Thời sự y học số 473 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ QUÁ NHIỀU NGƯỜI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ VÌ MỘT GIẢM NĂNG TUYẾN GIÁP (HYPOTHYROIDIE)
45.000 can thiệp ngoại khoa trên tuyến giáp mỗi năm
Một phần trong số 3 triệu người Pháp bị giảm năng tuyến giáp không nhất thiết cần điều trị như Levothyrox.THYROIDE. ” Tiếp theo sau sự thay đổi formulation của điều trị (Levothyrox), ít nhất 300.000 người có những rối loạn (mệt, đau đầu, mất ngủ, chóng mặt, đau, rụng tóc…) có hoặc không bilan bất thường”, GS Frédéric Sebag, trưởng khoa ngoại nội tiết của hôpital de La Conception ở Marseille đã nhắc lại như vậy. Nhưng sự ngạc nhiên thật sự đến từ số những người Pháp dùng hormone thyroidienne de synthèse : 3 triệu so với chỉ 2 triệu năm 2006 ! ” Đó là nhiều hơn điều mà ta dự kiến, đối với GS Franoise Borson Chazot, trưởng khoa nội tiết và đái đường (CHU de Lyon). Một số người Pháp nào đó có lẽ được điều trị quá mức.” Lý do ? Những điều trị đôi khi được bắt đầu mà không định lượng trước TSH (thyréostimuline) hay với TSH quá cao vì những lý do khác.
Bình thường, não thùy (trong não) gia tăng sự tiết TSH để chỉ huy tuyến giáp sản xuất nhiều hormone thyroidienne hơn, khi sự sản xuất nó yếu đi. ” Vì các phòng xét nghiệm xem những nồng độ nằm giữa 0,4 và 4 mUI là những trị số bình thường, nên một điều trị thường được thực hiện khi nồng độ này vượt quá 5 mUI/l. Thật vậy những trị số này biểu thị chuẩn (norme), nhưng chỉ đối với 95% những người Pháp. Những người tăng thể trọng có thể có một TSH lên đến 5-6 mUI/l mà điều đó không phải là bất thường, bởi vì đó là một cơ chế phòng vệ được thiết đặt bởi tuyến giáp. Cũng vậy, về mặt sinh lý, TSH gia tăng với tuổi tác, và, khoảng 80 tuổi, không phải là bất thường khi có một TSH lên đến 6 hoặc 7 mUI/l : ngay cả điều đó có thể một yếu tố tuổi thọ ! Những người mang một bướu cổ (goitre) hay một nodule nhưng không có loạn năng tuyến giáp liên kết cũng không cần hormone thyroidienne thay thế. Sử dụng một cách không được biện minh, những kích thích tố thay thế tuyến giáp này làm chuyển qua tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) và do đó những rối loạn nhịp tim, GS Borson Chazot đã nhấn mạnh như vậy. Vì lẽ những bất tiện của giảm năng tuyến giáp chỉ xuất hiện khi TSH trên 10 mUI/l, nên không cần điều trị khi nồng độ giữa 5 và 10 mUI/l và không có triệu chứng.
Sau cùng, mặc dầu nguyên nhân chính của giảm năng tuyến giáp là tự miễn dịch (autoimmune), sự hiện diện của các anticorps antithyroidiens cũng không biện minh rằng ta phải cho những kích thích tố tổng hợp. ” Những kháng thể này, khi chúng được tìm kiếm, hiện diện ở 10 đến 15% phụ nữ. Nhưng nhịp độ chuyển sang tăng năng tuyến giáp ở những người mang những kháng thể này chỉ từ 1 đến 2% mỗi năm. Chừng nào chỉ có những kháng thể dương, nhưng một TSH bình thường và không có triệu chứng, sự theo dõi cũng đủ “, GS Borson Chazot đã nhấn mạnh như vậy.
