) được lập lại nhiều lần trong buổi tập thiền (séance de méditation), biến đổi tình trạng tri giác của cá thể, và cuối cùng phát khởi một cảm giác thoải mái (sensation de bien-être).thien 14
Cùng kíp Atlanta sau đó đã so sánh não bộ của những người đã tập thiền đều đặn với những người mới được khai môn. Kết quả không thể chối cãi : những mạng neurone phụ trách sự chú ý được kết nối hơn ở những người tập thiền đều đặn. ” Những liên hệ neurone này có thể liên quan trong sự phát triển những năng lực nhận thức (capacité cognitive), như duy trì sự chú ý và chống lại sự đảng trí, thường được báo cáo trong thực hành thiền, Wendy Hansenkamp đã đánh giá như vậy. Vậy điều đó có thể giải thích một sự luyện thiền có thể mang lại những lợi ích nhận thức (bénéfices cognitifs) trong đời sống hàng ngày như thế nào.”
Ngay năm 2009, Antoine Lutz, nhà nghiên cứu Phap của phòng thí nghiệm Richard Davidson (đại học Wisconsin-Madison, Hoa Kỳ), người đầu tiên đã thực hiện những công trình chụp hình ảnh trên não bộ của các tu sĩ Phật giáo năm 2001, phát hiện những lợi ích của một thực hành như thế ” Công trình nghiên cứu của chúng tôi trên những người luyện thiền tích cực (méditant intensif) (8 giờ mỗi ngày) cho thấy rằng, sau 3 tháng, khi thực hiện những bài tập về sự chú ý duy trì, thời gian phản ứng thay đổi ít hơn so với trước khi luyện tập và sự đáp ứng não bộ ổn định hơn. Những kết quả này gợi ý một sự ổn định lớn hơn trong sự điều hoà sự chú ý, cũng như một năng lực tốt hơn tập trung vào giây phút hiện tại mà không bị đảng trí “, Antoine Lutz đã ghi nhận như vậy. Trước đây, vào năm 2007, ông đã khám phá rằng cách thực hành này cho phép phát triển một tính uyển chuyển nhận thức (flexibilité cognitive) lớn hơn. ” Khi bạn gặp một cảm xúc âm tính, bạn mong muốn thoát khỏi nó một cách một cách uyển chuyển. Công trình nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng sự thực hành thiền giúp tác động trở lại những khả năng chú ý (ressources attentionnelles) và không để bị lơ đảng.” Trở lại Pháp, ở Institut de neurosciences de Lyon, Antoine Lutz hiện nay sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của những liệu pháp thiền định (thérapie méditative) lên chứng trầm cảm.
SỰ LUYỆN TẬP TÂM THẦN ĐIỀU BIẾN ĐƯỢC NHỮNG CẢM GIÁC
thien 13Thiền cải thiện sự chú ý nhưng không chỉ có thế. Catherine Kerr, nhà nghiên cứu thuộc đại học Brown (Providence, Hoa Kỳ) trình bày trong một ấn bản lý thuyết của bà : luyện tập tâm thần (exercice mentale) cho phép tập điều biến những cảm giác của mình. ” Một cấu trúc trung ương của não, thalamus, nối những entrée sensitive phát xuất từ cơ thể và gởi chúng lên vỏ não thân thể-giác quan (cortex somato-sensoriel), nơi đây nảy sinh những cảm giác”, nhà nghiên cứu, nhắc lại rằng mỗi cơ quan đều chiếu lên vỏ não thân thể-vận động, đã giải thích như vậy.
” Đồi thị (thalamus) gởi những xung động điện với tần số nằm giữa 8 và 12 hertz, được gọi là những sóng alpha, có tác dụng điều biến những cảm giác. Trong khi tâm trí tập trung vào một phần của cơ thể, các sóng alpha giảm trên vùng tương ứng của vỏ não, điều này làm gia tăng cảm giác.Trong khi đó ở khắp nơi khác những sóng alpha gia tăng và những cảm giác giảm “, nhà nghiên cứu nói rõ chi tiết như vậy. Như thế, thí dụ khi ta tập trung vào bàn tay của mình, nhịp alpha giảm trong vùng của bàn tay ấy trong vỏ não thân thể-giác quan, ” như một vùng biển yên tĩnh”, trong khi những vùng khác vẫn ” như một vùng biển động”.thien 10 Kíp của Catherine Kerr, tuyển những người tham dự theo chương trình MBSR, đã so sánh họ với một nhóm chứng và đã đo những nhịp alpha của não bộ bằng MEG (magnétoencéphalographie). ” Những người tham gia, được luyện tập trung vào bàn tay của họ, gia tăng sự khéo léo trong điều biến nhịp alpha trong vùng “bàn tay” của vỏ não thân thể-giác quan. ” Nhà nghiên cứu ghi nhận rằng khả năng điều biến những cảm giác này là cần thiết cho trạng thái thoải mái, rằng nó có thể giúp những người trầm cảm quản lý những tư tưởng âm tính hay giúp những bệnh nhân chế ngự triệu chứng đau mãn tính của họ.
Sau cùng, những thay đổi này biến đổi não bộ cho đến tận cấu trúc của nó. Vào năm 2005, BS Sarah Lazar, thuộc Massachusets General Hospital (Boston, Hoa Kỳ), phát hiện, ở những người thiền định đều đặn, một sự dày lên của mô não của vùng vỏ não trước trán (cortex préfrontal) trái can dự trong quá trình nhận thức, xúc cảm và cảm giác thoải mái (sentiment de bien être). Ở những người cao tuổi nhất, hiện tượng này cân bằng với sự mỏng đi tự nhiên của vỏ não do lão hóa.
MỘT LÃNH VỰC NGHIÊN CỨU MỚI RA ĐỜI.
thien 15Vào năm 2010, cùng nhà nghiên cứu này đã chứng tỏ một sự lớn lên của hippocampe (cho phép sự ghi nhớ) và một sự teo lại của amygdale (nhạy cảm với sự sợ hãi) ở những người thiền định. Ngoài ra, não cũng có vẻ được nối kết tốt hơn. Vào năm 2012, Eileen Luders, thuộc đại học Californie ở Los Angeles, nhờ IRM de diffusion, đã nhận thấy rằng những sợi neurone (chất trắng) của những người thiền là nhiều hơn và dày đặc hơn giữa những vùng khác nhau của não bộ và rằng bị mất ít hơn nhiều do tuổi tác so với những người chứng.
