Thời sự y học số 442 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG ĐƠN VỊ THẦN KINH-MẠCH MÁU CỨU NÃO CỨU NHỮNG NGƯỜI BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

62.000 trường hợp tử vong mỗi năm là do một tai biến mạch máu não

135 trung tâm bệnh viện đã chứng tỏ tính hiệu quả của đơn vị thần kinh-mạch máu (UNV). Và còn muốn cải thiện thêm nữa.URGENCES. ” Chúng ta đang sống một cuộc cách mạng trong điều trị một bệnh mà ngày xưa tiên lượng rất u tối : tai biến máu não nguồn gốc thiếu máu cục bộ (AVC ischémique), nghĩa là được gây nên bởi một cục máu đông đến bít một động mạch tưới máu não (hoặc 85% những tai biến mạch máu não). Thật vậy, nhờ những đơn vị thần kinh mạch máu (unité neuro-vasculaire : UNV) và những điều trị cải tiến như liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse) và cắt bỏ cục nghẽn mạch (thrombectomie), từ nay chúng ta có khả năng chữa lành những nạn nhân tai biến mạch máu não mà ngày xưa phải chịu tử vong hay chịu những phế tật nặng nề, với điều kiện họ phải đến bệnh viện nhanh “, GS Charlotte Cordonnier, trưởng khoa bệnh lý thần kinh-mạch máu ở CHRU de Lille.
Liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse), hôm nay được thực hiện hầu như khắp nơi trên lãnh thổ, tương ứng với sự tiêm vào một thuốc làm tan cục máu đông : liệu pháp tan huyết khối phải được thực hiện trong 4h30 sau khi bắt đầu những triệu chứng. Còn về cắt bỏ cục nghẽn mạch (thrombectomie), thường được thực hiện bổ sung liệu pháp tan huyết khối, nó nhằm đưa một cathéter vào trong mạch máu não bị bít để bắt cục máu đông và lấy nó ra : đó là một động tác quang tuyến thần kinh can thiệp (neuroradiologie interventionnelle). Cắt bỏ cục nghẽn mạch phải được thực hiện trong một thời hạn tối đa 6 giờ sau khi bắt đầu những triệu chứng.
Ta có thể tin rằng điều đó cho nhiều thời gian hơn, ” nhưng cắt bỏ cục nghẽn mạch chỉ mới được chuẩn nhận nhưng không phải tất cả các bệnh nhân đều đủ điều kiện để nhận điều trị này, nhất là khi họ ở xa một UNV nằm ở CHU. Sự làm tối ưu các circuit, sự đưa vào những địa điểm cắt bỏ cục nghẽn mạch mới và sự đào tạo nhân viên có năng lực thực hiện động tác này là cần thiết. Đó là một cô gắng to lớn, nhưng vì thrombectomie được thực hiện trong những tình huống thường nghiêm trọng, nên những lợi ích mong chờ để giảm phế tật là quan trọng hơn “, GS Emmanuel Touzé, trưởng UNV của CHU de Caen và khoa trưởng của Trường Y đã nhấn mạnh như vậy.
Đây là một tình trạng khẩn cấp : với một nạn nhân mới mỗi 4 phút ở Pháp, tai biến mạch máu não vẫn là nguyên nhân đầu tiên gây phế tật mắc phải ở người trưởng thành, nguyên nhân thứ hai gây sa sút trí tuệ (démence), và gây nên 62.000 trường hợp tử vong mỗi năm.Ngoài ra, với sự lão hóa của dân số, số những nạn nhân tai biến mạch máu não gia tăng. UNV, thrombolyse, thrombectomie không phải khi nào cũng có thể thực hiện được. Lý do thứ nhất : một appel đến Samu quá muộn.
Tuy vậy, quy tắc là đơn giản : trước sự xuất hiện đột ngột của một cánh tay hay một cẳng chân trở nên nặng, trước sự xuất hiện của một sự diễn đạt khó khăn, của một rối loạn thị giác và điều này, ngay cả khi những triệu chứng này không kéo dài, phải gọi Samu, dầu cho tuổi tác của nạn nhân như thế nào (mặc dầu ngoại lệ ở trẻ em, nhưng tai biến mạch máu nào vẫn có trong lứa tuổi này).
Những lý do khác khiến cho sự xử trí tối ưu không luôn luôn khả dĩ : không có đơn vị thần kinh-mạch máu (UNV) ở gần.