Đối với BS Pierre Nys, nhà nội tiết, dinh dưỡng học và tác giả của Mes petites recettes magiques spécial thyroide : cent recettes pour protéger votre thyroide et rééquilibrer son fonctionnement, ” những người có nguy cơ này nhưng không nhất thiết cần một điều trị tức thời, có thể sử dụng những thức ăn giàu iode cần thiết cho sự sản xuất những kích thích tố tuyến giáp (cá, tôm của và algues). Cũng hữu ích, những thức ăn giàu sélénium (noix du Brésil, cá, tôm cua). Ngược lại, mặc dầu choux và tapioca nổi tiếng xấu đối với tuyển giáp, phải tiêu thụ nhiều mới quan sát thay một ảnh hưởng có hại”.
Sau một sẩy thai hay một surcharge idodée do thực hiện một scanner, những nồng độ của TSH có thể bị biến đổi. Trước khi nhanh chóng bắt đầu một điều trị, sự khôn ngoan muốn rằng chờ đợi và làm lại một kiểm tra. Vài người cũng có thể bị giảm năng tuyến giáp bởi vì họ dùng một loại thuốc có một ảnh hưởng lên tuyến giáp : đó là trường hợp những pansement bétadiné (do sự hiện diện của iode quá thừa), hay amiodarone được kê đơn trong rối loạn nhịp, hay lithium trong những rối loạn lưỡng cực, hay những liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) và miễn dịch liệu pháp phá hủy những vi huyết quản của tuyến giáp hay tấn công tuyến. Khi những điều trị này chịu trách nhiệm một bất túc giáp trạng, dĩ nhiên phải bù bằng những kích thích tố tổng hợp, nhưng chỉ chừng nào giảm năng tuyến giáp tồn tại.
Dù chúng được sử dụng tạm thời hay suốt đời, những kích thích tố tuyến giáp tổng hợp được chịu đựng tốt, với điều kiện đạt được sự cân bằng và duy trì nó. Vậy định lượng đều đặn TSH là hữu ích. ” Phải làm điều đó trong trường hợp thay đổi formulation du traitement hay biến đổi sự kê đơn của thuốc có ảnh hưởng lên tuyến giáp. Sau cùng, đó là cần thiết trong trường hợp sử dụng đồng thời một điều trị có thể cản trở sự hấp thụ của các kích thích tố tuyến giáp thay thế “, GS Borson Chazot đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 16/4/2018)

2/ ÍT NHỮNG TRƯỜNG HỢP GIẢM NĂNG TUYẾN GIÁP HƠN SAU PHẪU THUẬT
Trong vài trường hợp, những rối loạn sản xuất kích thích tố giáp trạng có thể cần một can thiệp ngoại khoa. Bất tiện là một giảm năng tuyến giáp có thể xuất hiện sau một thyroidectomie. Tin vui, đó là những tiến bộ to lớn đã được thực hiện về mặt này. ” Những chỉ định ngoại khoa được chọn lọc hơn xưa, GS Frédéric Sebag (bệnh viện La Conception ở Marseille) đã xác nhận như vậy. Sự nghi ngờ hay sự chắc chắn đứng trước một ung thư tuyến giáp là một chỉ định. Thế mà, nhờ những bilan tiền phẫu và nhất là chọc dò được hướng dẫn bởi siêu âm (ponctions échoguidées), những nodule ung thư ngày nay được phân biệt với những nodule hiền tính dễ dàng hơn. Elastographie, phân tích tính cứng (dureté) của các nodule, cũng cho phép phát hiện chúng (những nodule ung thư là cứng nhất). Trong consultation de chirurgie de la thyroide của chúng tôi, chúng tôi tiếp nhận khoảng 3 nghìn bệnh nhân mỗi năm : nhưng sau bilan, 1/3 sẽ được mổ, trong khi đó 2/3 kia được theo dõi.”
Và khi phẫu thuật được quyết định, nó dẫn đến giảm năng tuyến giáp chỉ trong trường hợp cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp (trong 2/3 các trường hợp). ” Trong những trường hợp còn lại, có thể cắt bỏ một nửa tuyến giáp, điều này cho phép chức năng tuyến giáp vẫn bình thường 7 trường hợp trên 10 “, GS Sebag đã xác định như vậy.