” Dựa vào tất cả những kết quả này và những lợi ích được xác nhận đối với sức khỏe, những nhà nghiên cứu về tâm lý học, y học, tâm thần học, neurosciences, sciences de l’éducation, neuropsycho-immunologie (tác động của não lên những đề kháng miễn dịch) đã liên minh để thăm dò một lãnh vực nghiên cứu mới, Antoine Lutz đã lấy làm hoan hỉ như vậy. Mục tiêu là hiểu làm sao sự luyện tập tinh thần có thể gây nên những biến đổi trong não bộ và trong cơ thể, nhưng cũng làm nảy sinh những tính chất con người, như sự tha giác (empathie) và lòng trắc ẩn (compassion). Lãnh vực mới này đã được mệnh danh là “sciences contemplatives”. Hội nghị chuyên đề đầu tiên đã diễn ra năm qua ở Denver.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2013)

2/ VĂN BẰNG ” Y KHOA, THIỀN VÀ NEUROSCIENCES ” ĐẦU TIÊN Ở ĐẠI HỌC Y KHOA STRASBOURG.
Dr Jean-Gérard Bloch, co-responsable của Diplôme ” Médecine, Méditation et Neurosciences”
Hỏi :Ý tưởng về văn bằng ” Médecine, méditation et neurosciences ” đã nảy sinh như thế nào ?
BS Jean-Gérard Bloch : Là thầy thuốc được đào tạo về rhumatologie, từ 15 năm nay tôi quan tâm thiền và những công trình của nhà sinh học phân tử (biologiste moléculaire) Hoa Kỳ Jon Kabat-Zinn. Chính ông, từ gần 30 năm qua, đã thế tục hóa thiền Phật giáo đồng thời hình thức hóa phương pháp thiền trong trạng thái ý thức hoàn toàn (méditation en pleine conscience) được gọi là MBSR (Mindfullness Based Stress Reduction) theo một format 6 tuần. Ở Strasbourg, tôi đã đưa vào chương trình này cách nay 5 năm, thí dụ, cho những bệnh nhân bị đau mãn tính. Cùng với đồng nghiệp của tôi là thầy thuốc chuyên khoa tâm thần giáo sư Gilles Bertschy, chúng tôi đã xây dựng một đào tạo cho những người làm y tế. Chúng tôi muốn đề nghị một phương pháp được chuẩn nhận về mặt khoa học về những mối liên hệ kết hợp thân thể và tinh thần trong y khoa. Với sự hỗ trợ của khoa trường của đại học Strasbourg, văn bằng đại học này đã có thể ra đời vào tháng hai năm nay. Một première ở châu Âu.
Hỏi : Mục tiêu của nó là gì ?
BS Jean-Gérard Bloch : Đó là đề nghị khám phá, hay đào sâu những kiến thức, về những mối liên hệ thân thể-tâm thần (liens corps-esprit) bằng một giảng dạy vừa lý thuyết vừa thực hành. Sau đó những học viên sẽ áp dụng thiền trong phương thức điều trị của mình hay tiến hành những công trình nghiên cứu.
Hỏi : Profil của những học viên là gì ?
BS Jean-Gérard Bloch : Các thầy thuốc hành nghề ở thành phố hay ở bệnh viện và đến từ khắp nước Pháp, nhưng cũng từ Bỉ và Thụy Sĩ. Những thầy thuốc đa khoa, những thầy thuốc chuyên khoa (về thấp khớp, ung thư, tâm thần, tâm lý), hay cả những thầy thuốc thực hành bệnh viện (hospitalier), những thầy thuốc chuyên khoa cấp cứu, những thầy thuốc chuyên về đau đớn, những điều trị chữa tạm (soins palliatifs). Trong số họ, một số là những môn đồ của thiền hay đã thực hành yoga hay thư giãn (relaxation), nhưng cũng những người mới nhập môn.
Hỏi : Trên thực hành, tất cả điều đó đã diễn ra như thế nào ?
BS Jean-Gérard Bloch : Chúng tôi đã dự kiến 30 người. Nhưng với hơn 100 đơn ghi danh, chúng tôi đã chọn 50. DU (văn bằng đại học) được trải ra trong 6 tuần với hai session 5 ngày, cách nhau 4 tuần. Những session này được diễn ra en immersion totale, siêng năng và thiền định, trên núi Sainte-Odile (Bas-Rhin), không liên lạc với thế giới bên ngoài. Những lớp thực hành đã được chủ trì bởi những nhà triết học, neuroscientifique hay những chuyên gia về tâm lý học, nhưng chúng tôi đã muốn rằng những người tham gia cũng có thể trải qua một kinh nghiệm cá nhân về méditation en pleine conscience với những bài tập hàng ngày. Giữa hai session, mỗi học viên trở về nhà mình, nhưng không quên nhưng bài đọc, bài tập cá nhân và luôn luôn thực hành thiền định hàng ngày và đều đặn. Sau đó đào tạo được chuẩn nhận bằng một kỳ thi viết.
Hỏi : Sự hiện hữu của văn bằng đại học này có phải là một bằng cớ chứng tỏ rằng y khoa đang thay đổi ?
BS Jean-Gérard Bloch : Vâng, đó là một dấu hiệu về sự cởi mở của nó. Đối với tôi, thực hành này đã thay đổi cái nhìn của tôi về y khoa và các bệnh nhân. Từ nay tôi thấy tôi như là một người làm dễ (facilitateur), có thể đi kèm tốt hơn từ bên trong những người sống với căn bệnh. Chính họ là những chuyên gia chứ không phải tôi.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2013)

3/ THIỀN VÀ 6 TÁC DỤNG CÓ LỢI ĐỐI VỚI SỨC KHỎE
thien 18Thiền (Méditation) và Y Khoa thuận hòa với nhau. Một chỉ dấu ? 4 triệu trang cho một recherche Google với hai chữ chủ chốt “santé” và “méditation”, 119 triệu trang bằng tiếng Anh. Cùng số lượng nhiều trong những ấn bản khoa học, trong đó nhiều công trình nghiên cứu lưu tâm đến những lợi ích của thực hành thiền. ” Trong những năm qua, chúng tôi chứng kiến một sự bùng nổ thật sự của những công trình nghiên cứu “, thien 02BS Jean-Gérard Bloch, thầy thuốc nguồn gốc của văn bằng đại học đầu tiên này, dành cho những người hành nghề y tế ở Pháp,” Médecine, Méditation et Neurosciences “. Kết quả : danh sách của những rối loạn và bệnh và những bệnh hưởng lợi từ những tác dụng của thiền không ngừng dài ra.
