Thời sự y học số 513 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ THAI MUỘN : NHỮNG GIỚI HẠN CỦA THIÊN NHIÊN KHÔNG NGỪNG BỊ ĐẨY LÙI
Đồng hồ sinh học của các phụ nữ có thể dường như lỗi thời…nhưng điều đó chỉ đúng ở một điểm nào đó !MATERNITÉ. ” Tôi thấy ngày càng nhiều phụ nữ có thai con đầu lòng lúc khoảng 40 tuổi. Ngay cả có khi thấy những phụ nữ có thai (còn hiếm) lúc khoảng 50 tuổi, có lẽ họ được hiến noãn (ovocyte) từ nước ngoài nhưng không nói “, GS Olivier Picone, thầy thuốc sản phụ khoa, trưởng đơn vị chẩn đoán tiền sinh của khoa sản phụ khoa của bệnh viện Louis-Mourier ở Colombes (Hauts-de-Seine) đã ghi nhận như vậy. Điều chứng thực giống hệt trong những maternité khác : ” Cứ hai mươi phụ nữ có thai thì một người khoảng 40 tuổi “, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa của bệnh viện Port-Royal (Paris) và đồng tác giả của La Grossesse pour les nuls, đã xác nhận như vậy.
Vì lẽ những bà mẹ tương lai này có thể đọc khắp nơi rằng thai nghén của họ là có nguy cơ, nên nói chung họ đến khám trong tình trạng căng thẳng. ” Phải tương đối hóa : nguy cơ vẫn thấp nếu người mẹ tương lai có sức khỏe tổng quát tốt, GS Picone đã trấn an như vậy. Chính vì thế tôi khuyến khích những phụ nữ mong muốn có thai lúc về già thực hiện trước một bilan de santé : vì nguy cơ mạch máu gia tăng, nên điều còn quan trọng hơn là ngừng hút thuốc trước thai nghén và giải quyết trước hết vấn đề béo phì.Thai nghén và sinh đẻ tóm lại là chạy đua marathon đối với tim, tim phải chịu đựng điều đó ! Đó cũng là cơ hội điểm lại tình hình về sự tiêu thụ rượu và những điều trị được theo, kiểm tra những tiêm chủng (rubéole, rougeole, cúm, ho gà) và sự vắng mặt của nhiễm trùng do virus sida hay viêm gan B, như trước mọi thai nghén.” Sau cùng một mammographie được khuyến nghị : nguy cơ ung thư vú gia tăng sau 40 tuổi và một thai nghén có thể cản trở tiến triển của bệnh cũng như những điều trị.
Sự kiểm tra gồm có một thăm khám hàng tháng, một siêu âm mỗi ba tháng, một điều tra phát hiện trisomie 21 ở những phụ nữ mong muốn. ” Chúng tôi cảnh giác hơn đứng trước những nguy cơ sẩy thai, đái đường, cao huyết áp và sinh non, được thấy nhiều hơn sau 40 tuổi, BS Bensimhin đã xác nhận như vậy. Nhưng vì những phụ nữ này được kiểm tra tốt, nên những nguy cơ của họ được chế ngự tốt hơn. Vào lúc sinh, một césarienne thường được hoạch định nếu những co thắt tử cung kém hiệu quả hơn (ngoài ra thường nhờ đến forceps hơn trong trường hợp sinh thường). Sau cùng những người mẹ trẻ “bốn mươi” này được đả thông rằng trong những tuần tiếp theo sau sinh, nguy cơ tạo thành một cục máu đông (và do đó viêm tĩnh mạch hay nghẽn tắc động mạch chủ) cũng gia tăng.” Vậy một đau dữ dội và đột ngột trong cẳng chân, trong ngực, một khó thở… là những dấu hiệu phải báo động họ và thúc họ phải gọi Samu.
Cho đến trong những năm 1960, trước khi có pháp luật về thuốc ngừa thai (1967), không hiếm thấy những phụ nữ 40, thậm chí 50 có thai. Sự khác nhau duy nhất là họ đã có một gia đình đông con ! Thế mà thai nghén của họ diễn ra tự nhiên (nhưng không nhất thiết được mong muốn). Hôm nay, những phụ nữ cho một em bé sau 40 tuổi đã muốn điều đó vì những lý do khác nhau : hoặc bởi vì họ chịu những áp lực trong việc làm để không làm điều đó sớm hơn, hoặc bởi vì họ không gặp người cha tương lai khá sớm, hoặc bởi vì họ lại bắt đầu một chuyện tình mới. Vậy vài người đã có con lớn, nhưng không với cùng người cha. Những người khác đã không bao giờ có. Những lý do xã hội đã thắng thế !
Tuy vậy không phải tất cả đều có thể. Những thai nghén cực kỳ muộn (sau thời kỳ mãn kinh), có được sau một hiến noãn (don d’ovocyte) và nhờ một điều trị bằng hormone vào tam cá nguyệt đầu, thời gian để nhau tiếp sức, cho đến nay chỉ rất ít được thực hiện trên thế giới, mặc dầu chúng rất được quảng bá. Ngoài ra, ở Pháp, thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro) từ một hiến noãn không được cho phép ở những phụ nữ mãn kinh. ” Những thai nghén ở những phụ nữ mãn kinh là có nguy cơ hơn hết đối với người mẹ tương lai. Trên bình diện y khoa, không nên rằng những thai nghén cực muộn này trở thành chuẩn của ngày mai “, hai chuyên gia của chúng ta đã kết luận như vậy.
Sau cùng, mặc dầu tất cả diễn biến tốt, sự sinh em bé không đánh dấu sự bắt đầu của chặng đường. Cũng phải nghĩ đến những đêm trắng khi nó không ngủ, khi nó bị bệnh (ta chịu sự mất ngủ ở tuổi 45 ít tốt hơn ở tuổi 25) và, về sau, ở thời kỳ thiếu niên, những xung đột giữa một thanh niên 15 tuổi và những bố mẹ đã về hưu, hay gần như thế.
(LE FIGARO 17/6/2019)