” Nếu thiếu đơn vị thần kinh-mạch máu, các nạn nhân của tai biến mạch máu não có thể được điều trị trong một khoa cấp cứu được đào tạo đặc biệt về liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse) và nối 24 giờ trên 24 giờ với một đơn vị thần kinh-mạch máu qua télémédecine”, GS Touzé đã nói như vậy.” Thí dụ, có 4 UNV ở Basse-Normandie (Cherbourg, Saint-Lo, Caen và Lisieux) nhưng phía nam của vùng không có UNV. Để giải quyết sự thiếu hụt này, nhiều bệnh viện được trang bị với một scanner túc trực 24 giờ trên 24 giờ trở thành điều mà ta gọi là những “site de télé-AVC”. Đó là Avranches, Flers, Argentan, Alenon và L’Aigle. Thầy thuốc thần kinh trực ở UNV, có thể được liên lạc 24 giờ trên 24 giờ, khám bệnh được thực hiện qua vidéo với sự hiện diện của thầy thuốc cấp cứu và những hình ảnh scanner được truyền đến thầy thuốc thần kinh, điều này cho phép họ cùng nhau đưa ra quyết định. Nếu thrombolyse được quyết định, Samu tức thời được báo để sau đó chuyển người bệnh đến CHU. Nhờ hệ thống này, người bệnh nào đó, thí dụ được điều trị ở Flers, cũng được theo dõi bởi một UNV rồi chuyển vào trong UNV sau khi thrombolyse được thực hiện.”Vài người, vì không hội đủ tiêu chuẩn cho những điều trị cấp cứu này, bởi vì họ đến quá chậm hay bởi vì họ có những vấn đề y khoa khác nghiêm trọng hơn (hay ngược lại không một di chứng nào) hay vì họ ở xa, nên không được nhận vào UNV. ” Họ ở trong những khoa cổ điển : hồi sức, tim, thần kinh,…nhưng họ sẽ được khám bởi một chuyên gia về tai biến mạch máu não (trong 3 đến 6 tháng), để bổ sung bilan nếu cần và tối ưu hóa sự xử trí phế tật của họ và phòng ngừa một tai biến mạch máu não mới”, GS Touzé nói tiếp. Ngoài sứ mạng điều trị những nạn nhân tai biến mạch máu não ở giai đoạn cấp tính (bao gồm quản lý những biến chứng hô hấp, nhiễm trùng, liên kết với nhiễm trùng, liệt giường..), các UNV là một nơi ưu tiên để xác lập nguyên nhân của tai biến mạch máu não này và như thế tránh sự xuất hiện của một tai biến mạch máu não mới.
(LE FIGARO 3/7/2017)

2/ NGÀY MAI, SỰ SỬ DỤNG NHỮNG KỸ THUẬT CẢI TIẾN
” Trên 135 đơn vị thần kinh-mạch máu (UNV) hiện có, không phải tất cả đều không có khả năng tiếp nhận tất cả các nạn nhân của tai biến mạch máu não ở gần vì không đủ chỗ. Vậy phải thực hiện những tiến bộ để cho phép những UNV này có đủ giường, nhân viên chuyên trách và tạo điều kiện cho sự ra viện sớm để đến những khoa điều trị tiếp theo (service de soins de suite)”, GS Emmanuel Touzé (CHU Caen) đã đánh giá như vậy. Các UNV này cũng phải được nối kết với nhau tốt hơn để làm dễ sự chia sẽ kiến thức, sự tham gia vào những hoạt động phòng ngừa, vào những thử nghiệm quốc tế và, sau cùng, giữ tiếp xúc với một bệnh nhân (hay thầy thuốc điều trị) bằng télémédecine, một khi ra khỏi UNV.
” Trong một tương lai gần, ta cũng có thể dự kiến rằng càng ngày càng có nhiều trung tâm có khả năng áp dụng những kỹ thuật cải tiến, như bỏ cắt cục nghẽn mạch (thrombectomie).Có một giới hạn đối với sự tiến triển. Thí dụ, chúng ta đã vượt quá giới hạn 300 thrombectomie mỗi năm ở Lille (đối với 4 triệu dân), nhưng người ta càng ở xa, tỷ lệ này càng giảm với những vùng ở Hauts-de-France, ở đây sự tiếp cận với kỹ thuật này rất kém. Việc mở những trung tâm thrombectomie mới sẽ giải quyết vấn đề đó, nhưng điều đó trước hết cần đào tạo những thầy thuốc quang tuyến thần kinh can thiệp (neuroradiologue interventionnel) khác, những thầy thuốc ngoại thần kinh (neurochirurgien), những thầy thuốc chuyên thần kinh mạch máu (neurologue vasculaire),…, điều này cần có thời gian”, GS Charlotte Cordonnier (CHRU Lille) đã ghi nhận như vậy. ” Vì thrombectomie phát triển, việc bảo vệ thần kinh của não bị thương tổn trong thời gian được tái tưới máu cũng có tính chất thời sự và ngoài ra neuroprotection là đối tượng của những công trình nghiên cứu mới”, GS Touzé nói tiếp như vậy.