Ở Hoa Kỳ, site Internet mindfulexperience.org ngay cả kiểm điểm từng tháng những công trình mới, đồng thời chỉ những tạp chí khoa học nào công bố chúng. Giảm stress và tình trạng lo âu, phòng ngừa những tái phát trầm cảm và giảm vécu douloureux là 3 trục được nghiên cứu nhất. Nhưng còn những tác dụng khác : hạ huyết áp, khả năng miễn dịch tốt hơn, làm chậm lại quá trình lão hóa… Theo những công trình nghiên cứu, một sự cần thiết duy nhất : phải thực hành đều đặn, khoảng một giờ mỗi ngày.
Tuy nhiên, BS Bloch cảnh báo : ” Chú ý, mặc dầu thiền tốt cho sức khỏe, nhưng nó không chữa lành bệnh. Nó chỉ cho phép, như những kỹ thuật khác, giúp sống được tốt hơn.” Thầy thuốc tâm thần Christophe André cũng cùng ý kiến. Trong nhiều tác phẩm của ông, thiền luôn luôn được trình bày không phải là một công cụ điều trị mà là phòng ngừa.
STRESS VÀ TÌNH TRẠNG LO ÂU ĐƯỢC LÀM GIẢM BỚTthien 02
Vâng, tập trung vào giây phút hiện tại làm giảm stress. Bằng cớ từ quan sát trực tiếp sự giảm hormone du stress, cortisol. Một công trình nghiên cứu rất mới đây đã chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa sự chú ý và stress. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng một cá nhân càng huy động sự chú ý của mình vào một kinh nghiệm giác quan (expérience sensorielle), thì nồng độ cortisol của người này càng hạ.
Một sự liên kết hỗ trợ cho nhiều công trình được thực hiện về những lợi ích của thiền định và những kỹ thuật khác trên những bệnh liên quan đến stress. Những bệnh thấp khớp, những bệnh viêm ruột ở đây dĩ nhiên là những ứng viên tốt, như một kíp nghiên cứu mới đây của đại học Wisconsin-Madison (Hoa Kỳ) đã chứng minh điều đó.
Những rối loạn khác như sự mệt mỏi, tình trạng mất ngủ, sự lo âu cũng có thể hưởng lợi phương pháp này. Ngoài ra, Quân đội Hoa Kỳ thí nghiệm một chương trình đặc biệt, M-Fit (Mindfulness Based Mind Fitness Training), dành cho các chiến sĩ bị thử thách bởi những năm tháng chiến đấu. Đối với những cựu chiến binh này, những dữ kiện đầu tiên xác nhận một chất lượng ngủ tốt hơn.
CHỨNG TRẦM CẢM CÓ THỂ ĐƯỢC NGĂN NGỪA
thien 06Từ stress đến trầm cảm thường chỉ cách nhau một bước. Bước này đã được vượt qua bởi những người mà, ngay những năm 1990, đã đề nghị một chương trình đặc biệt thích ứng với bệnh trầm cảm, MBCT (Mindfullness Based Cognitive Therapy). Hiệu quả, nó đã cho phép làm giảm một nửa nguy cơ tái phát trầm cảm sau một năm. Ở Pháp, thầy thuốc tâm thần Christophe André, một trong những người đã đưa vào phương pháp thực hành này ở những bệnh nhân trầm cảm ở bệnh viện Sainte-Anne (Paris). Rất mới đây, và lần đầu tiên trong một nhóm những thiếu niên tuổi từ 13 đến 20, được theo dõi trong 6 tháng trong khung học đường, một công trình nghiên cứu Bỉ đã chứng minh tính hiệu quả phòng ngừa của nó. Được tiến hành bởi đại học Louvain trong năm trường của Flandre, công trình đã xác lập rằng một chương trình đào tạo thiền cho phép làm giảm một nửa số những người bị trầm cảm, sáu tháng sau khi chấm dứt chương trình.
ĐAU ĐƯỢC LÀM GIẢM
Thiền để ít ịb đau hơn. Migraine, đau lưng, ung thư…bấy nhiêu những bệnh lý mà bệnh nhân chịu đựng. Từ hơn 20 năm nay, MBSR (Mindfulness Based Stress Reduction) được đề nghị cho những bệnh nhân trong hơn 200 bệnh viện Hoa Kỳ. BS Fadel Zeidan, thuộc đại học Wake Forest (Caroline du Nord) ngay cả đã chứng minh sự trội hơn của thực hành này so với các thuốc giả đau cổ điển. Theo công trình nghiên cứu của BS Fadel Zeidan, không cần phải là một chuyên gia về thiền mới cảm nhận những ưu điểm của nó. Trong 4 buổi mỗi buổi 20 phút, khoảng 15 người tình nguyện có sức khỏe tốt đã học kiểm soát sự hô hấp và nâng cao ngưỡng cảm nhận đau đớn được gây nên trong thí nghiệm. Những công trình khác đã cho thấy rằng não bộ của những môn đồ thiền zen phản ứng với đau đớn khác với não của những người chứng.
TIM ĐƯỢC BẢO VỆ HƠN NỮAthien 16Tim và các mạch máu cũng hưởng sự thư giãn (relaxation) gây nên bởi thiền. Bằng cớ, những con số hạ huyết áp có được từ nhiều năm qua bởi những công trình nghiên cứu khác nhau, trong đó có những công trình, sơ bộ, được tiến hành thành công năm 2004 ở những thiếu niên hơi cao huyết áp. Vào năm 2007, một báo cáo của giới hữu trách Hoa Kỳ đã kết luận lợi ích của thiền và những kỹ thuật quản lý stress khác lên sức khỏe tim-mạch.
Mới đây hơn, vào năm 2012 và cũng ở những thanh niên nhưng lần này bị cao huyết áp nặng, các nhà nghiên cứu của Georgia Health Sciences University (Augusta, Géorgie) đã xác nhận rằng một thực hành hàng ngày rất có lợi cho tim. Ở 62 thiếu niên, khối lượng của các thất trái giảm một cách đáng kể.
Sau cùng, rất mới đây, vào tháng năm, một công trình nghiên cứu, được trình bày ở hội nghị của American Society of Hypertension, đã báo cáo rằng thiền, cũng như những kỹ thuật quản lý stress khác (yoga, thở chậm) là tốt đối với những người cao huyết áp. Mặc dầu, như những tác giả đã gợi ý, điều trị thuốc của cao huyết áp hiệu quả hơn.
Ngược lại, đối với những bệnh nhân cao huyết áp vừa phải, một sự hạ ngay cả thấp những con số huyết áp có thể cho phép không phải đạt ngưỡng điều trị.
KHẢ NĂNG MIỄN DỊCH ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG.