Bên cạnh những ung thư của tuyến giáp, vài tăng năng tuyến giáp cũng cần một can thiệp ngoại khoa. Đó là trường hợp của những nodule hypersécrétant hay hyperthyroidie diffuse de Basedow, nhưng chỉ khi điều trị nội khoa không hiệu quả hay dung nạp kém. Sau cùng, những goitre lớn hay những goitre plongeant với ảnh hưởng cơ học, có thể cần cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp, nhưng đó không phải là đa số. ” Vì tất cả những lý do này, phẫu thuật tuyến giáp thụt lùi rõ rệt, GS Sebag lấy làm vui sướng. Hôm nay, ngoại khoa tuyến giáp còn xoay quanh 45.000 can thiệp mỗi năm, nhưng, khi chọn lọc tốt hơn những u nhỏ dưới 1 cm, không nghiêm trọng mà sự cắt bỏ không mang lại một lợi ích nào, con số này còn có thể giảm trong những năm đến.”
RADIOFREQUENCE
Ngoài sự chọn lọc các bệnh nhân, những kỹ thuật trở nên tinh tế hơn. Đối với những nodule không phải ung thư nhưng chịu trách nhiệm một loạn năng của tuyến giáp hay đối với những nodule to lớn, từ nay có một giải pháp thay thế ngoại khoa : ” đó là radiofréquence nhằm sưởi nóng nodule lên khoảng 60-70 độ C để gây nên một sự đông của các huyết quản và, do đó, có thể, trong 6 đến 12 tháng, làm giảm thể tích của nodule đến 80%. Vì nhu mô lành mạnh quanh nodule được gìn giữ, nên gần như không còn giảm năng tuyến giáp sau đó.
(LE FIGARO 16/4/2018)

3/ ” ĐIỀU TRỊ DẠ DÀY CỦA TÔI ĐÃ LÀM RỐI LOẠN TẤT CẢ…”
Đối với Simone Perrin, 79 tuổi, sự xuất hiện của một giảm năng tuyến giáp không phải là một ngạc nhiên. ” Tôi đã được theo dõi từ nhiều năm nay vì một nodule khoảng 3 cm ở tuyến giáp. Nhân dịp một thăm khám mới, người ta đã khám phá ở nơi tôi một nodule mới, nhỏ hơn (13 mm), nhưng ung thư nodule đó ! Do đó một cắt bỏ tuyến giáp đã được quyết định : tôi càng e sợ bao nhiêu thì tôi càng ngạc nhiên khi mọi chuyện xảy ra êm đẹp bấy nhiêu. Nếu tôi không nói điều đó, những người thân của tôi không đoán ra rằng tôi không còn tuyến giáp nữa ! Dĩ nhiên, thầy thuốc nội tiết kê đơn cho tôi những kích thích tố tuyến giáp thay thế. Tôi đã không cảm thấy triệu chứng nào : đối với tôi, mọi chuyện là bình thường. Nhưng khi khám kiểm tra, thầy thuốc nội tiết đã ngạc nhiên khi thấy nồng độ TSH đã tăng lên quá nhiều !
MAGNESIUM THỦ PHẠM
Sau hỏi bệnh cặn kẽ, bác sĩ chuyên khoa sau cùng đã tìm ra thủ phạm : vì bị vấn đề hồi lưu acide của dạ dày, tôi dùng một loại thuốc ức chế bơm proton (inhibiteur de la pompe à protons) và chính loại thuốc này đã ngăn cản sự hấp thụ của những kích thích tố tuyến giáp. Vậy điều trị của tôi đã được biến đổi để tránh sự tương tác này và tôi phải được xét nghiệm lại máu trong vài tuần để đảm bảo rằng mọi chuyện đều tốt đẹp.