2/ LÀM ĐÔNG LẠNH CÁC NOÃN, MỘT GIẢI PHÁP NHƯNG KHÔNG PHẢI MỘT PHÉP MÀU
Dự luật bioéthique, nhằm cho những phụ nữ Pháp khả năng làm đông lạnh những noãn (ovocyte) của mình để dành cho trường hợp có thai muộn (grossesse tardive), phải được đệ trình vào tháng bảy cho Hội đồng Bộ trưởng. Cơ hội này đã hiện hữu, nhưng chỉ dành cho những phụ nữ nhận một điều trị khả dĩ làm tổn hại khả năng sinh sản của họ, những phụ nữ đã được điều trị vì một vấn đề khả năng sinh sản và những phụ nữ chấp nhận hiến noãn.
Vậy ngày mai, nếu luật được thông qua, tất cả các phụ nữ có thể đòi hỏi điều đó (làm đông lạnh noãn). Nhưng đạo luật này hiện hữu trong tất cả các nước láng giềng như Tây Ban Nha hay Bỉ…và khoảng 1000 người Pháp đã vượt biên giới mỗi năm để ” được an lòng ” hay để ” không phải tự nhủ một ngày nào đó rằng đã quá muộn”.
Phải chăng biện pháp này cáo chung đồng hồ sinh học (horloge biologique) ? ” Không thật sự, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa ở bệnh viện Port-Royal (Paris) đã trả lời như vậy. Vì tỷ lệ thành công tương quan với tuổi của các noãn. Do đó không nên chờ đợi quá lâu.” Làm đông lạnh 9 noãn lúc dưới 39 tuổi cho mỗi noãn xác suất 62% có một đứa con vào lúc trứng làm tổ, nhưng tỷ lệ này sụt xuống chỉ 37% nếu các noãn đã được đông lạnh ở tuổi 41-43 hay 11% nếu chúng được đông lạnh sau 44 tuổi ; do đó cần thực hiện điều đó trước 35 tuổi và chỉ sau khi đã suy nghĩ chín chắn.
MỘT QUÁ TRÌNH NẶNG NỀ VÀ KHÔNG BẢO ĐẢM
Bởi vì sự thủy tinh hóa (vitrifier) các noãn (kỹ thuật đông lạnh cực nhanh, xuống đến dưới 196 độ) không đơn giản như làm đông lạnh tinh dịch đối với một người đàn ông. ” Đó là một quá trình nặng nề “, những người đã kinh qua kỹ thuật này đã xác nhận như vậy. Thật vậy, phải thu về những noãn, ” điều này cần những kích thích noãn bằng những mũi tiêm hormone mỗi ngày, những định lượng hormone đều đặn và những siêu âm buồng trứng cho đến lúc chọc dò (dưới gây mê) “, BS Bensimhon đã nói tiếp như vậy.
Ngoài ra, lúc làm tổ trở lại (réimplantation), thường cần thiết thực hiện nhiều thụ thai nhân tạo để có được một thai nghén và có một em bé. ” Sự tự bảo quản các noãn gia tăng những cơ may có con muộn, nhưng không bảo đảm thành công chắc chắn “, GS Olivier Picone, trưởng Unité de diagnostic prénatal của khoa sản phụ khoa của bệnh viện Louis-Mourier (Colombes) đã tóm tắt như vậy.
Sau cùng câu hỏi được đặt ra về tương lai của các noãn được làm đông lạnh nhưng không được sử dụng : chúng sẽ bị phá hủy hay không và nếu có, sau một thời gian bao lâu ? Cho những cặp vợ chồng vô sinh ? Được đề nghị để nghiên cứu ? Bấy nhiêu câu hỏi cần được bàn luận..
(LE FIGARO 17/6/2019)

3/ ” CHÍNH KHI ĐỨA BÉ TRỞ THÀNH THIẾU NIÊN THÌ ĐIỀU ĐÓ TRỞ NÊN RẮC RỐI ! “
Tỷ lệ những phụ nữ không thể có con nữa chuyển từ 17% lúc 40 tuổi lên 56% lúc 45 tuổi. Và hơn 1/2 những thai nghén ở tuổi 42 kết thúc bằng một sẩy thai. Nhưng đối với Perrine Legalle, thương gia, có một em bé lúc 40 tuổi đã không phải là một vấn đề.
” Tôi có một cháu trai lớn, 22 tuổi, từ một cuộc hôn nhân đầu. Về sau tôi đã gặp người chồng của đời tôi. Anh ta hơn tuổi tôi. Con trai của chúng tôi, Tom, được sinh ra đời khi tôi vừa đúng 40 tuổi. Tôi đã không có một lo lắng nào khi có nó và vì tôi không có một vấn đề nào về sức khỏe, nên thai nghén của tôi đã diễn biến tốt. Sự sinh đẻ cũng vậy. Tôi sống trong một ngôi làng : mọi người biết nhau và tương trợ lẫn nhau. Do đó tôi đã không bao giờ cảm thấy bị loại trừ khi tan trường với cớ rằng tôi không còn 20 tuổi nữa. Tất cả chúng ta đều muốn cùng một điều : rằng những đứa con của chúng ta phát triển !”
” NHỮNG PHỤ NỮ NÀY LÀ NHỮNG NGƯỜI TIỀN PHONG.
Những năm tháng đã trôi qua.Tom đã lớn lên không có vấn đề và chồng của Perrine về hưu. ” Điều đó đã để cho chồng tôi còn nhiều thời gian hơn để chăm sóc con chúng tôi, điều này khá tiện lợi.” Thật ra, những lúc duy nhất Perrine nghi ngờ (không bao giờ tiếc), đó là khi Tom đã trở thành thiếu niên : ” Cha mẹ tôi và chồng tôi đã bắt đầu có những vấn đề lớn về sức khỏe. Về phía tôi, không gì là nghiêm trọng, nhưng mãn kinh, điều đó làm kiệt sức. Khi đó có thêm một thiếu niên đôi khi trong cơn khủng hoảng, thật là phức tạp để quản lý. Tôi có cảm tưởng chỉ một mình mà phải nâng đỡ mọi người : cha mẹ tôi, chồng tôi, con trai tôi. Tôi nhận thấy rằng người ta nói nhiều điều âm tính về thai nghén, ở tuổi 40, nhưng đối với tôi, vấn đề thật sự được đặt ra 14-15 năm sau !”
Những người khác không theo ý kiến này : ” Ngày mai, là con của một bà mẹ 50 (và do đó thiếu niên của một bà mẹ về hưu) có lẽ sẽ là chuyện bình thường. Những phụ nữ này là những người tiền phong !”, ta có thể đọc như thế trên một diễn đàn internet.
Điều làm an lòng, theo nhiều công trình nghiên cứu, những cha mẹ già có thể mang lại một sự ổn định tình cảm tốt hơn và một mức sống tốt hơn cho con mình, như thế về sau đứa con sẽ có nhiều cơ may hơn có được một văn bằng cao cấp. Bất tiện chính : có con muộn, đó cũng là nhận nguy cơ…không có con nữa.
(LE FIGARO 17/6/2019)