Vào năm 2003, kíp của Richard Davidson và Jon Kabat-Zinn, thuộc đại học Wisconsin-Madison, lần đầu tiên đã công bố những công trình chứng thực những mối liên hệ giữa thiền và sự tăng cường của tính miễn dịch. Sau một chương trình huấn luyện 8 tuần, những nồng độ kháng thể được sản xuất sau khi tiêm một vaccin chống cúm ở những người luyện thiền cao hơn những người chứng. Thí dụ khác mới đây hơn với một công trình của cùng đại học nhưng không cùng kíp nghiên cứu. Được công bố năm 2012, công trình này gợi ý rằng sự thiền định loại trừ bệnh cúm ! Sức khỏe hô hấp của 150 người đã theo hay không những chương trình thiền định đã được xem xét trong nhiều tháng. Một sự giảm 76% trường hợp nghỉ việc lao động giữa tháng 9 và tháng 5 đã được nhận thấy ở những người đã tập thiền, hoặc gần hai lần nhiều hơn so với người chứng.
NHỮNG HIỆU QUẢ KHẢ DĨ LÊN SỰ LÃO HÓA
Thiền để già ít nhanh hơn. Một lợi ích được gợi ý vào năm 2011 bởi một công trình nghiên cứu đầu tiên ở Hoa Kỳ, xác lập một mối liên hệ giữa thiền và hoạt tính của những protéine đặc biệt, những télomérase. Những men này, hiện diện tự nhiên trong cơ thể, có vai trò sửa chữa những đầu mút của những nhiễm sắc thể. Ta hằng biết rằng những télomère ngắn được liên kết với những hiện tượng lão hóa tế bào. Thế mà, công trình được tiến hành với sự cộng tác của Elizabeth Blackburn, giải Nobel sinh lý học, đã nhận thấy rằng hoạt động của các télomère quan trọng hơn ở những người thiền so với những người chứng. Từ đó suy ra sự thiền định làm chậm lại sự lão hóa. ..Một giả thiết táo bạo, tuy nhiên được hỗ trợ bởi những công trình khác, đã cho thấy rằng những nối kết mới trong não (connexions cérébrales) có thể được gây nên bởi sự thiền định.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2013)

4/ CÓ ĐÚNG LÀ TINH THẦN CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ THÂN THỂ ?
thien 05“Một tinh thần lành mạnh trong một thân thể tráng kiện”, Juvénal, thi sĩ latin của thế kỷ thứ hai trước thiên chúa giáng sinh, đã yêu cầu như thế trong những lời cầu nguyện của mình. Đó là con người bao giờ cũng thấy mình như một sinh vật lai tạp (un être hydride) ca tâm hồn và thể xác. Và điều này, từ những triết gia Hy lạp, nhằm đến lý tưởng của ” kalos kagathos” (nghĩa là “đẹp và tốt”), nghĩa là sự hài hòa của một thân thể lực sĩ và một tinh thần đạo hạnh và có văn hoá, cho đến những nhà nhân bản (humaniste) hôm qua và hôm nay. Thế thì lưỡng phân (dichotomie) này có hiện hữu không ? Thân thể và tinh thần có liên hệ mật thiết, cho cái tốt nhất và cái xấu nhất không ? Thật logic, chăm sóc cái này hóa ra săn sóc cái kia. Và dường như đúng là như thế ! Với những tiến bộ được thực hiện từ 30 năm qua trong neurosciences, sinh hóa học, di truyền học.., khoa học đã dần soi sáng về mối liên hệ bí mật, từ lâu chìm trong bóng tối, nối tâm thần (psychisme) và thân thể (organisme). Thế mà rõ ràng, tâm thần và thân thể liên hệ với nhau, đặc biệt khi phải đương đầu với một căn bệnh.
TÍNH HIỆU QUẢ CỦA THƯ GIÃN.
thien 03Tác dụng placebo, được biết nhất trong số những quyền lực tâm lý (pouvoir psychique) lên cơ thể, đã là đối tượng của nhiều thử nghiệm, chứng tỏ rằng một can thiệp y khoa giả vờ cải thiện được chất lượng sống của những người bệnh. Đến độ từ nay, trước khi được chuẩn nhận, mọi loại thuốc mới phải nhận một trắc nghiệm với một nhóm chứng chỉ nhận một thuốc giả. Nhưng tác dụng placebo chỉ là một hiện tượng trong số những hiện tượng khác và khoa học đã phát hiện tính thống nhất giữa thân thể và tâm thần. Ở Géorgie, những học sinh bị khuynh hướng béo phì, đã thành công làm hạ huyết áp quá cao của họ..bằng cách thực hành thiền định siêu thoát (méditation transcendantale), một kỹ thuật thư giãn cổ truyền phát xuất từ Ấn độ !thien 11
Sự căng thẳng do xúc cảm (stress émotionnel), trong trường hợp này, là yếu tố làm rối loạn, qua đó tinh thần có thể tác động lên cơ thể. ” Thiền làm giảm hoạt động của vỏ não liên kết (cortex associatif), điều này làm giảm hoạt động chuyển hóa, Robert Schneider thuộc université Maharishi de management ở Fairfield (Iowa, Hoa Kỳ) đã đánh giá như vậy. Điều đó chủ yếu xảy ra do sự làm giảm hoạt động của trục não (axe cérébral) nằm ở đáy não (trục hypothalamus-hypophysaire), khi đó sản xuất ít hormone du stress hơn.”
Tính hiệu quả của một kỹ thuật tinh thần khác, biofeedback, cũng gây nên một sự thư giãn, có thể được giải thích cùng cách. Đó là những bài tập đơn giản về sự tập trung vào những nhịp sinh học (biorythme) của mình. Thí dụ những bài tập này nhằm làm chậm lại nhịp thở để điều hòa nhịp tim. Theo một thí nghiệm được thực hiện ở New Jersey trên những người bị hen phế quản, những người tình nguyện sau khi đã theo phương pháp này đã giảm 1/3 liều lượng thuốc của họ. Và số các cơn hen đã giảm một nửa, so với một nhóm chứng những người hen phế quản đã không thực hiện những bài tập này.
PHÓNG VỆ MIỄN DỊCH.
Nhưng sự làm giảm stress không chỉ ảnh hưởng lên các chức năng chuyển hóa. Nó cũng cho phép cải thiện khả năng phòng vệ miễn dịch của chúng ta ! Đó là điều đã được phát hiện năm 2014 bởi một chương trình hỗ trợ tâm lý rộng lớn được thiết đặt trong tiểu bang Ohio, khi cho thấy rằng sự kiện làm lên tinh thần những phụ nữ bị mổ ung thư vú kích thích những bạch cầu của họ ! Ta đã từng biết rằng các hệ miễn dịch và thần kinh tương tác với nhau vì một cúm nặng hay một phản ứng viêm mạnh kẻo dài thời gian ngủ và gây một tình trạng rất mệt. Khi đó cơ thể dồn hết năng lực để chống lại căn bệnh và bỏ rơi những chức năng ít quan trọng khác. Nhưng mãi cho đến lúc đó người ta không biết rằng con đường ngược lại cũng có thể và rằng cải thiện tình trạng tâm thần của bệnh nhân có thể kích thích hễ miễn dịch của người bệnh.
