Ghép tủy xương – Theo dõi ung thư cổ tử cung – Liệu pháp gen chữa trị ung thư gan

GHÉP TỦY XƯƠNG : LIỆU PHÁP MỚI CHỮA TRỊ HIV

 Sau khi ghép tủy xương, 2 bệnh nhân người Mỹ bị nhiễm HIV, đã không còn thấy dấu vết virus trong máu nữa.

Cách đây nhiều năm, 2 bệnh nhân người Mỹ ở Boston, bị nhiễm HIV, đã được ghép tủy xương. 8 tháng sau, HIV đã không còn tìm thấy trong máu nữa. Vào đầu năm 2013, bác sĩ điều trị đã cho bệnh nhân ngưng thuốc kháng-retrovirus, có tác dụng ức chế nhân bản virus. Kết quả: virus biến mất khỏi máu, sau 15 tuần lễ đối với bệnh nhân thứ nhất và 7 tuần đối với bệnh nhân thứ 2.
Ghép tủy xương này được tiến hành với mục đích điều trị một loại ung thư máu, được gọi “U bạch huyết Hodgkin”. Tiến trình ghép tủy bao gồm việc tiêm các tế bào gốc lấy từ tủy xương người lành mạnh vào bệnh nhân. Thực ra, đây là những tế bào được gọi là “tạo máu”, tức là các tế bào sản xuất ra các tế bào máu như hồng cầu, tiểu cầu và các bạch cầu tạo nên hệ miễn dịch.
Ghép tủy thường đi trước hóa trị liệu, có mục đích phá hủy tối đa các tế bào ung thư. Đây là giai đoạn cần thiết để cho các tế bào gốc của tủy được ghép, có thể tái tạo một hệ miễn dịch khỏe mạnh.

CƠ CHẾ MỚI
2 trường hợp này gợi nhớ trường hợp của “bệnh nhân Berlin”, bệnh nhân người lớn duy nhất trên thế giới đã được chữa lành bệnh AIDS sau khi được ghép tủy xương để điều trị bệnh ung thư máu. Nhưng ở bệnh nhân này, các nhà nghiên cứu đã chọn người cho tủy xương mà tế bào gốc tạo máu có bất thường về gen hiếm gặp, đã ngăn chận được HIV lây nhiễm bạch cầu của người bệnh.
TS Christine Rouzioux, chuyên gia về HIV thuộc bệnh viện Necker, Paris, Pháp, cho biết kết quả có được từ 2 bệnh nhân Boston này, có thể khẳng định bất thường gen này là không cần thiết để diệt HIV sau khi ghép tủy.
Vậy cơ chế như thế nào? Đối với TS Rouzioux, câu trả lời nằm ở hóa trị liệu được thực hiện trước khi ghép tủy. Hóa trị liệu đã “khử” hết các bạch cầu bị nhiễm HIV, kể cả “nguồn dự trữ” virus: tức là các bạch cầu có đời sống dài hơn mà trong bạch cầu có chứa các nguyên mẫu HIV ở trạng thái ngủ đông.
Còn đối với TS Timothy Henrich thuộc Bệnh viện Brigham and Women’s, Boston, Hoa Kỳ, thì cho rằng còn quá sớm để khẳng định đã chữa lành được AIDS. Thực vậy, không thể loại trừ được nhiễm khuẩn tái phát từ các nguồn dự trữ khác nằm ở hệ tiêu hóa, não bộ… vài tháng sau khi ngưng thuốc kháng-retrovirus.

 (Theo LaRecherche, 9/2013)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG

THEO DÕI UNG THƯ CỔ TỬ CUNG BẰNG… DẤM

Các nhà ung thư học người An Độ đã đánh giá trên quy mô lớn hiệu quả của công trình nghiên cứu theo dõi ung thư cổ tử cung bằng dấm. Kết quả ra sao?

TS Thibault de La Motte Rouge, chuyên gia ung thư học thuộc Viện Curie, Paris, Pháp, cho biết công trình nghiên cứu này đã theo dõi trên 150.000 phụ nữ An Độ trong độ tuổi từ 35-60 ở thành phố Bombay. Một nửa số đó không hề được theo dõi bằng bất cứ phương pháp nào do hủ tục của An Độ. Nửa còn lại được theo dõi mỗi 2 năm, thông qua một phương pháp khá đơn giản nhưng có thể phát hiện được các tổn thương tiền ung thư hay đã bị ung thư hóa, có thể quan sát được bằng mắt trần bằng cách bôi dấm vào cổ tử cung.
Thật vậy, khi tiếp xúc với dấm, vùng bị tổn thương trở nên trắng bạch trong khi các mô lành mạnh vẫn giữ màu hồng. Trong 2 nhóm này, tất cả các bà đều mắc phải bệnh ung thư cổ tử cung và đã được điều trị miễn phí. Kết quả: nhóm được “theo dõi bằng dấm” có tỉ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung thấp hơn 31% so với nhóm chứng. Phương pháp này khá đơn giản nhưng tỏ ra có hiệu quả cao.
Khi trình bày phương pháp theo dõi ung thư cổ tử cung bằng dấm này tại Hội nghị quốc tế ASCO 2013, công trình nghiên cứu này đã nhận được những tràng pháo tay như sấm nổ.