4/ NHỮNG CÂU CHUYỆN NGOÀI QUY PHẠM
Ở Hoa Kỳ một phụ nữ mãn kinh 61 tuổi đã chấp nhận trở thành mère porteuse cho đứa con trai của mình. Phôi, được thụ tinh với tinh dịch của con trai bà và noãn của người em gái của người bạn của con trai, đã được ghép ở người phụ nữ 60 tuổi này, do đó đã sinh cháu gái của mình tháng ba năm 2019. Cho đến nay tất cả đều mạnh khỏe, nhưng bà nội đã nhận nguy cơ lớn cho sức khỏe của mình.
Ở Pháp, một kịch bản như thế trên lý thuyết là không có thể được, ngoại trừ đứng trước một sự việc đã rồi. Vào năm 2001, một phụ nữ Pháp 62 tuổi đã sinh một cậu con trai, được thụ thai từ một hiến noãn và tinh dịch của em bà (vậy bà đã sinh ra một cháu trai), trong khi người em gái của cậu con trai này (cùng cha mẹ sinh học) được sinh từ một mère porteuse américaine, trở thành cousine của người anh sinh học (frère biologique) đối với pháp luật (về phương diện hành chánh, một là con trai của người đàn bà 60 tuổi và một người cha không được biết, người kia là con gái của người anh của người đàn bà 60 tuổi và một người mẹ không được biết). Kể lại rất sớm cho những đứa bé này câu chuyện gia đình ngoài quy phạm, làm dễ sự chấp nhận của chúng. Còn sự chấp nhận bởi xã hội “du lịch sinh sản” (tourisme procréatif) này là một chuyện khác…
(LE FIGARO 17/6/2019)

5/ NÔN MỬA DỮ DỘI TRONG THAI NGHÉN : LÀM SAO CẢI THIỆN SỰ ĐIỀU TRỊ

Professseur Philippe Deruelle
Collège des gynécologues et obstétriciens français
Hôpitaux universitaires de Strasbourg

Ốm hơn 20 kg, nhập viện vào khoa hồi sức, trầm cảm, gián đoạn thai nghén. Làm sao nôn mửa thai nghén đã có thể dẫn đến những thảm cảnh này ? Đó là vì hyperémèse gravidique (HG : hyperemesis gravidarum), thể nặng của mửa thai nghén.Nôn thường liên quan những phụ nữ có thai. Khoảng 30 đến 50% những bà mẹ tương lai đều bị nôn, nhất là vào buổi sáng, thường nhất trong tam cá nguyệt đầu. Ta nói nôn mửa không cưỡng được (vomissements incoercibles), hay hypermesis gravidarum (chứng nôn nhiều do thai nghén), khi một phụ nữ có thai bị nôn mửa hay những rối loạn ăn uống liên kết với thai nghén, với một sự mất cân quan trọng hay một sự bất dung nạp toàn bộ thức ăn (intolérance alimentaire totale). Hyperémèse gravidique hiếm xảy ra. Nó liên quan khoảng 3 đến 5% những thai nghén.
Những nôn mửa không cưỡng được này bắt đầu giữa 4 và 8 tuần mất kinh và, trong phần lớn các trường hợp, biến mất cuối tam cá nguyệt đầu ; nhưng vài bệnh nhân bị mửa không cưỡng được trong suốt thời kỳ thai nghén. 10 tuần lễ này hay hơn là một nỗi khổ dai dẳng thật sự. Những nguy cơ mất nước và suy dinh dưỡng là rất quan trọng. Thêm vào nỗi khổ vật lý là một nỗi khổ tâm lý, liên kết với những triệu chứng không thể chịu được (hãy tưởng tượng bạn mửa hơn 20 lần mỗi ngày) cũng như một sự không thấu hiểu hiểu của những người thân cận (cái đó rồi sẽ qua đi, họ nói như thế…) và của giới y tế. Bệnh lý này không được biết rõ, không được quý mến và, thường không được điều trị tốt. Sự kiện công chúa Kate Middleton bị bệnh lý này đã mang lại một ít ánh sáng lên HG, nhưng điều đó không đủ và những phụ nữ thường cảm thấy bị bỏ rơi. Đôi khi họ thật sự như vậy bởi vì những người thân cận và một giới y tế “cho họ là điên”.
Những nguyên nhân của HG chỉ được hiểu không hoàn toàn bởi vì, phải thú nhận điều đó, ít nghiên cứu được thực hiện. Điều chủ yếu là phải nói rằng HG không phải là một bệnh tâm thần. Đó là một sự hung bạo gây cho những phụ nữ khi xếp loại họ như thế. Không, đó là một bệnh kích thích tố (maladie hormonale). Những phụ nữ có thai có một nhạy cảm phản ứng với kích thích tố thai nghén, beta-hCG, mà nồng độ trung bình cao hơn. HG thường gặp hơn khi em bé tương lai là một bé gái, bởi vì những kích thích tổ do nhau tiết ra là khác. Những công trình mới đây đã cho thấy rằng những protéine, liên quan trong sự phát triển của nhau và trong sự điều hòa của cảm giác ăn ngon, có những nồng độ cao hơn ở những phụ nữ bị HG. Để điều trị tốt hơn bệnh này, cần thiết rằng những công cuộc nghiên cứu được tiếp tục và rằng những equipe cần bắt lấy đề tài đã bị bỏ quên quá lâu này.
Điều trị chứng nôn mửa nhiều do thai nghén là khó, nhưng có thể, phải dự kiến, đừng để xuất hiện sự bất dung nạp thức ăn và phá vỡ vòng luẩn quẩn của sự nhịn ăn (jeune). Thật vậy, lúc nhịn ăn, ta sản xuất những corps cétonique làm dễ sự nôn mửa. Sự cung cấp những lượng nhỏ đồ uống có đường có thể hữu ích. Hãy ngừng quấy rầy những phụ nữ này với những thuốc dân gian (thí dụ gingembre), hay để họ quản lý sự ăn uống của họ như họ có thể, hãy tránh những mùi và giúp họ nghỉ ngơi chừng nào có thể được bởi vì sự mệt làm mửa nặng thêm. Những thuốc chống mửa cổ điển nói chung không đủ. Những antihistaminique, tác động lên những trung tâm não kiểm soát nôn mửa, có thể làm giảm (một phần) những triệu chứng. Thường cần sử dụng một thuốc chống mửa rất mạnh được dùng trong hóa trị, ondansetron. Người ta đã từng sợ nguy cơ gây dị dạng với loại thuốc này, nhưng điều đó đã được loại bỏ và thuốc có thể được kê đơn không vấn đề trong thai nghén. Bất hạnh thay, thuốc không được remboursé trong cho định này (đó là một médicament d’exception) và chúng tôi vừa viết đơn yêu cầu được remboursé đến Agence nationale de sécurité et du médicament. Giải pháp tối hậu đối với những bệnh nhân khi điều đó không đủ là nhờ đến những neuroleptiques. Những thuốc này làm ngừng mửa bằng tác dụng lên não nhưng có thể gây những tác dụng phụ như rất mệt.
LÀM THAY ĐỔI TÂM TÍNH
Khi sự mất cân là quan trọng hay khi sự không chịu được thức ăn là hoàn toàn, thường cần một nhập viện. Nhưng sự cách ly trong bóng tối với tịch thu điện thoại cầm tay là một tà thuyết. Một lần nữa đó là một hành động hung bạo đối với những phụ nữ này và là một cách làm của thế kỷ XIX. Huống chi buộc phải nhập viện ở khoa tâm thương. Ngược lại, sự biến đổi của chất lượng sống đến độ một hỗ trợ tâm lý có thể hữu ích.
Chúng tôi hy vọng xuyên qua bài báo này đánh thức những lương tâm và làm thay đổi những tâm tính để sau cùng cho tầm quan trọng ở những phụ nữ đau khổ trong sự hững hờ. Nếu bạn có trong những người thân cận một phụ nữ bị HG, hãy hỗ trợ người đàn bà này, nghĩ đến sự đau khổ và hướng bà ta đến những hiệp hội hiện có ở Pháp về chủ đề này.
(LE FIGARO 25/3/2019)
Đọc thêm : TSYH số 412 : bài số 5