” NHIỀU NGƯỜI SỐNG SÓT HƠN”
” Vì lẽ ta sẽ điều trị càng ngày càng tốt hơn các tai biến mạch máu não, nên ta cũng sẽ có càng ngày càng nhiều những người sống sót với một nguy cơ tái phát tai biến mạch máu não. Điều này càng khả dĩ khi thêm vào những yếu tố nguy cơ đã biết (chứng nghiện thuốc lá, cao huyết áp, chứng béo phì…) là những yếu tố nguy cơ mà ta không biết nhưng vừa được nhận diện, như sự ô nhiễm không khí, nhất là sự ô nhiễm những hạt mảnh (particules fines). Vậy trong tương lai nguy cơ môi trường phải được đưa vào trong những vấn đề nghiên cứu “, GS Cordonnier đã nhấn mạnh như vậy.
Thế còn những nạn nhân của tai biến mạch máu não xuất huyết (AVC hémorragique), dẫu sao cũng chiếm 15% những tại biến mạch máu não ? ” Từ 20 năm nay, chúng không nhận được một tiến bộ điều trị nào và, ngoài ra, 85% những nạn nhân hoặc là chết, hoặc là trong tình trạng phụ thuộc, một năm sau sự xuất hiện của tai biến mạch máu não. Vậy cần khẩn cấp phát triển cho chúng những kỹ thuật ngoại khoa vi xâm nhập để làm ngừng sự chảy máu và chống lại phù não nhờ tiêm một loại thuốc ở trung tâm xuất huyết. Và cũng ở lãnh vực này, sự nghiên cứu phải làm việc một cách tích cực”, GS Cordonnier đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 3/7/2017)

3/ ” ĐÚNG LÀ CÓ MỘT TRƯỚC VÀ MỘT SAU NHỮNG UNV”
Là y tá từ năm 2000 và sau khi đã phục vụ trong những khoa ngoại tim và mạch máu, huyết học và lão khoa, Céline Joly đã chọn neurologie năm 2003.
” Khi đó, đó là một khoa thần kinh cổ điển. Những nạn nhân tai biến mạch máu não mà chúng tôi tiếp nhận thường đến sau một thời gian lưu lại tại phòng hồi sức đối với những bệnh nhân đã nhận một liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse) (một thiểu số) hay sau khi đã đi qua những service khác. Khi đó trong khoa chúng tôi đã có những kinésithérapeute, những orthophoniste, những ergothérapeute,…, nhưng những trao đổi của chúng tôi với họ bị hạn chế hơn. Năm 2007, khoa thần kinh của chúng tôi đã trở thành một đơn vị thần kinh- mạch máu (unité neuro-vasculaire) và tôi thật sự đã thấy sự khác nhau ! Chúng tôi đã tiếp nhận những nạn nhân tai biến mạch máu não ở một giai đoạn sớm hơn nhiều, điều này tạo điều kiện cho quan hệ của chúng tôi với họ và gia đình của họ. Những người trong gia đình nói với chúng tôi là an tâm được biết điều đó ở khoa của chúng tôi bởi vì chúng tôi quen với công việc. Sự liên lạc với các kinésithérapeute, orthophoniste, ergothérapeute đã phát triển tốt, cho phép kíp điều trị có được một expertise soignante trong điều trị những tai biến mạch máu não. Khi họ đặt các câu hỏi cho những đồng nghiệp khác nhau về những cơ may phục hồi, sự điều trị của người thân của họ…họ có được những câu trả lời tương tự, điều này làm họ an lòng. Cũng như các aide soignante đã có thói quen kích thích các bệnh nhân nhiều lần mỗi ngày, các gia đình cũng tham gia vào sự điều trị này bởi vì chúng tôi có nhiều thời gian hơn để giải thích với họ phải làm gì. Sau cùng, mọi người đều có lợi : nạn nhân có xác suất bị các di chứng giảm, nhưng kíp điều trị cũng vậy vì đối với họ công việc có tính chất đào tạo hơn và được đền bù hơn.Từ tháng giêng, một consultation đã được thiết lập với y tá, sau khi bệnh nhân trở về nhà, để kiểm điểm tình hình những khó khăn gặp phải, những hành động được thực hiện để làm giảm những yếu tố nguy cơ (chứng nghiện thuốc lá, tăng thể trọng…) và để kiểm tra có bị xuống tinh thần không. Thầy thuốc thần kinh và một thầy thuốc phục hồi chức năng (médecin rééducateur) cùng xem lại bệnh nhân sau nhập viện, để kiểm điểm về những di chứng và sự phục hồi chức năng (rééducation).”