Lại còn ngoạn mục hơn, một thí nghiệm được thực hiện năm 2012 đã cho thấy rằng có thể gia tăng sức mạnh vật lý của mình …bằng cách luyện, không phải các cơ bắp, mà chỉ não bộ của mình ! Làm sao chỉ sự việc nghĩ một gắng sức cơ lại có thể mang lại nhiều lực hơn, trong khi chính cơ đã không được kích thích trong sự luyện tập tưởng tượng này ? Guang Yue, nhà nghiên cứu đã quan sát hiện tượng kỳ lạ này, nhận xét rằng sự tăng thêm sức lực này là do cơ nhận một tín hiệu thần kinh được khuếch đại bởi sự luyện tập tâm thần. Như thế phương pháp này mang lại những triển vọng thật sự có thể tăng cường những chức năng vận động của những bệnh nhân quá yếu ớt, do tuổi tác hay do một phế tật, nên không thể tiếp nhận một phục hồi chức năng. Vấn đề còn lại là kiểm tra xem tất cả những hiện tượng này, được ghi trong thân thể, và những sản phẩm đơn thuần của trí tuệ của chúng ta, có những phản ứng phụ hay không, và ta có thể dài lâu trông cậy vào khả năng chữa bệnh của chúng hay không.
(SCIENCES & VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

5/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT GIAI ĐOẠN SỚM : MỘT ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH KHÔNG XÂM NHẬP.
BS Albert Gelet, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu thuộc bệnh viện Edouard-Herriot de Lyon và thành viên của unité Inserm 1032 (áp dụng siêu âm trong điều trị), giải thích kết quả một kỹ thuật mới bằng siêu âm, được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh.
Hỏi : Hiện nay tần số của những ung thư tiền liệt tuyến là gì ?
BS Albert Gelet. Ta liệt kê 70.000 trường hợp mới mỗi năm kể từ 45 tuổi (một nửa sau 70 tuổi) nhưng nhờ một sự phát hiện sớm và những điều trị hiệu năng hơn nên số những trường hợp tử vong mỗi năm đã chuyển từ 12.000 năm 1980 xuống 8000 hôm nay.
Hỏi : Ở một giai đoạn sớm những mô nào bị xâm nhập ?
BS Albert Gelet : Khi những khối u tại chỗ và đã không đi xuyên qua nang của tuyến, chúng được gọi là “trong tiền liệt tuyến” (cancer intraprostatique). Nhờ chính sách phát hiện sớm hiện nay, 80% những ung thư của tiền liệt tuyến được khám phá ở giai đoạn này.
Hỏi : Có nhiều thể ung thư cần những điều trị khác nhau không ?
BS Albert Gelet : Vâng. Có những ung thư tiến triển rất chậm, đối với những ung thư này ta không can thiệp ngay nhưng ta sẽ theo dõi sát ; 60% sẽ không cần phải điều trị trước 5 đến 10 năm. Ngược lại, có những ung thư rất ác tính, tiến triển rất nhanh, cần áp dụng tức thời nhiều liệu pháp bổ sung. Giữa hai dạng này, có một loại ác tính trung bình, chiếm 80% những ung thư tuyến tiền liệt, chỉ cần một điều trị tại chỗ.
Hỏi : Hiện nay, những điều trị quy ước đối với những ung thư sớm này là gì ?
BS Albert Gelet : Ở những người đàn ông còn trẻ (dưới 70 tuổi) với ung thư ác tính cao hay trung bình, sự cắt bỏ ngoại khoa tuyến tiền liệt vẫn là điều trị chuẩn. Đối với những người có ung thư tiến triển chậm và ở những người già, tùy theo những trường hợp, ta điều trị toàn bộ tuyến bằng phóng xạ liệu pháp , curiethérapie hay với một điều trị bằng siêu âm.
Hỏi : Ta thu được những kết quả nào ?
BS Albert Gelet : Những tác dụng phụ không phải là không đáng kể, với chủ yếu những nguy cơ bất lực và són tiểu. 1. Với phẫu thuật, 80% những bệnh nhân lành bệnh, nhưng khoảng một nửa bị bất lực và 5% bị són tiểu. 2. Sau một phóng xạ liệu pháp (radiothérapie), 70% lành bệnh nhưng ở khoảng 40% những bệnh nhân, một vấn đề bất lực dần dần xuất hiện, và những nguy cơ do những tia X có khả năng thể hiện. 3. Sau một điều trị toàn bộ tuyến tiền liệt bằng siêu âm, 70% những bệnh nhân được chữa lành có một nguy cơ bị bất lực 50%, trong đó 3% bị són tiểu. 4. Sau một curiethérapie, tỷ lệ thành công nằm giữa 70 và 80%, với một nguy cơ bất lực 25% sau 5 năm.
Hỏi : Thế nào là một buổi điều trị bằng siêu âm chuẩn ?
BS Albert Gelet : Đó là một kỹ thuật phóng ra những siêu âm có cường độ rất cao, sinh ra một sức nóng đến độ phá hủy các mô ung thư trong vài giây. Mức năng lượng tương đương với 10 ngàn lần liều được sử dụng để chẩn đoán bằng siêu âm. Điều trị này có ưu điểm là bệnh nhân không bị những phóng xạ và có thể được cho một lần nữa trong trường hợp thất bại.
Hỏi : Những ưu điểm của kỹ thuật ” traitement focal” của ông bằng siêu âm là gì ?
BS Albert Gelet : Với hệ thống cải tiến của chúng tôi (chỉ nhắm những khối u không vượt quá 2 cm đường kính), những tia siêu âm không còn nhắm vào toàn bộ tuyến tiền liệt nữa mà chỉ nhắm vào khối u, không gây thương tổn những mô chung quanh. Mục tiêu là tránh điều trị quá mức cần thiết (surtraitement). Trước buổi điều trị, bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ hạt nhân (IRM), qua đó khối u được xác định vị trí. Hình ảnh sau đó được đặt trong một máy mới, Focal One. Máy này cho phép nhắm duy nhất mô ung thư với một độ chính xác cực kỳ. Thiết bị này cũng bao gồm một hệ échographie de contraste, nhờ thế, trong lúc điều trị, ta có thể kiểm tra khối u có đúng là bị phá hủy hay không. Chỉ sau một buổi điều trị duy nhất, nhập viện 48 giờ thay vì 4 hay 5 ngày với những điều trị chuẩn.