5/ CƠ THỂ CỦA PHỤ NỮ CÓ THAI ĐỘT NGỘT SẢN XUẤT SỮA NHƯ THẾ NÀO ?Nhờ 4 kích thích tố. Chúng luôn luôn hiện diện trong cơ thể của các phụ nữ (và của tất cả những động vật có vú cái), những nồng độ của chúng trong cơ thể gia tăng vào lúc trở thành mẹ. Điều này tái cơ cấu vú. Ngay lúc đầu thai nghén, những lượng oestradiol và progestérol gia tăng. Oestradiol kích thích sự tăng sinh của những tế bào cấu tạo ống bài tiết sữa, những galactophore ; progestérol cho phép các nang (alvéole) (chứa những tế bào sản xuất sữa) biệt hóa và liên kết với những galactophore. Rồi vào lúc sinh, oestradiol được thay thế bởi prolactine, kích thích sự sản xuất sữa. Để làm điều đó, các tuyến vú trích lấy trong những chất lưu thông trong máu : trước hết nhiều nước (do đó sự mất nước có thể đi kèm sự cho bú), sau đó những chất dinh dưỡng (lipides, protéines, glucides, vitamines, muối khoáng), sau cùng những kháng thể bảo vệ trẻ sơ sinh chống lại những nhiễm trùng. Một khi sửa được sản xuất, nó được phóng ra khỏi vú nhờ tác dụng của một kích thích tố cuối cùng, oxytocine, mà nồng độ gia tăng dưới tác dụng của sự mút bởi trẻ sơ sinh. Hãy ghi chú rằng những tuyến vú và những kích thích tố liên hệ cũng hiện diện ở nam giới, một sự loạn năng kích thích tố có thể làm sản xuất sữa. Một bất thường…ngoại trừ ở con dơi đực Dyacopterus spadiceus, có thể cho con bú.
(SCIENCE &VIE 6-7-8/2018)

6/ TẠI SAO ZÉRO ALCOOL TRONG THAI NGHÉN.