Thầy thuốc chuyên khoa nội tiết đã nhắc tôi đừng dùng một loại thuốc mới nào, kể cả những chất khoáng, nếu không nói về điều đó với thầy thuốc.” Đối với BS Pierre Nys, thầy thuốc nội tiết, ” ta nhất thiết không nghĩ đến điều đó, nhưng dùng sợi quá nhiều có thể cản trở sự hấp thụ của các hormone. Phải dùng hormone trước khi bắt đầu bữa ăn sáng và hoãn lại vài giờ những thức ăn giàu sợi.” Đối với Nathalie Perrin, 55 tuổi, vấn đề đến từ magnésium. ” Vì bị thiểu năng tuyến giáp từ nhiều năm, tôi dùng những kích thích tố thay thế. Vào cuối mùa đông 2016-2017, vì rất mệt, tôi đã quyết định một đợt chữa với magnésium. Thay vì khá hơn, tôi càng ngày càng xấu đi. Vào mùa xuân xuất hiện vụ Lévothyrox và đối với tôi thủ phạm đã được tìm thấy : sự thay đổi công thức thuốc. Thật vậy, thầy thuốc nội tiết của tôi đã tìm thấy rằng việc dùng magnésium đồng thời với Levothyrox ảnh hưởng mạnh sự hấp thụ của thuốc : đó cũng như thể là tôi bị giảm năng tuyến giáp.”
(LE FIGARO 16/4/2018)

4/ TRƯỜNG HỢP THAI NGHÉN
Ở người mẹ tương lai, TSH (thyréostimuline) giảm vào giai đoạn đầu của thai nghén bởi vì sản phụ tiết những kích thích tố (gonadotropine humaine hay HCG), cũng có khả năng kích thích tuyến giáp. Nhưng điều đó bình thường trở lại vào tam cá nguyệt thứ hai, khi HCG hạ, vậy không liên quan gì với một khởi đầu của tăng năng tuyến giáp. Vì các kích thích tố tuyến giáp của người mẹ là cần thiết cho sự phát triển tốt của thai nhi, phải tuyệt đối tránh giảm năng tuyến giáp, khi thai nhi chưa có một tuyến giáp hoạt động. Trong trường hợp tuyến giáp hơi lớn, với các kháng thể chống lại nó, không cần phải điều trị, chừng nào TSH vẫn bình thường. Nhưng trong trường hợp thai nghén, cần biết rằng các nhu cầu hormone thyroidienne gia tăng 30 đến 50%, có một nguy cơ thật sự mất bù bệnh viêm tuyến giáp tiềm tàng này và vì vậy có thể cần phải điều trị, ít nhất tạm thời. ” Ngoài ra, một kiểm tra đều đặn TSH được dự kiến đối với tất cả các phụ nữ nguy cơ “, GS Françoise Borson-Chazot (CHU Lyon) đã ghi nhận như vậy.
(LE FIGARO 16/4/2018)

5/ UNG THƯ PHỔI : NHỮNG PHỤ NỮ DƯỜNG NHƯ DỄ BỊ THƯƠNG TỔN HƠN
Những người đàn bà hút thuốc có nguy cơ phát triển bệnh còn nhiều hơn những người đàn ông hút thuốc.TABAC. Những người đàn ông và đàn bà không bình đẳng trước ung thư phổi. Dẫu sao đó là điều được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu được công bố cuối tháng 5/2008 bởi New England Journal of Medicine. Theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, trong 20 năm qua, số những trường hợp mới ung thư phổi đã giảm ở những người đàn ông và đàn bà tuổi từ 30 đến 54. Nhưng sự hạ thap này, được liên kết một cách không chối cãi với sự giảm chứng nghiện thuốc lá, ở đàn ông đã đột ngột hơn nhiều.