TẠI SAO ĐƯỢC HOAN NGHÊNH NHƯ VẬY?
Tại các nước đang phát triển, ung thư cổ tử cung là một vấn nạn về sức khỏe cộng đồng. Ở An Độ, ung thư cổ tử cung là một loại ung thư phổ biến nhất với 142.000 người mắc bệnh mỗi năm… và chiếm tỉ lệ tử vong cao nhất với 77.000 trường hợp mỗi năm. Thật đáng buồn là đất nước này không có đủ tài chánh để thực hiện trên quy mô lớn các kỹ thuật theo dõi của các nước phát triễn như phân tích dưới kính hiển vi, test sinh học…

gtx 1

Vì vậy, kết quả khả quan của phương pháp theo dõi bằng dấm này đã gây hưng phấn bởi vì đây là một phương pháp rẻ tiền (chỉ tốn vài euro), lại dễ thực hiện, không cần đến chuyên môn. Hơn nữa, phương pháp này lại cho kết quả tức thì. Nếu được ứng dụng trên diện rộng, phương pháp này có thể cứu sống 22.000 phụ nữ An Độ mỗi năm…

gtx 2

GIAI ĐOẠN KẾ TIẾP LÀ GÌ?
Nhóm nghiên cứu của công trình trên đã làm việc với giới chức có thẩm quyền của Bộ Y tế để có thể sớm đưa phương pháp này áp dụng trên toàn nước An Độ. Trong giai đoạn đầu, bang Maharashtra sẽ tiến hành dự án này đối với phụ nữ trong lứa tuổi từ 35-64.
Ngoài ra, phương pháp này cũng có thể áp dụng ở những nước đang phát triển khác.

(Theo LaRecherche, 9/2013)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG

LIỆU PHÁP GEN CHỮA TRỊ UNG THƯ GAN

Một loại virut biến đổi gen có khả năng phá hủy các tế bào ung thư và kéo dài đáng kể niềm hy vọng sống còn của bệnh nhân mắc bệnh ung thư gan.

TS David Kim thuộc Viện nghiên cứu Jennerex, cho biết lần đầu tiên một loại virut biến đổi gen có thể cải thiện thời gian sống còn của bệnh nhân bị ung thư gan một cách đáng kể. TS David Kim đã công bố trước báo giới kết quả đạt được của Pexa-Vec, một loại virut biến đổi gen được thử nghiệm tại phòng thí nghiệm của ông ở California. Công trình được thử nghiệm do một nhóm nghiên cứu đa quốc gia trên những bệnh nhân bị ung thư gan ở giai đoạn nặng, cho thấy Pexa-Vec làm tăng đến 40% khả năng sống còn của bệnh nhân so với các liệu pháp hiện hành. Theo TS Tony Reid, chuyên gia về ung thư học thuộc Viện đại học California, kết quả này đã làm dấy lên niềm hy vọng bởi vì các chỉ định điều trị rất bị giới hạn đối với loại bệnh nhân này.

gtx 3

Pexa-Vec là dẫn xuất từ virut của văc-xin. Các nhà sinh học đã đưa vào trong virut một cấu trúc gen đã hoàn thiện, có khả năng tấn công các tế bào ung thư trên nhiều mặt trận. Nhờ cấu trúc gen này, virut tự phản ứng với sự hiện diện của một loại men đặc biệt chỉ được hoạt hóa trong tế bào ung thư. Virut này chỉ xâm nhập và phá hủy tế bào ung thư chứ không đụng đến tế bào bình thường.
Bộ mã gen tổng hợp của nó cũng có khả năng “bỏ đói” khối u và làm giảm sự tân sinh mạch máu đến nuôi khối u. Cuối cùng, virut còn có thể kích thích hệ miễn dịch, làm tăng khả năng đề kháng chống lại tế bào ung thư.

KHỐI U VÀ DI ĐỘC
Công trình thử nghiệm trên 30 bệnh nhân bị ung thư gan ở giai đoạn nặng: 16 bệnh nhân được cho dùng Pexa-Vec với liều cao và14 bệnh nhân còn lại được cho liều yếu hơn 10 lần. Liệu pháp được tiến hành bằng cách tiêm thẳng vào khối u gan, 3 mũi tiêm mà mỗi mũi cách nhau 2 tuần lễ. Thử nghiệm được đối chứng với placebo.

gtx 4

Kết quả cho thấy: trong nhóm đầu tiên, thời gian sống còn của bệnh nhân kéo dài được trung bình 14,1 tháng so với nhóm thứ hai. Hai năm sau khi điều trị, 2 bệnh nhân thuộc nhóm “liều cao” vẫn còn sống. Để đối chiếu, một trong những liệu pháp thông thường được chỉ định trong trường hợp này, thuốc Sorafenib chỉ kéo dài đời sống trung bình khoảng 10 tháng. Không thấy phản ứng phụ nào nặng xảy ra.gtx 5
Các cuộc nghiên cứu bổ sung đã theo dõi một số bệnh nhân đã cho thấy kích thước của khối u được điều trị bằng Pexa-Vec đã giảm đi rõ rệt. Kích thước của những khối u di độc cũng giảm đi. Như vậy, virut biến đổi gen này có khả năng tấn công các khối u di độc bằng cách đi theo dòng máu. Ngoài ra, virut biến đổi gen này còn có thể làm giảm sự tưới máu cho các khối u. Sau cùng, nhóm nghiên cứu còn phát hiện được sự hiện diện của các kháng thể chống tế bào ung thư.
(Theo La Recherche, 4/2013)

BS NGUYỄN VĂN THÔNG
DrThong007@gmail.com

Bài này đã được đăng trong Khoa học ngày nay. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s