(LE FIGARO 3/7/2017)

4/ MỘT MINI-LABORATOIRE DI CHUYỂN ĐẾN NHÀ BỆNH NHÂN
Tiến bộ hy vọng khác : sự điều trị ngày càng sớm, thậm chí tiền viện, với một camion de secours di chuyển đến nhà bệnh nhân, được trang bị với một chụp hình ảnh không xâm nhập để biết huyết quản nào bị thương tổn, và một minilaboratoire để phân biệt giữa AVC ischémique và AVC hémorragique. Nhờ thế những bệnh nhân tai biến mạch máu não được phân bố tốt hơn về đơn vị mà tình trạng nghiêm trọng của họ phụ thuộc bởi vì không phải tất cả mọi người đều phải được điều trị ở CHU. ” Như thế, ngày mai ta có thể tưởng tượng rằng chiếc camiuon de secours này cho phép thực hiện tại chỗ chẩn đoán, tiến hành tái tưới máu động mạch não bị bít bởi một cục máu đông và thiết đặt những kỹ thuật bảo vệ thần kinh của não. Như thế ta còn hạn chế thêm nữa những nguy cơ bị những di chứng”, GS Charlotte Cordonniet đã lấy làm phấn khởi như vậy. Đó là kịch bản lý tưởng và đó là điều mà các chuyên gia hy vọng thấy nở rộ trên lãnh thổ trong 10 đến 20 năm đến !
(LE FIGARO 3/7/2017)

5/ NHỮNG TIỂU CẦU ĐƯỢC SẢN XUẤT TRONG PHỔI
Bất ngờ ! Các nhà nghiên cứu của Đại học Californie đã cho thấy rằng phổi là trung tâm sản xuất những tế bào máu, như tủy xương và lách. Ở chuột, phổi đã chế tạo 10 triệu tiểu cầu (palquette) mỗi giờ ! Những cơ quan này cũng có thể, nếu tủy xương không làm tròn chức năng, sản xuất những tế bào gốc có khả năng sinh ra những tế bào miễn dịch. ” Trong trường hợp nhiễm trùng, những tế bào gốc này có thể được dùng để bảo vệ tuyến đầu”, Emma Lefrançais, người tham gia vào những thí nghiệm này, đã nói như vậy.
(SCIENCES ET VIE 6/2017)

6/ NHỮNG TẾ BÀO GỐC CHỐNG BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC

Những con số
– 2,5 triệu bệnh nhân xơ cứng rải rác trên thế giới
– 80.000 bệnh nhân ở Pháp
– 2000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp
– 30 tuổi : tuổi trung bình lúc bệnh được khám phá.

Thử nghiệm điều trị đầu tiên có chất cơ bản là những tế bào gốc được lấy ở người bệnh có thể mở một con đường hứa hẹn để săn sóc căn bệnh thần kinh rất gây phế tật này.
Tất cả cái nhìn sẽ hướng về Gênes, nhân ngày quốc tế lần thứ năm (29/5/2013) dành cho bệnh xơ cứng rải rác, căn bệnh thần kinh vẫn còn rất bí ẩn.