Kết quả, ở những phụ nữ caucase và hispanique, được sinh từ giữa những năm 1960, tỷ lệ ung thư phổi từ nay vượt quá tỷ lệ của những người đàn ông. Tuy vậy, mặc dầu tỷ lệ những người đàn bà hút thuốc đã gia tăng nhiều trong dân chúng, nó đã không bao giờ vượt quá tỷ lệ của những người đàn ông hút thuốc. ” Ngoài ra, số trung bình những điếu thuốc được hút mỗi ngày tiếp tục ít cao hơn ở những người đàn bà “, những tác giả của công trình nghiên cứu đã ghi chú như vậy. Tuy nhiên, lượng của những điếu thuốc được hút dường như không phải là một tiêu chuẩn tốt để so sánh những nguy cơ liên kết với chứng nghiện thuốc lá. ” Khi ta làm những test de dépendance, như test de Fagerstrom, các phụ nữ có cùng mức phụ thuộc như những người đàn ông đối với một lượng điếu thuốc được hút thấp hơn. Điều này có nghĩa rằng họ hít nhiều độc chất hơn những người đàn ông để có được mức nicotine mà họ cần “, bác sĩ Ivan Berlin, pharmacologue ở bệnh viện la Pitié-Salpêtrière ở Paris và tổng thư ký của Société française de tabacologie, đã giải thích như vậy.
Một sự khác nhau có thể được giải thích nhất là bởi statut hormonal của các phụ nữ. Thật vậy, tỷ lệ oestroprogastatif gia tăng chuyển hóa của nicotine. Ở những phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ, nicotine được thải nhanh hơn. Tác dụng này của các oestrogène đã được chứng minh một cách hoàn hảo, ở những phụ nữ có thai, trong một công trình nghiên cứu được công bố cuối 2017 trong Journal of Studies on Alcohol and Drugs. Những phụ nữ có thai hút ít điếu thuốc hơn nhóm chứng nhưng có một nồng độ cotinine trong nước dãi (một chất chỉ dấu của nồng độ nicotine) cũng tăng cao. Sự hít mạnh hơn này có thể giải thích một đặc điểm khác của ung thư phổi ở các phụ nữ : định vị của chúng. ” Đó là những ung thư thường ở xa trong phổi hơn. Ít gần khí quản hơn so với đàn ông “, GS Julien Mazières, pneumo-oncologue ở CHU de Toulouse đã giải thích như vậy. Đối với thầy thuốc chuyên khoa này, ung thư phổi của phụ nữ có một cách không chối cãi được những đặc thù. ” Ngoài định vị của chúng, về phương diện mô học đó là những khối u khác với những khối u của người đàn ông “, GS Julien Mazières đã xác nhận như vậy.
Vấn đề còn lại là phải giải thích tại sao các phụ nữ dường như chịu nguy cơ ung thư phổi hơn. ” Nhiều công trình nghiên cứu gợi ý một thiếu sót sửa chữa của ADN, làm cho các phụ nữ dễ bị thương tổn hơn đối với thuốc lá nhưng cũng đối với những độc chất khác được gặp trong môi trường nghề nghiệp. Ngoài ra, những công trình nghiên cứu khác khiến nghĩ rằng những tác dụng của thuốc lá có thể được gia tăng bởi các oestrogène “, GS Julien Mazières đã nói như vậy.
Bởi vì, như thầy thuốc chuyên gia đã nhắc lại điều đó, chính thuốc lá vẫn là kẻ thù tệ hại nhất của phổi. Cũng như đối với đàn ông, sự xuất hiện của một ung thư phế quản phổi ở các phụ nữ tùy thuộc trước hết vào thời gian của chứng nghiện thuốc lá, số điếu thuốc được hút mỗi ngày và cũng tùy theo tuổi lúc hút điếu đầu tiên. ” Sau đó mới thêm vào những giả thuyết khiến nghĩ rằng phụ nữ dễ bị thương tổn hơn”, Julien Mazières nói tiếp.
Một tính dễ bị thương tổn (vulnérabilité) có thể là một lý lẽ bổ sung để ngừng hút thuốc khi ta là một người đàn bà. ” Bởi vì bài học chính của công trình nghiên cứu của New England Journal of Medicine là như sau : sự sụt giảm của ung thư ở những người trẻ, đàn ông và đàn bà, trực tiếp liên kết với một sự giảm của chúng nghiện thuốc lá”, GS Bertrand Dautzenberg, pneumologue và chủ tịch của Paris sans tabac, đã nhấn mạnh như vậy.