Hỏi : Với Focal One, những kết quả là gì
BS Albert Gelet : Có rất ít những tác dụng phụ, đặc biệt trên dục tính. Một công trình nghiên cứu đang được tiến hành để đánh giá những kết quả ung thư học về lâu về dài. Trong trường hợp thất bại, bất cứ điều trị nào khác cũng có thể áp dụng, kể cả Focal One.
(PARIS MATCH 15/5-21/5/2014)

6/ UNG THƯ : MỘT TRẮC NGHIỆM NƯỚC TIỂU ?
Một kíp nghiên cứu của MIT (Massachusetts Institute of Technology), Hoa Kỳ, nghiên cứu một phát hiện ung thư đơn giản như một trắc nghiệm thai nghén. Một kết quả dương tính sẽ khiến phải kiểm tra bằng những xét nghiệm và thăm dò chụp hình ảnh. Những kỹ thuật phức tạp, với tiêm bằng đường tĩnh mạch những nanoparticule d’oxyde de fer, trên đó những protéine đặc hiệu được gắn vào. Trong máu, những protéine này được nhận biết ngay và bị tấn công bởi những men mà hoạt tính gia tăng trong trường hợp ung thư. Những chất cặn (peptide) xuất phát từ phản ứng này được thải ra trong nước tiểu : Chính ở đó những bandelette de papier can thiệp. Những bandelette này nhuộm màu khi hiện diện một lượng peptide nào đó. Ở chuột mang ung thư đại trực tràng người, trắc nghiệm đã hiệu quả trong 90% các trường hợp.
(PARIS MATCH 7/5-14/5/2014)

7/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI
GS Marie-Christophe Boissier, trưởng khoa thấp khớp thuộc bệnh viện Avicenne de Bobigny, trình bày những biện pháp để cải thiện sự thoải mái của các bệnh nhân.
Hỏi : Những đặc điểm của bệnh tự miễn dịch này là gì ?
GS Marie-Christophe Boissier : Bệnh bắt đầu được biểu hiện bằng sưng các khớp của các bàn tay và bàn chân và, trong một thời hạn thay đổi (từ vài tuần đến vài năm), nhiều khớp khác bị thương tổn. Những khớp này đau, nhất là về đêm, và cứng vào buổi sáng, điều này làm cản trở những cử động của đời sống hàng ngày. Viêm đa khớp dạng thấp, gây bệnh cho 250.000 người ở Pháp và bắt đầu khoảng 40 tuổi, là thường gặp hơn ở các phụ nữ (2 trên 3)
Hỏi : Ông hãy giải thích một cách vắn tắt cho chúng tôi quá trình dẫn đến hiện tượng viêm này ?
GS Marie-Christophe Boissier : Trong màng hoạt dịch (membrane synoviale), những tế bào của hệ phòng vệ miễn dịch, thay vì làm tròn chức năng chống lại một tác nhân bên ngoài, lại tấn công khớp. Trở nên bất bình thường, chúng sản sinh những độc chất, những cytokine, những chất này sẽ gây nên một viêm mãn tính để phá hủy khớp. Loại cytokine nguy hiểm nhất trong số này là TNF và interleukine 6.
Hỏi : Ta có thể lẫn lộn một viêm đa khớp dạng thấp với một dạng phong thấp khác hay không ?
GS Marie-Christophe Boissier : Thật vậy những dấu hiệu đầu tiên có thể gợi lên một lupus hay một spondylarthrite. Nhưng chẩn đoán được xác nhận bởi một xét nghiệm máu, cho phép phát hiện một kháng thế rất gợi ý, và những phim chụp X quang.
Hỏi : Ta điều trị một viêm đa khớp dạng thấp như thế nào ?
GS Marie-Christophe Boissier : Các bệnh nhân được điều trị trước hết bằng những liều nhỏ corticoides và một thuốc kháng viêm làm suy giảm miễn dịch, méthotrexate. Méthotrexate tác dụng lên màng hoạt dịch. Trong trường hợp thất bại, ta thực hiện một sinh liệu pháp (biothérapie). Biothérapie sẽ nhắm vào những cytokine nguy hiểm (anti-TNF và anti-interleukine 6). Trong 2/3 các trường hợp, ta có được một sự cải thiện rõ rệt.
Hỏi : Trong điều trị hiện nay, các bệnh nhân chịu những bó buộc nào ?
GS Marie-Christophe Boissier : Có nhiều gò bó. Để ta có thể kiểm tra tính hiệu quả thật sự của một điều trị, bệnh nhân phải được chụp X quang đều đặn. Điều này buộc bệnh nhân phải di chuyến nhiều lần để đến thầy thuốc X quang rồi đến thầy thuốc của bệnh nhân. Bất tiện khác : nhận những liều phóng xạ kế tiếp nhau. Ngoài ra, các bệnh nhân thường buộc phải nhận điều trị bằng tiêm truyền ở hôpital de jour, điều này có hại cho chất lượng sống của họ. Vẫn còn quá nhiều bệnh nhân vẫn không hay biết về bệnh lý mãn tính này, thế mà, khi anh càng biết tốt hơn căn bệnh anh sẽ làm chủ tốt hơn những triệu chứng và anh sống trong lo âu ít hơn.
Hỏi : Ông sẽ cải thiện chất lượng sống của những bệnh nhân này như thế nào ?
GS Marie-Christophe Boissier :
1. Các thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp sẽ được trang bị bằng một máy siêu âm khớp (appareil d’échographie articulaire). Thăm dò sẽ được thực hiện ngay sau khám bệnh, điều này sẽ cho phép một chẩn đoán tức thời và sau đó tránh cho bệnh nhân những di chuyển liên hồi để theo dõi tính hiệu quả của điều trị. Ngoài ra siêu âm có ưu điểm mang lại một sự đánh giá cực kỳ chính xác. Vì vậy đó là một “thérapie sur mesure”.
2. Siêu âm không phát ra một bức xạ nào.
3. Những biothérapie sẽ không cần tiêm tĩnh mạch nữa nhưng dưới da bằng một stylo, điều sẽ tránh nhiều lần hospitalisation de jour.