Thật vậy chính từ Italie mà thử nghiệm điều trị đầu tiên dựa trên những tế bào gốc trưởng thành (cellules souches adultes) sẽ được thực hiện. Những tế bào gốc trưởng thành này là những tế bào không biệt hóa (cellules indifférenciées) có đặc điểm có thể biến hóa thành vài tế bào của cơ thể. Được mệnh danh Mesems (Mesenchymal Stem Cells for Multiple Sclerosis), thử nghiệm châu Âu này bắt đầu trong khoa của Antonio Uccelli, ở khoa Neurosciences của đại học Gênes, trước khi mở rộng ra ở Pháp, Đức, Đan Mạch, Vương quốc Anh và Tây ban nha. Công trình nghiên cứu sẽ được thực hiện ở 160 bệnh nhân, trong đó 12 người Pháp, được phân bố trong nhiều trung tâm (Lille, Marseille, Toulouse, Bordeaux). Một hy vọng điều trị to lớn đối với bệnh x cứng rải rác, căn bệnh này là nguyên nhân đâu tiên gay phế tật không do chấn thương (handicap non traumatique) ở Pháp, với hơn 80.000 người bị bệnh, trong đó 2/3 là phụ nữ, mặc dầu đặc điểm này không được giải thích.Bí mật chính mà các nhà nghiên cứu muốn làm sáng tỏ trong căn bệnh tự miễn dịch này là hiểu tại sao hệ miễn dịch của các bệnh nhân lai lồng lên để tấn công chính những tế bào thần kinh của mình. Trong trường hợp này, đó là những tế bào lympho T và B, những tế bào được cho là bảo vệ cơ thể chống lại những tấn công. Những tế bào bị kích hoạt này tiêu hủy dần dần myéline, một bao mỡ bao quanh những sợi thần kinh và đảm bảo sự lan truyền tốt của luồng thần kinh. Kết quả : một sự truyền ít tốt hơn những message phát xuất và đến não, do đó gây bại liệt.VIÊM KHÔNG CHỈ TẠI CHỖ.
” Trong 85% các trường hợp, căn bệnh khởi đầu với những cơn được đánh dấu bởi đau, rối loạn thị giác và cân bằng. Những the này, được gọi là the noi con (forme rémittente), phải phân biệt với những thể tiến triển dần dần (forme progressive), chiếm 15% những trường hợp, bệnh bắt đầu tức thời và không có cơn, GS Thibault Moreau, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh ở CHU de Dijon và chủ tịch của comité médico-scientifique của Fondation pour l’Aide à la recherche sur SEP, đã nói rõ như vậy. Tất cả các giai đoạn tính đổ đồng, ta cho rằng sau 7 năm tiến triển, 50% bệnh nhân bị trở ngại khi bước. Sau 17 năm, 50% phải dùng một canne và sau 30 năm, một bệnh nhân trên hai phải dùng xe lăn.”
Nhưng những cơ chế của xơ cứng rải rác là phức tạp, di truyền cũng như môi trường. Vào năm 2011, một công trình nghiên cứu quốc tế được công bố trong tạp chí Nature đã nhận diện 29 gène de prédisposition và những mối liên hệ dịch tễ học với sự tiêu thụ thuốc lá, nhiễm trùng cũ bởi virus d’Epstein-Barr hay sự thiếu hụt vitamine D. Trong cùng thời gian, những kiến thức cơ bản không ngừng tiến triển, mở ra những hướng mới. ” Từ lâu chúng tôi hằng tưởng rằng bệnh chỉ được giới hạn ở chất trắng, không có neurone. Hôm nay, quan điểm này đã lỗi thời “, GS Patrick Vermersch, của CHRU de Lille đã nói như vậy. Từ nay các nhà nghiên cứu biết rằng toàn bộ hệ thần kinh bị thương tổn.” Chúng tôi cũng nghĩ rằng quá trình viêm chỉ xảy ra tại chỗ. Thế mà những công trình nghiên cứu mới đây, tách riêng những follicule được gọi là lymphoide ở màng não, đã cho thấy rằng viêm vừa khu tru vừa lan tỏa”, GS Vermersch nói tiếp. Cũng vậy, các nhà nghiên cứu đã xác lập rằng những astrocyte (những tế bào thần kinh khác với những neurone) và những tế bào của microglie đóng một vài trò tích cực. Chúng tiết chất cytokine, có một tác dụng có hại lên các neurone. ” Điều vẫn không được biết rõ, đó là những cơ chế của sự kích hoạt này”, GS Vermersch đã giải thích như vậy.
Hôm nay có nhiều loại điều trị : những interféron bêta hay acétate de glatiramère để cố ngăn chặn các cơn ; những “immunomodulateur” làm giảm hoạt động của hệ miễn dịch và do đó giảm những tấn công lên hệ thần kinh ; những “immunosupresseur”, đối với những thể ác tính và tiến triển nhất. ” Bất hạnh thay, không một loại thuốc nào được sử dụng có tác đúng trực tiếp lên myéline. Dẫu sao chúng tôi vẫn có những lý do đúng đắn để tin rằng việc cho sớm những loại thuốc mà chúng tôi hiện có nhiên hậu có thể có một tác dụng bảo vệ thần kinh và do đó làm chậm sự tiến triển của phế tật”, GS Vermersch nói tiếp.