Và có phải nhắc lại điều đó không ? Ung thư phổi từ nay là ung thư thứ hai thường gặp nhất ở phụ nữ. Thế mà trên mặt trận chống thuốc lá, những phụ nữ trẻ nhất là khó thuyết phục họ nhất. Thật vậy, trong khi số những người hút thuốc giảm ở những người đàn ông từ 18 đến 24 tuổi, nó vẫn ổn định ở những phụ nữ trẻ cùng lứa tuổi. Theo những dữ kiện được công bố bởi Santé publique France nhan journée mondiale sans tabac, tỷ lệ các phụ nữ hút mỗi ngày là 29%.
(LE FIGARO 11/6/2018)

6/ NÃO CÓ THỂ CẢM THẤY SỰ ĐAU ĐỚN.Màng nuôi (pie-mère), cấu trúc mảnh phủ bề mặt của hệ thần kinh trung ương, nhạy cảm hơn nhiều điều mà ta tưởng.
NEUROLOGIE. Đã 70 năm rồi ta hằng tưởng rằng não, vì không có những tận cùng thần kinh, hoàn toàn vô cảm với sự đau đớn. Giáo điều vừa được xét lại một phần bởi các nhà nghiên cứu Pháp (CHU de Nice/Inserm/bệnh viện Sainte-Anne, Paris). Họ đã khám phá rằng màng nuôi, cấu trúc mảnh phủ bề mặt của hệ thần kinh trung ương, đúng là nhạy cảm với đau đớn. Ngoài ra, chính lúc thực hiện những phẫu thuật não trong đó bệnh nhân thức tỉnh (chirurgie éveillée du cerveau) mà các nhà khoa học đã thực hiện khám phá gây kinh ngạc. Những cuộc mổ này, trong đó bệnh nhân không được gây mê, cho phép lấy đi những khối u não đồng thời gìn giữ những chức năng nhận thức (fonction cognitive) thiết yếu, bệnh nhân trả lời những câu hỏi trong khi phẫu thuật viên xẻ. Thế mà những trắc nghiệm giữa 2010 và 2017 trên 53 bệnh nhân, được mổ để lấy đi một khối u não, đã cho phép xác lập rằng vài can thiệp lên màng nuôi phát khởi những đau cấp tính. Ngoài tầm quan trọng của nó trong khung cảnh của những chirurgie éveillée du cerveau, Sự xét lại về sự nhất trí y khoa này có thể mở những triển vọng mới trong sự thông hiểu và điều trị những migraine, các tác giả đã xác nhận như vậy.
(SCIENCES & AVENIR 6/2018)

7/ PAPILLOMAVIRUS HUMAIN : NHỮNG NGUY CƠ VÀ PHÒNG NGỪA.
GS Cécile Badoual, anatomopathologiste, bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, Paris, đánh giá rằng nhiều ung thư do papillomavirus có thể tránh được và do đó một sự tiêm chủng rộng rãi hơn là cần thiết.
Hỏi : Những nhiễm trùng bởi papillomavirus humain (HPV) có thường gặp không ?
GS Cécile Badoual : HPV là những virus rất lây nhiễm. Vào lúc bắt đầu đời sống tình dục, 80% toàn dân bị lây nhiễm, hai giới tính bằng nhau. Đó là nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục đầu tiên. Vài HPV hiện diện trên các niêm mạc (âm đạo, âm hộ, cổ tử cung, hậu môn, dương vật, đáy họng) có thể nguy hiểm, nguồn gốc của những ung thư. Những HPV khác, nằm ở da, nguồn gốc của những condylome, papillome hay verrues, không nguy hiểm.
Hỏi : Những nhiễm trùng này phát triển như thế nào ?