4. Những buổi giáo dục điều trị sẽ giúp các bệnh nhân biết rõ căn bệnh của mình, quản lý tốt hơn những tác dụng phụ và nhận biết những dấu hiệu báo động của một biến chứng. Trong những séance này họ cũng sẽ học tự tiêm thuốc, sống với bệnh lý mãn tính một cách bình thường có thể được, đi du lịch nhưng không bao giờ được rời thuốc ; thí dụ trong máy bay, giao chúng cho hôtesse de l’air để thuốc được đặt trong máy lạnh. 5. Một loại thuốc mới (dưới dạng thuốc viên), đã được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ, sẽ cho phép thực hiện một điều trị đơn giản hóa. Tính hiệu quả của nó giống với tính hiệu quả của biothérapie mà tác dụng cuối cùng không còn nữa. Nhưng cơ chế tác dụng của nó khác : nó tác động bên trong tế bào bị rối loạn, nguyên nhân của quá trình viêm, bằng cách ngăn cản sự sản xuất những cytokine có hại. 6. Ta có thể hy vọng trong một tương lai gần sự xuất hiện một vaccin điều trị chống TNF. Vaccin này đang được nghiên cứu, chỉ cần chích một mũi dưới da mỗi ba tháng.
(PARIS MATCH 7/5-14/5/2014)

8/ VITAMINE D : NHỮNG ĐẶC TÍNH ĐƯỢC XÁC NHẬN
Nhiều công trình nghiên cứu đã báo cáo một mối liên hệ giữa một sự thiếu hụt vitamine D và nguy cơ xuất hiện một ung thư hay một bệnh tim mạch cũng như một sự gia tăng tỷ lệ tử vong toàn thể. Một công trình nghiên cứu quốc tế mới (Consortium on Health and Ageing), được công bố trong ” British Medical Journal”, được tiến hành ở hơn 26.000 người từ 50 đến 79 tuổi, xác nhận điều đó. Những người có những nồng độ vitamine D trong máu thấp nhất có một nguy cơ tử vong gia tăng 57% so với những người có những nồng độ cao nhất, và một nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch cũng tăng 57%. Về ung thư, nhóm có nồng độ vitamine D thấp nhất có một nguy cơ tử vong gia tăng 70%. Nồng độ bình thường của vitamine D bằng hoặc lớn hơn 30 nanogramme mỗi millilitre, được xem là thấp giữa 15 và 25 và rất thấp dưới những trị số này. Sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời đảm bảo 2/3 nhu cầu, chế độ ăn uống chịu trách nhiệm 1/3 còn lại.
(PARIS MATCH 3/7-9/7/2014)

9/ SÓN TIỂU : ĐIỀU TRỊ MỚI CÓ HIỆU QUẢ VÀ ĐƯỢC DUNG NẠP TỐT HƠN
GS François Deschamps, trưởng khoa tiết niệu của bệnh viện Saint-Louis (Paris), trình bày những lợi ích của một loại thuốc đổi mới đối với những người bị chứng tăng hoạt động bàng quang (hyperactivité de la vessie)
Hỏi : Có những dạng són tiểu khác nhau không ?
GS François Desgrandchamps. Có ba loại chính. Chúng có thể là do hoặc là cơ vòng bị yếu, hoặc do tính vận động của nó quá cao, hoặc lại nữa do một sự tăng kích động của bàng quang, dạng thường gặp nhất.
Hỏi : Não bộ liên quan vào trong tình trạng tăng hoạt động của bàng quang như thế nào ?
GS François Desgrandchamps. Có những capteur trong thành của bàng quang, chỉ một cách thường trực cho não bộ về mức làm đầy của nó. Khi bàng quang đầy, những capteur này gởi cho não một tín hiệu và khi đó chúng ta cảm thầy muốn buồn tiểu. Ngược lại, não có khả năng phong bế sự co cơ bàng quang để cho phép chúng ta chờ đợi lúc cần đi tiểu.
Hỏi : Điều gì xảy ra trong trường hợp rối loạn hệ thống này ?
GS François Desgrandchamps. Sự loạn năng này sẽ gây nên sự són tiểu (incontinence). Một cảm giác buồn tiểu đến não bộ trước khi bàng quang được làm đầy : những capteur của bàng quang đã gởi sớm một tín hiệu đi tiểu. Cơ bàng quang co lại một cách loạn xạ. Kết quả : bàng quang, vì bị tăng hoạt động, buộc phải đi tiểu thường xuyên, đôi khi với những rò không tự ý, điều này còn làm rắc rối thêm tình hình.
Hỏi : Tần số của dạng són tiểu này là gì và đó có còn là một chủ đề cấm kỵ hay không ?
GS François Desgrandchamps : Sau 40 tuổi, một phụ nữ trên hai và một người đàn ông trên ba bị són tiểu và vấn đề này gia tăng với thời gian. Trong những trường hợp hiếm hoi, lạ kỳ thay, mà ta chẳng biết tại sao, dạng són tiểu này cải thiện khi lớn tuổi. Nhưng, nếu không được điều trị, nguy cơ là một sự ảnh hưởng nghiêm trọng chất lượng sống. Đi khám bệnh có là một chủ đề cấm kỵ (sujet tabou) đối với những người đàn ông (cho rằng són tiểu như là một faiblesse “dégradante”) nhiều hơn là đối với các phụ nữ.
Hỏi : Có những yếu tố tạo thuận hay không ?
GS François Desgrandchamps : Tính tăng hoạt động (hyperactivité) của bàng quang được làm dễ bởi sự tăng thể trọng, bệnh đái đường, chứng trầm cảm, bón, sự tiêu thụ quá mức cà phê, trà và thuốc lá.
Hỏi : Những phế tật nào bó buộc bệnh nhân này phải được điều trị ?
GS François Desgrandchamps : Những phế tật là quan trọng và xảy ra hàng ngày : những người này buộc phải ngừng khẩn cấp hoạt động của mình, dừng xe lại một cách không đúng lúc, luôn luôn tìm kiếm nhà xí nằm ở đâu. Sự lo sợ không thể cầm tiểu ảnh hưởng lên cuộc sống xã hội, dục tính của họ…
Hỏi : Những điều trị thuốc chuẩn là gì ?
GS François Desgrandchamps : Có những loại thuốc cùng họ nhằm điều hoà những co bóp của bàng quang : những thuốc giải phó giáo cảm (parasympatholytique) có tác dụng phong bế thần kinh phó giao cảm, hệ này điều khiển những co bóp của bàng quang : Chúng khá hiệu quả nhưng thường không chịu được do những tác dụng phụ của chúng : miệng khô và bón nặng, bởi vì những thuốc này cũng phong bế hệ phó giao cảm trong phần còn lại của cơ thể, điều này làm giảm sự tiết nước bọt và làm liệt ruột. 60% các bệnh nhân phải ngừng điều trị.
Hỏi : Loại thuốc mới cho phép tránh những tác dụng phụ này là gì ?
GS François Desgrandchamps : Đó là mirabegron (BETMIGA), première của một họ thuốc mới, những betamimétique, làm giảm tính nhạy cảm của những thụ thể của bàng quang khi làm đầy. Do đó những thụ thể này không còn gởi sớm đến não bộ tín hiệu làm phát khởi cảm giác buồn tiểu. Điều trị, đơn giản, được cho bằng đường miệng một viên mỗi ngày.