Professeur François Bourdillon
Directeur générale de Santé Publique France

Ngày 9 tháng 9 mỗi năm là Journée mondiale de sensibilisation à TCAF (TCAF : trouble causé par l’alcoolisation foetale : rối loạn gây nên bởi sự tham rượu thai nhi), để đả thông dân chúng về vấn đề y tế quan trọng này và phòng ngừa sự tiêu thụ rượu ở những phụ nữ có thai.Thật vậy, phải biết rằng rượu xuyên qua nhau một cách tự do và ngấm em bé được sinh ra đời. Thế mà rượu sinh quái thai (tératogène) ở phôi thai và độc ở thai nhi đặc biệt đối với não bộ của nó. Do đó sự tiêu thụ rượu trong khi có thai không phải là không có hậu quả. Sự tiêu thụ rượu dấn vào nguy cơ xuất hiện những bất thường vật lý và rượu chủ yếu là một yếu tố nguy cơ quan trọng của rối loạn phát triển thần kinh (trouble du neuro-développement) ở trẻ em, tồn tại ở tuổi trưởng thành, chịu trách nhiệm những rối loạn nhận thức và hành vi đôi khi rất nặng. Hội chứng thấm rượu thai nhi (SAF : syndrome d’alcoolisation foetale) là dạng hoàn toàn của TCAF). Sự xuất hiện của hội chứng này rõ rệt tương quan với tầm quan trọng của sự tiêu thụ rượu.
Có những dạng ít hoàn toàn hơn và ít đặc thù hơn của TCAF đối với những tiêu thụ rượu đôi khi ít quan trọng. Trên cơ sở những khai báo chẩn đoán ở trẻ sơ sinh, những nhà dịch tễ học Y tế công cộng Pháp đánh giá, tối thiểu, rằng mỗi ngày sinh ra một em bé có một hội chứng thấm rượu thai nhi (SAF). Họ nhấn mạnh chủ yếu rằng những con số này có vẻ rất dưới tỷ lệ thật sự, xét vì sự phát hiện những tiêu thụ rượu không đủ trong thời kỳ thai nghén và sự không theo dõi sau thời kỳ sơ sinh của những trẻ đã từng bị tiếp xúc trong tử cung.
NHỮNG KÍP KINH NGHIỆM
Do thận trọng, bởi vì không có ngưỡng tiêu thụ dưới đó sự vắng mặt hoàn toàn nguy cơ được chứng minh, và bởi vì ta có thể chất vấn một cách chính đáng ý niệm tiêu thụ tối thiểu có thể chấp nhận được (consommation minimale acceptable) vì đó là một sản phẩm sinh quái thai (tératogène) và độc đối với thai nhi, nên việc khuyến nghị không uống rượu nếu mang thai hay dự kiến có thai, là điều có trách nhiệm. Đó là ý nghĩa của “zéro alcool trong thời kỳ thai nghén”. Lời khuyến nghị đơn giản và phổ thông này càng ngày càng được hiểu tốt hơn. Thí dụ, vào năm 2017, 44% những người Pháp so với 25% năm 2015 tuyên bố một cách ngẫu nhiên rằng không có sự tiêu thụ rượu nào mà không có nguy cơ cho đứa bé. Có lẽ đó là một tác động của chiến dịch của chính quyền được phổ biến từ ba năm nay : ” Cô uống một ít, nó uống nhiều “. Tuy nhiên, 21% những người Pháp so với 27% năm 2015 còn nghĩ rằng có thể thỉnh thoảng uống một ly rượu vang nhỏ trong thời kỳ thai nghén. Chính vì vậy, Santé publique France và Bộ y tế phát động một chiến dịch mới : ” Vì thận trọng, zéro alcool trong khi có thai.”
Đã đến lúc mỗi phụ nữ có thai phải có thể tự hỏi : thật sự có nên lấy hay chấp nhận ly rượu này ngay cả trong một bối cảnh hội hè, một dạ tiệc giữa bạn bè, một đám cưới hay một ngày sinh nhật ? Đó cũng là thúc những người thân cần tự vấn : Phải chăng phải chịu trách nhiệm khi đề nghị một người đàn bà có thai, thậm chí năn nỉ, uống một ly rượu ? Sau cùng chiến dịch này nhằm thúc các phụ nữ đã từng uống rượu trước khi biết mình có thai, hay những phụ nữ uống rượu đều đặn, tự hỏi về sự tiêu thụ của họ và báo cáo một cách ngẫu nhiên những quan tâm của mình với những người săn sóc theo kèm họ (thầy thuốc phụ khoa, nữ hộ sinh, échographiste, thầy thuốc đa khoa).
Thật vậy, việc thông tin những người chuyên nghiệp theo dõi thai nghén, cho phép nhận một xử trí thích ứng và giảm những nguy cơ. Có những équipe có kinh nghiệm trong sự theo kèm những phụ nữ có thai có vấn đề với rượu, do đó cần làm dễ và phổ biến sự tiếp cận cho những phụ nữ cần điều đó.
Còn lại vấn đề về sự thông tin về những chai rượu. Áp dụng nghị định bộ ngày 2/10/2006, một thông điệp y tế dành cho những phụ nữ có thai, chủ trương kiêng hoàn toàn trong thời kỳ thai nghén, được dán trên tất cả đồ uống có cồn. Thông điệp này có thể có hai dạng : một pictogramme, minh họa thông điệp ” không uống rượu trong khi có thai “, hay dán trên nhãn một câu thông tin : ” Sự tiêu thụ đồ uống cồn trong khi có thai, ngay cả với lượng nhỏ, có thể có những hậu quả nghiêm trọng lên sức khỏe của đứa bé.” Thực ra, chính pictogramme rất được sử dụng, mặc dầu nó thường ít rõ và do đó khó phát hiện trên nhãn. Hôm nay, để gia tăng tác động của thông điệp, và thông tin tốt hơn người tiêu thụ, cần tăng cường sự nhìn thấy.
Những filière de boissons alcoolisés đã bày tỏ mong muốn của họ được góp phần vào kế hoạch quốc gia về y tế công cộng của chính phủ. ” Priorités prévention ” (Ưu tiên phòng ngừa), và vài filière dấn thân : chúng ta chỉ có thể khuyến khích sự dấn thân công dân này và mong rằng nó đi đến toàn thể nghề nghiệp, kể cả những người do dự nhất. Cũng chính vì điều đó mà chúng tôi ngõ lời nhân Jounée mondiale du SAF, để tăng cường sự nhận thức của những tác nhân và gây sự huy động của tất cả mọi người đứng trước một enjeu thật sự của y tế công cộng.
(LE FIGARO 10/9/2019)