GS Cécile Badoual : Hơn 120 loại HPV hiện hữu. Phần lớn không nguy hiểm. Chỉ khoảng 15 được gọi là có nguy cơ cao (HR : haut risque) bởi vì chúng gây nên những ung thư, nhất là HPV 16 và 18 (nguyên nhân của 70% những trường hợp). Những nhiễm trùng bởi HPV à HR vẫn 8 đến 9 trường hợp trên 10 không hậu quả : virus được loại bỏ trong 3 đến 24 tháng bởi hệ miễn dịch. Trong 10 đến 20% các trường hợp, chúng đi vào trong các tế bào, ở đó virus vẫn tù hãm trong những thập niên : chính trong bối cảnh này mà một ung thư có thể xuất hiện. Một sự giảm tính miễn dịch, ngay cả thoáng qua, và sự gia tăng của những bạn đường phối ngẫu là những yếu tố làm dễ. Quá trình chậm và không gây triệu chứng : những thương tổn tiền ung thư trước hết được tạo thành, trong 5 đến 10 năm, rồi trở nên ung thư và xâm nhập 10 đến 20 năm sau. Mỗi năm ở Pháp, ta đếm khoảng 6000 trường hợp mới những ung thư gây nên bởi HPV, trong đó 3000 ung thư của cổ tử cung (1100 tử vong), 1500 ung thư TMH (85% ở đàn ông), 1000 ung thư hậu môn (72% ở phụ nữ), vài trăm trường hợp ung thư của dương vật, âm đạo và âm hộ.
Hỏi : Hôm nay những thường tổn tiền ung thu được phát hiện như thế nào ?
GS Cécile Badoual. Hiện diện ở phần lớn các phụ nữ ngay giai đoạn đầu của đời sống tình dục của họ và liên quan trong hơn 90% những ung thư của cổ tử cung, những HPV biện minh một sự theo dõi, bằng những frottis và những trắc nghiệm HPV “suốt đời”. Tuy vậy, 40% những người Pháp không thực hiện nó. Lầm, bởi vì frottis là một phương tiện đơn giản để phát hiện những tế bào bất thường và nhận diện một HPV à HR. Nhờ sự điều tra phát hiện này, cho phép khám phá những thương tổn tiền ung thư; 25.000 “conisation” phòng ngừa (cắt bỏ cổ tử cung) được thực hiện mỗi năm ở Pháp (điều này, với cái giá một nguy cơ gia tăng sẩy thai và sinh non, cho phép tránh ung thư cổ tử cung). Bất hạnh thay, frottis trong những vùng khác, thí dụ hậu môn ; không đáng tin cậy như thế, cũng không được chấp nhận dễ dàng bởi bệnh nhân. Trong lãnh vực TMH (đáy họng, amygdales, đáy lưỡi) nó không hiệu quả và những trắc nghiêm khắc (nước dải) là không thỏa mãn. Như thế, 80% những bệnh nhân được khám ở giai đoạn tiến triển của ung thư TMH, bởi vì không được phát hiện !
Hỏi : Những vaccin có hiệu quả không ?
GS Cécile Badoual. Rất hiệu quả, nhưng, vì thời gian tiến triển dài của nhiễm trùng, phải cần 10 đến 15 năm để chứng minh điều đó, điều này đã cho những kẻ thù của vaccin thời gian để chỉ trích nó.Trong những nước mà từ 10 năm nay sự tiêm chủng được thực hiện rộng rãi và hỗn hợp (Úc, Hoa Kỳ, Canada), những trường hợp mới của những thương tổn tiền ung thư của cổ tử cung đã sụt giảm 90% ! Ở Pháp, các vaccin được khuyến nghị đối với những thiếu nữ từ 11 đến 14 tuổi và tiêm đuổi (en rattrapage) đến 19 tuổi. Cũng được khuyến nghị đối với những người suy giảm miễn dịch và những người đồng tính luyến ái cho đến 26 tuổi. Một vaccin chống 9 loại HPV chẳng bao lâu sẽ có để sử dụng. Vaccin sẽ đảm bảo một bảo vệ chống 90% những HPV sinh ung thư (HR), thay vì 70% hiện nay.