MỘT KHÁNG THỂ CÓ THỂ GIỚI HẠN SỰ TIẾN TRIỂN CỦA PHẾ TẬT
Rất nhiều chất khác hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng (hơn 60), vài chất đã đạt giai đoạn 3, giai đoạn tiến triển nhất trong số những trắc nghiệm trên người. ” Ít nhất 3 chất đã được thương mãi hóa năm 2014, GS Moreau đã nói rõ như vậy. Chủ yếu đó là những dạng uống có lẽ sẽ thay thế những điều trị cơn.” Một chất khác, alemtuzumab, đã được sử dụng để điều trị vài bệnh bạch cầu, cũng rất được chờ đợi. ” Đó là một kháng thể đơn dòng tác dụng đồng thời lên các tế bào lympho B và T mang một kháng nguyên đặc hiệu. Nó đã cho những kết quả đáng phấn khởi bởi vì đã tỏ ra rất mạnh để phong bế các cơn bộc phát nhưng cũng hạn chế sự tiến triển của phế tật”, nhà chuyên gia nói tiếp. Một chất khác đang còn thí nghiệm, anti-LINGO-1, có thể tác dụng trực tiếp lên cơ chế sửa chữa myéline. ” Những thử nghiệm sơ bộ được tiến hành trên động vật là đầy hứa hẹn”, GS Vermersch đã đảm bảo như vậy. Hướng nghiên cứu khác, vẫn luôn luôn ở chuột, những kích thích tố nam. Một công trình nghiên cứu của CNRS được công bố vào tháng giêng năm 2013 trong tạp chí Brain đã cho thấy rằng testostérone có thể gây nên sự tái sinh của các tế bào, những oligodendrocyte, kích thích remyélinisation.
MỘT LOẠI THUỐC HIỆU QUẢ NHƯNG CÓ THỂ NGUY HIỂM
Nhưng các chuyên gia phải đương đầu với một vấn đề lớn : mặc dầu phạm vi của những điều trị bệnh xơ cứng rải rác đang được mở rộng, “việc sử dụng chúng cũng trở nên phức tạp hơn, buộc phải cân nhắc cán cân giữa những lợi ích và những nguy cơ”, GS Moreau đã nhấn mạnh như vậy. Thí dụ với một thuốc đã có từ năm 2007, natalizumab (Tysabri, laboratoires Biogen và Elan), được sử dụng trong trường hợp thất bại của những immunomodulateur. Mặc dầu rất hiệu quả nhưng chúng cũng tỏ ra đáng sợ. Thật vậy được ghi vào danh sách những thuốc cần theo dõi của tạp chí độc lập Prescrire, nó có thể, ở vài người mang những kháng thể chống lại virus được gọi là JC, hoặc khoảng một bệnh nhân trên hai, gây nên một biến cứng vô cùng nghiêm trọng : encéphalite LEMP (leucoencéphalite multifocale progressive), xuất hiện ở khoảng một bệnh nhân được điều trị trên 1000.
Trong khung cảnh này, thử nghiệm mới về những tế bào gốc mang lại một hy vọng thật sự. ” Chúng tôi sẽ lấy những tế bào gốc trung mô trong tủy xương của các bệnh nhân. Rồi chúng tôi sẽ cấy chúng để chúng tăng sinh trước khi tiêm trở lại vào mỗi bệnh nhân bằng đường tĩnh mạch với một mũi tiêm duy nhất. Ta biết rằng những tế bào này có tính chất vừa chống viêm vừa có thể điều biến tính miễn dịch. Có lẽ chúng cũng bảo vệ não ?”, GS Michel Clanet, trưởng khoa thần kinh của CHU de Toulouse, tiến hành cho Pháp thử nghiệm tiền phong này, đã hy vọng như vậy. Nói một cách khác, các nhà nghiên cứu hy vọng rằng những tế bào gốc sẽ có thể sữa chữa trực tiếp myéline thiếu và phong bế tiến triển của phế tật. Thử nghiệm dự kiến đưa vào những bệnh nhân bị những thể ác tính và đề kháng với những điều trị thông thường. Những kết quả đầu tiên từ nay đến một hay hai năm nữa.
Ghi chú :
– Myéline : chất được cấu tạo chủ yếu bởi lipide, bao quanh những sợi trục (axone) của các tế bào thần kinh. Sự toàn vẹn của bao này đảm bảo sự lan truyền tốt của luồng thần kinh.