7/ PHÁT HIỆN NHỮNG BỆNH DI TRUYỀN Ở CÁC TRẺ SƠ SINH
NÉONATALITÉ. Trong một đơn vị soins intensifs néonatals, những trẻ sơ sinh bệnh nặng chờ những xét nghiệm, cho phép xác định nguyên nhân của tình trạng của chúng để thực hiện điều trị tốt nhất có thể được. Một kíp nghiên cứu Hoa Kỳ ở Rady Children’s Institute for Genomic Medicine đã tiến hành thí nghiệm, đó là thực hiện một séquençage génétique của ADN của đứa bé, và của cha mẹ nó, để tìm kiếm một biến dị dẫn đến một căn bệnh. Những kết quả của công trình này đã được trình bày ở hội nghị thường niên của American Society of Human Genetics được tổ chức ở Orlando (10/2017).
” Ta không luôn luôn có thể áp dụng ở những trẻ sơ sinh những chiến lược chẩn đoán mà ta dùng ở những trẻ lớn hơn “, BS Shimul Chowdhury, chỉ đạo công trình nghiên cứu, đã đánh giá như vậy. ” Ngoài ra chúng không luôn luôn có những triệu chứng hay dấu hiệu rõ ràng. Điều này làm cho chẩn đoán khó khăn.” Đối với những bệnh nhân bé nhỏ này, với những phương pháp truyền thống, đôi khi cần trong 3 đến 4 tuần những thăm khám kế tiếp nhau để tìm ra loại bệnh lý mà chúng bị. Một séquenage của génome cần 3 và 7 ngày. Ít hơn nếu tình trạng của em bé cần điều đó. Hôm nay ta có trong những ngân hàng dữ kiện (banque de données) nhiều trăm biến dị và những hậu quả của chúng.
Các nhà nghiên cứu đã thực hiện examen génétique này trên 98 bệnh nhân bé nhỏ và cha mẹ của chúng. Trong 34 trường hợp (35%), một chẩn đoán di truyền đã có thể được xác lập. Và đối với 80% trong số chúng (28 trường hợp), điều trị y khoa đã được biến đổi. Như thế những thuốc đặc hiệu đã có thể được sử dụng, những can thiệp ngoại khoa vô ích đã có thể tránh được, những soins palliatifs thích đáng đã có thể được xác lập.
Yếu tố khác phải được xét đến, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy, kỹ thuật cũng có lợi vì nó cho phép tiết kiệm tiền. Họ xác nhận đã tính toán rằng, đối với 42 trẻ sơ sinh đầu tiên, 1,3 triệu dollar đã được tiết kiệm so với những kỹ thuật cổ điển. ” Tiền tiết kiệm được thật sự gây ấn tượng, mặc dầu phí tổn của séquençage vẫn còn cao, Shimul Chowdhury đã nhấn mạnh như vậy. Phương pháp điều trị trẻ sơ sinh này không những đã cho thấy tính hiệu quả lâm sàng mà còn có lợi về mặt kinh tế.”
(LE FIGARO 23/10/2017)

7/ CÓ THẬT LÀ TỐT HƠN NẾU MẸ CHO BÚ ?Sữa mẹ dầu sao đi nữa hoàn toàn thích ứng với những nhu cầu của em bé, bởi vì nó chứa những tế bào năng lực miễn dịch (cellules immunocompétentes) (bạch cầu, kháng thể…) và những yếu tố tăng trưởng. Ngoài ra, qua sữa của mình, bà mẹ truyền những mảnh protéine của những thức ăn được ăn vào. Và mặc dầu mục tiêu của sữa trẻ em (lait infantile) là đến gần tối đa nguyên bản, nhưng ít có khả năng rằng công nghiệp một ngày nào đó sản xuất một sản phẩm y hệt.
Thành phần này dường như ảnh hưởng nhiều lên sức khỏe của các em bé. Như thế, sữa đóng một vai trò quan trọng trong sự phòng ngừa những benh nhiễm trùng (nhất là tiêu hóa và hô hấp) và những dị ứng vào những tháng đầu tiên của nhũ nhi. Sữa mẹ có thể anh hưởng lên trí năng của em bé, nhờ những acide béo mà nó chứa. Đó là điều đã được chứng minh bởi một công trình nghiên cứu của đại học Havard (2013) trên những trẻ em từ 3 đến 7 tuổi : chúng càng được cho bú sữa mẹ lâu, những kết quả đối với tests cognitifs càng tốt hơn. Nhất là khi người mẹ đã ăn cá, giàu axit béo. Cùng năm, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chứng thực rằng chất trắng của não của các em bé (từ 8 tháng đến 4 tuổi) là 20 đến 30% phát triển hơn ở những trẻ được nuôi bằng sữa tự nhiên.
Những lợi ích này được công nhận, mặc dầu không gì có thể được xác lập một cách chính thức vì những khó khăn liên kết với loại quan sát này, những người chọn cho bú không giống với những người từ chối nó. Tuy vậy, những bà mẹ nuôi con bằng sữa bình không có một tội lỗi nào : sữa nhân tạo đáp ứng đúng đắn những nhu cầu của em bé.
(SCIENCE &VIE 6-7-8/2018)