Hỏi : Ta có được những kết quả nào với điều trị này ?
GS François Desgrandchamps : Thuốc này cũng có hiệu quả như những thuốc của họ parasympatholytique, nhưng có ưu điểm là ít gây những tác dụng phụ : trong 5 đến 6% những trường hợp, những đau đầu nhẹ và một sự gia tăng vừa phải huyết áp. Chỉ 4% những bệnh nhân phải ngừng điều trị.
Hỏi : Ông có thể cho vài lời khuyên với những bệnh nhân bị bệnh tăng hoạt động của bàng quang này.
GS François Desgrandchamps : Đó là một autorééducation. Trong số những lời khuyên của tôi : 1. Thực hành vài bài tập đặc biệt để tăng sức cơ của sàn hội âm (périnée) và cơ vòng. 2. Tránh uống hơn hơn 1,5 litre dịch mỗi ngày, đồng thời giảm những nước uống lợi tiểu như trà hay cà phê làm gia tăng những co bóp của bàng quang.
(PARIS MATCH 22/5-27/5/2014)

10/ NGUY CƠ CHẾT ĐỘT NGỘT : NHỮNG MÁY KHỬ RUNG TIM HOÀN TOÀN NẰM DƯỚI DA
GS Michel Chauvin, trưởng khoa tim thuộc CHU de Strasbourg giải thích những ưu điểm của những máy này, mới được trình bày ở hội nghị Cardiostim.
Hỏi : Chức năng của một défibrillateur cardiaque implantable là gì ?
GS Michel Chauvin : Máy này nhằm chẩn đoán những rối loạn thất (troubles ventriculaires) trầm trọng, đe dọa gây chết đột ngột một bệnh nhân, hoặc bằng một sốc điện (choc électrique), hoặc bằng một kích thích nhanh.
Hỏi : Máy này được trình bày như thế nào ?
GS Michel Chauvin : Máy được cấu tạo bởi một boitier (nặng 60 g và dày 10 mm), một microordinateur thật sự với, bên trong, một circuit, một batterie và một condensateur. Boitier này được nổi với một sonde được cấy (implanté) vào trong thất phải. Sonde này thường trực thông báo máy phá rung về điện tâm đồ của bệnh nhân. Ngay khi một rối loạn thất được phát hiện, micro-ordinateur được chương trình hóa đáp ứng bằng một sốc điện hay bằng một kích thích nhanh (tùy theo tính chất của rối loạn). Nếu tần số tim quá chậm, máy này có thể làm gia tăng nó như một pacemaker.
Hỏi : Sự cấy (implantation) này có buộc phải thực hiện một phẫu thuật nặng nề không ?
GS Michel Chauvin : Ta đặt boitier dưới da, 2-3 cm dưới xương đòn trái, thường là với gây tê tại chỗ. Sonde được đưa qua đường tĩnh mạch đến tim.
Hỏi : Ta có thể giữ một défibrillateur standard bao lâu, và những nguy cơ là gì ?
GS Michel Chauvin : Thời gian của những prothèse implantable này tùy thuộc vào những sốc điện và những kích thích đã được phát ra. Những nguy cơ do mổ hiếm xảy ra (tràn khí màng phổi cần đặt một ống dẫn lưu, xuất huyết có thể được ngăn chặn). Nhưng, sau khi cấy, nguy cơ lớn nhất trong những năm tiếp theo là nhiễm trùng, như nhiễm trùng của các van tim, rất trầm trọng bởi vì phải lấy đi tất cả khí cụ. Đó là một phẫu thuật nặng nề và không phải là không nguy hiểm. Biến chứng khả dĩ khác là viêm nội tâm mạc (endocardite). Những sonde này chịu khoảng 46 triệu tim đập mỗi năm, do đó bị những cử động kéo và xoắn không ngừng. Vấn đề với máy khử rung chuẩn này, đó là sonde được cấy (implanté) trong tâm thất.
Hỏi : Làm sao ta nhận biết rằng phải thay máy khử rung này ?
GS Michel Chauvin : Ta tra cứu với một ordinateur cho phép kiểm tra tất cả các tham số. Thăm dò này được thực hiện trong một thăm khám. Hôm nay, nhờ những tiến bộ của kỹ thuật học, điều đó có thể thực hiện qua internet.
Hỏi : Ông hãy giải thích cho chúng tôi sự hoạt động của máy khử rung tim có thể cấy (défibrillateur implantable) này, hoàn toàn dưới da.
GS Michel Chauvin : Với máy này sự khử rung được thực hiện không phải trong tâm thất mà ở xa. Để tránh những nguy cơ nhiễm trùng và cơ học, ta đã hiệu chính một kỹ thuật trong đó sonde không còn đi vào trong tim nữa. Sonde hoàn toàn được đặt dưới da của ngực, đi từ boitier (dưới nách), và đi lên dọc theo xương ức. Sốc điện không còn được gởi đi từ bên trong tim mà từ hai điện cực, một nằm trong máy khử rung và điện cực kia nằm ở đầu mút của sonde.
Hỏi : Cấy ngoại khoa (implantation chirurgicale) của máy khử rung này diễn ra như thế nào ?
GS Michel Chauvin : Hiện tại, sự cấy ngoại khoa còn được thực hiện dưới gây mê tổng quát, bởi vì boitier, cân nặng 145 g với 15 mm bề dày, hơi to lớn hơn : can thiệp với gây tê tại chỗ có khả năng gây đau. Nhưng, với tiến triển của kỹ thuật học, kích thước của những máy khử rung này sẽ giảm.
Hỏi : Đối với những người mang những máy này hoàn toàn dưới da, những theo dõi là gì ?
GS Michel Chauvin : Tuổi thọ của những prothèse này từ 5 đến 6 năm. Ưu điểm là đáng kể bởi vì nó cho phép tránh những nhiễm trùng trong tim (tần số là 3-6% với những máy khử rung chuẩn), cũng như những vấn đề dysfonctionnement de sonde. Sự theo dõi buộc khám bệnh mỗi 6 tháng với một ordinateur ghi tất cả những tham số và mémoires của máy khử rung : những rối loạn nhịp, những sốc điện đã nhận và những điện tâm đồ tương ứng.
Hỏi : Giai đoạn kế tiếp là gì ?
GS Michel Chauvin : Đó sẽ là hiệu chính một máy liên kết tác dụng của một máy khử rung với tác dụng của một stimulateur không có sonde intracardiaque.
(PARIS MATCH 3/7-9/7/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(14/8/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 350 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 513 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s