– Những tế bào gốc trung mô (CSM : cellules souches mésenchymateuses). Đó là những tế bào gốc trưởng thành có thể được tách riêng trong những mô khác nhau (tủy xương, mỡ). Chúng có thể sản xuất một số giới hạn những loại tế bào biệt hóa khác nhau và được gọi là đa năng (multipotent).
– Oligodendrocyte. Những tế bào của névroglie interstitielle (mô nâng đỡ của các neurone), đóng một vai trò thiết yếu trong sự tạo thành myéline.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2013)

7/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : BAO BẢO VỆ SỢI THẦN KINH BỊ TẤN CÔNG.Bệnh xơ cứng rải rác gây thương tổn những neurone, những tế bào của hệ thần kinh trung ương, bằng cách phá hủy myéline, màng sinh học tách riêng và bảo vệ những sợi thần kinh. Được cấu tạo bởi mỡ và protéine, bao bảo vệ này, vì những lý do không được biết rõ, là nơi xảy ra một phản ứng viêm do sự tấn công bởi những tế bào miễn dịch của chính bệnh nhân, những tế bào lympho B và T. Sự phá hủy này dẫn đến một sự dẫn truyền luồng thần kinh ít tốt hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2013)

8/ HEN PHẾ QUẢN XUẤT HIỆN VỚI CƠN GIÔNGNhững nhiễu loạn không khí có thể tạo điều kiện cho sự phát khởi những trận dịch hen phế quản. Đó ít nhất là điều được gợi ý bởi nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện trong hai thập niên qua ở châu Âu, Bắc Mỹ và Úc. Trong thời kỳ dông bão mạnh, và đặc biệt vào tháng sáu và tháng bảy, đã được báo cáo những đợt liên tiếp khó thở và co thắt phế quản ở những bệnh nhân hen phế quản. Một sự nhờ đến thường xuyên hơn những điều trị bằng hít thuốc cũng như một sự gia tăng mạnh (từ 30 đến 70%) những trường hợp nhập viện ở khoa cấp cứu cũng đã được quan sát. Những cơn bộc phát hen phế quản này được liên kết với sự hiện diện và sự phân tán trong không khí những phấn hoa và nhữngnhững bào tử mốc (spore de moississures) (Cladosporium, Altermaria và nhất là Didymella). Nhưng những yếu tố khác có thể can thiệp, như sự ô nhiễm. Những người hen phế quản phải xét đến nguy cơ này.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2013)

9/ INCONTINENCE ANALE (SÓN ỈA) : MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI
GS Michot, thầy thuốc ngoại tiêu hóa, GS Boyer, immunologiste, CHU và đại học Rouen-Normandie, giải thích lợi ích của liệu pháp tế bào để điều trị phế tật này.
Hỏi : Bắt đầu từ mức độ phế tật (handicap) nào, chứng ỉa són (incontinence anale) đòi hỏi một điều trị y khoa ?
GS Michot : Chúng tôi đo mức độ nghiêm trọng của phế tật nhờ những score clinique, nhưng trên thực hành một điều trị là cần thiết khi chứng ỉa són biến đổi chất lượng của đời sống gia đình, xã hội hay nghề nghiệp từ ít nhất 3 tháng hay 6 tháng sau một cuộc sinh đẻ có biến chứng.
Hỏi : Những yếu tố nguy cơ và những nguyên nhân của phế tật này ?
GS Michot : Sự sinh đẻ là một nguyên nhân quan trọng, được làm dễ bởi những vết rách của sàn hội âm hay sự sử dụng forceps gây nên kéo giãn những dây thần kinh hay rách cơ vòng. Những nguyên nhân thường gặp khác là thần kinh, do kéo giãn hay liệt những dây thần kinh của sàn hội âm (paraplégie, bệnh đái đường, xơ cứng rải rác), hay do vết thương của cơ vòng sau phẫu thuật trực tràng vì ung thư, hay phẫu thuật hậu môn vì áp xe, fistule anale…
Hỏi : Tần số của chứng ỉa són ?
GS Michot : Theo những công trình nghiên cứu dịch tễ học lớn, sự xuất hiện ít nhất một lần mỗi tháng ảnh hưởng 8 đến 12% population occidentale. Ở Pháp, ở những người trên 45 tuổi, 2 triệu người bị chứng ỉa són trong đó một nửa gần như mỗi ngày hay mỗi tuần. Sau 65 tuổi, tần số còn gia tăng, nhất là ở những người sống trong nhà dưỡng lão.