8/ GHÉP TỬ CUNG : CHO AI, TẠI SAO VÀ NHƯ THẾ NÀO
GS Jean-Marc Ayoubi, trưởng khoa phụ-sản và y khoa sinh sản, bệnh viện Foch, Suresnes, là nguồn gốc của ghép tử cung đầu tiên ở Pháp. Ông giải thích lợi ích của kỹ thuật này.
Hỏi : Ghép tử cung được dành cho phụ nữ nào ?
GS Jean-Marc Ayoubi. Dành cho một phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ và muốn có con, mà toàn bộ bộ máy sinh sản (hormone, buồng trứng…) bình thường, nhưng sinh ra không có tử cung (hội chứng Mayer-Rokitansky-Kuster-Hauser : MRKH, xảy ra ở một phụ nữ trên 4500) hay đã mất tử cung (ung thư, xuất huyết hậu sản). Nhiều ngàn phụ nữ ở Pháp bị liên hệ.
Hỏi : Lịch sử của ghép tử cung là gì ?
GS Jean-Marc Ayoubi. Những công trình sơ bộ ở động vật (thỏ, chuột, cừu cái) đã được thực hiện ngay năm 1995 ở Thụy Điển bởi kíp của GS Brannstrom (Goteborg), nhờ đó năm 2014, ta có sự sinh đầu tiên sau một ghép tử cung. Tiếp theo sau là 8 lần sinh khác. Sự quan tâm của chúng tôi đối với dự án này và sự bắt đầu partenariat của chúng tôi với những người Thụy Điển có từ 2007. Những công trình chung, sự đưa vào bởi kíp của chúng tôi chirurgie robotique để lấy tử cung, đã góp phần làm tiến triển thủ thuật. Khung cảnh bệnh viện của chúng tôi đã làm dễ sự thiết đặt nó. Bệnh viện Foch có một kinh nghiệm lâu dài về ghép cơ quan và về điều trị các ung thư phụ nữ. Ngoài ra, bệnh viện có một khoa sản và một trung tâm AMP (assistance médicale à la procréation), cho phép, trước khi ghép tử cung, một sự thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro) và sự đông lạnh các phôi thai (những phôi thai này là do những noãn của người nhận được thụ tinh bởi những tinh trùng của người chồng). Hiện nay, giới hữu trách, vì mục đích đánh giá, đã cho phép chúng tôi thực hiện 10 trường hợp ghép tử cung ở những bệnh nhân MRKH.
Hỏi : Những người hiến và những điều kiện để được hiến là gì ?
GS Jean-Marc Ayoubi. Hiện nay, tất cả các trường hợp ghép tử cung với sinh đẻ được thực hiện trên thế giới, ngoại trừ một, đều đã nhờ đến một người hiến sống (donneuse vivante), ưu tiên người mẹ hay chị/em của người nhận. Người hiến phải trong thời kỳ mãn kinh, không hút thuốc, đã sinh bằng đường tự nhiên không biến chứng sản khoa và có một tử cung lành mạnh. Tính tương hợp của người hiến với người nhận cũng phải đủ. Trong một trường hợp duy nhất, ở Brésil, người hiến ở trong trạng thái chết não.Hỏi : Thủ thuật được tiến hành như thế nào ?
GS Jean-Marc Ayoubi.
1. Bằng chirurgie robotique mini-invasive (đảm bảo một phẫu tích chính xác), lấy ở người hiến, tử cung với những huyết quản của nó (những động mạch và tĩnh mạch).
2. Tiếp theo là ghép : các huyết quản của mẫu ghép (greffon) được nối với những huyết quản của người nhận và âm đạo của người nhận được nối với cổ của tử cung được ghép. Điều này mất khoảng 8 giờ phẫu thuật để lấy tử cung của người hiến và 5 giờ để ghép ở người nhận. Một điều trị chống thải bỏ (traitement antirejet) được bắt đầu trong lúc mổ. Theo quy tắc chung, hậu phẫu đơn giản đối với hai bệnh nhân. Sự nhập viện của họ kéo dài khoảng một tuần. Sau đó người nhận được theo dõi mỗi tháng. Sự chuyển vào trong mẫu ghép (tử cung người hiến) những phôi thai được bảo quản lạnh (embryons cryopréservés) chỉ được thực hiện sau 10 tháng, thời hạn để đảm bảo tử cung không bị thải bỏ (non-rejet). Để những tác dụng phụ của điều trị suy giảm miễn dịch không kéo dài trong thời gian, tử cung ghép được lấy ra khỏi người nhận sau một hay hai lần sinh.
Hỏi : Tương lai của loại ghép này là gì ?
GS Jean-Marc Ayoubi. Đầy hứa hẹn, bởi vì yêu cầu ở phụ nữ là quan trọng. Từ nay, hơn 20 kíp trên thế giới (Hoa Kỳ, Đức, Ấn độ, Trung quốc, Bỉ, Mexique, Brésil…) phát triển nó. Ở Pháp, hai trung tâm, trung tâm của chúng tôi (từ những người hiến sống) và trung tâm của Limoges (từ những người hiến chết) được phép đánh giá nó. Sự ghép này có hai điểm mạnh. 1. Nó truyền sự sống. 2. Nó tạm thời và vậy không nguy hiểm trong thời gian dài hạn
(PARIS MATCH 27/6-3/7/2019)
Đọc thêm : TSYH số 350