Hỏi : Những điều trị và những biện pháp nào thường được thực hiện để hạn chế những hậu quả ? Với tính hiệu quả nào ?
GS Michot : Ta bắt đầu bằng những biện pháp vệ sinh-ăn uống, liên kết với các loại thuốc. Thầy thuốc ngoại khoa chỉ can thiệp trong tình huống thất bại, ở khoảng 1/3 bệnh nhân. Kỹ thuật vẫn được thực hiện nhiều nhất là neuromodulation sacrée : một điện cực, nối với một pacemaker được đặt dưới da, được đặt tiếp xúc với những dây thần kinh điều khiển cơ vòng. Những dầu sao điều trị này cũng gò bó, và không hiệu quả ở 30% những bệnh nhân.
Hỏi : Nguyên tắc liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) là gì và từ khi nào ta nhờ đến nó ?
GS Boyer : Những cơ bình thường chứa những tế bào gốc trưởng thành (được gọi là cellules satellites) cho phép sửa chữa một cách tự nhiên những thương tổn cơ sau claquage hay rách cơ. Liệu pháp tế bào nhằm tách riêng những tế bào này từ một mảnh cơ nhỏ dưới 1 g mà thầy thuốc ngoại khoa lấy dưới gây tê, ngoại trú, thí dụ ở đùi. Những tế bào gốc được tăng sinh trong phòng thí nghiệm, trong 3 tuần. Phải thu lấy ít nhất 120 triệu tế bào gốc : khi đó, đó là những myoblaste, những tế bào chức năng tương lai. Những tế bào này là autologue, nghĩa là phát xuất từ chính bệnh nhân chứ không phải từ một người hiến, điều này tránh mọi phản ứng thải bỏ. Sau khi tiêm vào lại trong cơ vòng hậu môn bị hỏng (với siêu âm và gây tê tại chỗ), các myoblaste hợp nhất và tái tạo một cơ vòng bình thường. Sự sử dụng đầu tiên những myoblaste autologue trong incontinence anale có từ 2010 với, đối với đại đa số những người được điều trị, một thành công lâu bền.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu của kíp của ông khác với những công trình trước ở chỗ nào ?
GS Boyer : Công trình nghiên cứu của chúng tôi ở 24 phụ nữ nạn nhân của một chấn thương sản khoa là một première mondiale vì nó đã được thực hiện mù (en aveugle), điều này trước đây đã chưa từng được thực hiện. Đó là méthodologie de référence để hợp thức hóa một kỹ thuật điều trị.
Hỏi : Những kết quả của ông là gì ?
GS Boyer : Với 4 năm nhìn lại, 60% những kết quả tốt lúc một năm (các phụ nữ không còn bị són ỉa nữa), được duy trì với thời gian. Cùng kết quả ở những bệnh nhân của nhóm placebo được dùng làm chứng và ở những bệnh nhân này cùng kỹ thuật được áp dụng sau một năm theo dõi.
Hỏi : Để phương pháp này được phổ biến còn thiếu những gì ?
GS Boyer : Phải có một công trình nghiên cứu quy mô lớn mở rộng cho những kíp khác của Pháp, cần những tài trợ và rằng điều trị này có thể được bồi hoàn.
(PARIS MATCH 27/7-2/8/2017)

10/ MỘT LOẠI THUỐC ĐỂ LÀM GIẢM XUẤT HUYẾT HẬU SẢN
Mỗi năm, trong những nước nghèo, 100.000 phụ nữ chết vì xuất huyết sau khi sinh. Cơ chế chịu trách nhiệm được gọi là fibrinolyse (tan sợi huyết), là sự tan nhanh của các cục máu đông. Cách nay 50 năm, những nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chế tạo một chất hóa học, acide tranexamique có tác dụng ức chế fibrinolyse. Nhưng các nhà sản khoa thời đó chẳng dành một sự chú ý nào. Một công trình nghiên cứu quốc tế, dược tiến hành trong 21 nước ở 20.000 phụ nữ và được điều hợp bởi Trường vệ sinh và y khoa nhiệt đới ở Luân Đôn, vừa cho thấy rằng loại thuốc này làm giảm những xuất huyết và những trường hợp tử vong ít nhất 1/3 khi ngoài những điều trị thông thường nó được sử dụng trong 3 giờ đầu.Từ nay, OMS khuyến nghị sử dụng nó khi những biện pháp cổ điển không đủ.
(PARIS MATCH 10/5-17/5/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/8/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 442 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 530 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s