9/ NHỮNG EM BÉ SINH NON : PROGRAMME NIDCAP (NEWBORN INDIVIDUALIZED DEVELOPMENTAL CARE AND ASSESSMENT PROGRAM)
GS Jacques Sizun, trưởng khoa néonatologie và hồi sức nhi đồng, CHU de Brest, là người báo trước ở Pháp một phương pháp cải tiến cho những trẻ sinh non, có nhiều người theo.Hỏi : Sự sinh non (prématurité) được định nghĩa như thế nào ?
GS Jacques Sizun : Một trẻ sơ sinh được gọi là sinh non (prématuré) khi nó sinh trước 37 tuần thai nghén, grand prématuré khi sinh trước 33 tuần và très grand prématuré trước 28 tuần.
Ở Pháp, sinh non liên hệ hơn 50.000 trẻ em mỗi năm (7-8% những lần sinh). Sinh non là ngẫu nhiên (spontanée) một trường hợp trên hai (thí dụ vỡ màng ối sớm) hay được gây nên (provoquée) : kíp y khoa quyết định lấy thai ra khi sức khỏe của nó và sức khỏe của người mẹ bị đe dọa.Hỏi : Những hậu quả khả dĩ là gì ?
GS Jacques Sizun : Tỷ lệ tử vong vẫn quan trọng đối với những trẻ sinh trước 26 tuần (extrêmement prématuré). Ở những trẻ sơ sinh sống sót, phế tật vận động nghiêm trọng (handicap  nếu cần bởi những thầy thuốc tâm lý và/hoặc những hiệp hội như SOS Préma.
Hỏi : Mục tiêu moteur sévère) đã giảm nhiều, nhưng vẫn hiện hữu những khó khăn phát triển liên quan đến ngôn ngữ, sự chú ý, hành vi và học hành, biện minh một sự theo dõi ngay sau khi qua khoa néonatologie. Sự hỗ trợ tinh thần cho cha mẹ trong hay sau nhập viện cũng được đảm tráchcủa chương trình Nidcap ?
GS Jacques Sizun : Chương trình Nidcap đã được GS Heidelise (đại học Havard, Boston, Hoa Kỳ) nghĩ ra để làm giảm stress ở các trẻ sơ sinh và làm dễ sự phát triển của chúng. Phương pháp dựa trên những công trình của thầy thuốc nhi khoa T. Berry Brazelton, quy định rằng hành vi của trẻ sơ sinh chỉ dẫn về những năng lực và tính dễ bị thương tổn của nó, điều này cho phép thích ứng với những nhu cầu đặc thù của mỗi trẻ sơ sinh
Hỏi : Làm sao ông phát triển được chương trình này ở Brest ?
GS Jacques Sizun : Cách nay 20 năm, những y tá của khoa tìm kiếm một cách xử trí khác cho những trẻ sinh non : nhân bản hơn, hội nhập cha mẹ nhiều hơn đồng thời tương hợp với những săn sóc rất kỹ thuật cần thiết cho sự an toàn và cho sự sống còn của các trẻ em. Điều đó đã dẫn chúng tôi đến Nidcap.
Hỏi : Xử trí Nidcap là gì ?
GS Jacques Sizun : Cơ ban là sự hội nhập cha mẹ vào trong đời sống hàng ngày của đứa bé và quan sát hành vi của đứa bé này (tần số tim và hô hấp ngoài hay trong khi điều trị, sự vận động (mobilité), tư thế (posture), nhịp thức-ngủ, nhìn…) Sự quan sát này cho phép xác định một kế hoạch săn sóc cá thể hóa : mức độ của những kích thích âm thanh và ánh sáng, cách đặt nằm trẻ sơ sinh trong incubateur của nó, sự tổ chức những săn sóc hàng ngày, vị trí của cha mẹ trong dispositif. Cha mẹ, những partenaire thật sự của équipe médicale, tham dự tùy theo tình trạng sẵn sàng của họ : họ hỗ trợ con mình trong những săn sóc căng thẳng, giúp nó phục hồi bằng những buổi tiếp xúc kéo dài da với da (một động tác làm ổn định chủ yếu). Như thế họ học hiểu được em bé để tương tác với nó một cách đúng đắn. Sự tổ chức của khoa theo từng phòng chứ không bởi phòng tập thể cho phép cha mẹ ngủ gần con.
Hỏi : Những kết quả là gì ?
GS Jacques Sizun : Những thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng Nidcap giảm thời gian nhập viện, giảm score de stress, gia tăng thời gian ngủ và đảm bảo một sự phát triển tốt hơn lúc 9 và 12 tháng. Những dữ kiện về ảnh hưởng ở tuổi học đường vẫn còn chưa hoàn toàn những đáng phấn khởi.
(PARIS MATCH 20-25/12/2018)
Đọc thêm : – TSYH số 385 : bài số 4, 5
– TSYH so 365 : bài số 4

10/ NHẠC CHO NÃO CỦA NHỮNG TRẺ SINH NONNEONATOLOGIE. Tiếng động có mặt khắp nơi trong những đơn vị điều trị tăng cường, ở đây những trẻ sinh non được nhận vào. Chính trong bầu không khí căng thẳng, cơ học này mà các em bé sẽ phải lớn lên và phát triển. Ở bệnh viện đại học Genève (HUG), Thụy Sĩ, những nhà nghiên cứu đã có ý tưởng phát nhạc được sáng tác một cách đặc hiệu để kích thích hoạt động não của những trẻ sơ sinh này. Công trình nghiên cứu của họ, được công bố trong những báo cáo của viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, cho thấy rằng những mạng neurone của những trẻ em được tiếp xúc với những giai điệu này phát triển một cách hiệu quả hơn, đặc biệt những trẻ em bị liên hệ trong những chức năng giác quan và nhận thức (fonctions sensorielles et cognitives).
Kết quả này, sẽ phải được xác nhận bởi khám lâm sàng các trẻ, cho một hướng để phòng ngừa nhưng rối loạn của apprentissage, của sự tập trung hay của sự làm chủ những cảm xúc ở một số grand prématuré nào đó. Nếu những tiến bộ của hồi sức mang lại cho các trẻ giữa 28 và 32 tuần những cơ may sống sót, ” não của chúng vẫn còn chưa thành thục (immature) vào lúc sinh “, Petra Huppi, médecin chef ở HUG, người phụ trách công trình nghiên cứu, đã nhấn mạnh như vậy. Do đó tầm quan trọng dành cho chúng một môi trường bảo vệ và kích thích.
Các nhà khoa học đã yêu cầu nhà soạn nhạc thụy sĩ, Andreas Vollenweicher sáng tác 3 giai điệu 8 phút mỗi mélodie, để theo kèm lúc các em bé thức dậy, lúc tỉnh thức và lúc thiu ngủ. Sau khi đã trải qua một thời gian trong service de néonatologie để quan sát những phản ứng của chúng với những nhạc cụ của mình, người nhạc sĩ đã chọn punji (chiếc sáo ấn độ của những charmeur de serpents), cũng như một harpe và những chuông nhỏ. ” Những trẻ rất kích động dịu lại ngay hầu như tức thời, sự chú ý của chúng bị nhạc lôi cuốn “, một y tá của bệnh viện đã kể lại như vậy. 20 nhũ nhi đã được cho tiếp xúc với nhạc này qua trung gian của một casque, 5 lần mỗi tuần cho đến khi xuất viện, trong khi đó 19 nhũ nhi khác được đưa vào một groupe contrôle.Sự thăm khám bằng IRM những trẻ sơ sinh được ru bởi nhạc của Andreas Vollenweider cho thấy rằng những nối kết thần kinh của chúng hoạt động hơn những nối kết của những trẻ sơ sinh khác. Lợi ích là rõ rệt trên những circuit can dự trong sự phát hiện các thông tin, trong sự đánh giá tính thích đáng của chúng và trong sự truyền của chúng đến những vùng khác. Bây giờ còn phải kiểm tra rằng những quan sát này được biểu hiện trên bình diện hành vi.
(LE FIGARO 3/6/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(6/8/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 513 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 515 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 518 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s