Hỏi : Sự tiêm chủng có nguy hiểm không ?
GS Cécile Badoual. Trong 10 năm, hơn 270 triệu liều vaccin đã được phân phối trên khắp thế giới. OMS đã xem xét 7 lần sự an toàn của các vaccin và cho rằng ” cực kỳ an toàn “.
Hỏi : Sự tiêm chủng có đủ rộng rãi không ?
GS Cécile Badoual. Ở Úc, nơi 80% các phụ nữ và 75% những người đàn ông 15 tuổi được tiêm chủng, những trường hợp thương tổn HPV hầu như không còn xuất hiện nữa ! Dưới 20% những phụ nữ trẻ Pháp là như vậy. Tỷ lệ tiêm chủng này không đủ (một tỷ lệ 60% được đòi hỏi để quan sát một sự hạ thấp toàn bộ). Ở Pháp tiêm chủng cũng cần được mở rộng cho tất cả các cháu trai để phòng ngừa tối đa và hoàn toàn.
(PARIS MATCH 3/5-9/5/2018)

8/ ĐỘNG MẠCH CHỦ BIẾN ĐỔI THÀNH KHÍ QUẢN
13 bệnh nhân đã nhận một phẫu thuật ghép chưa từng có để nối thanh quản với các phế quản.
CHIRURGIE. Tái tạo một khí quản từ một động mạch chủ. Đó là thành tích mới lạ được thực hiện bởi GS Emmanuel Martinod ở bệnh viện Avicenne de Bobigny (Seine-Saint-Denis). 13 bệnh nhân bị những thương tổn ung thư nặng đã được hưởng kỹ thuật ghép mới của trục chính của hệ hô hấp. Một kỷ công cần so với vụ tai tiếng gây nên vào năm 2016 bởi Paulo Macchiarini : thầy thuốc ngoại khoa Ý đã cho xâm thực một khí quản plastique bằng những tế bào gốc được cấy in vivo, trước khi ghép nó. Nhưng bảy trong số 8 bệnh nhân đã chết sau khi được mổ.
Còn GS Martinod đã thực hiện những phẫu thuật ghép khí quản từ những động mạch chủ của những người chết. Trong thì đầu, động mạch, được đặt để nối thanh quản vào những phế quản, được củng cố bằng một stent. Những ngạc nhiên đến sau vài tháng, khi sụn dần dần được tái tạo, đảm bảo cho mẫu ghép hai tính chất cơ học này. Như thế cơ thể của chính bệnh nhân đã biến hóa một động mạch thành một cơ quan hô hấp chức năng.
(SCIENCE & AVENIR 6/2018)

9/ VIÊM GAN C : MỘT TRẮC NGHIỆM MỚI
Những nhà nghiên cứu của Viện Pasteur (Darragh Duffy, unité d’immunobiologie des cellules dendritiques), cộng tác với société Genedrive, đã phát triển một trắc nghiệm nhanh để phát hiện virus của viêm gan C, có thể sử dụng tại giường của bệnh nhân và hoàn toàn đáng tin cậy. Viêm gan C (1% dân số thế giới) chữa lành 95% với những thuốc chống virus hiện nay nếu sự điều trị được thực hiện tức thời, điều mà trắc nghiệm nhanh này sẽ làm cho dễ dàng
(PARIS MATCH 3/5-9/5/2018)

10/ TỶ LỆ TỬ VONG CỦA NHỮNG NGƯỜI NGỦ MUỘN.
Theo một công trình nghiên cứu của Anh được thực hiện từ những dữ kiện của gần 1/2 triệu dân của Vương quốc Anh, những “con chim đêm” (oiseaux de nuit), khó bước ra khỏi giường vào buổi sáng, có một nguy cơ tử vong 10% cao hơn so với những người ngủ sớm, trong một thời kỳ được khảo sát 6,5 năm.
(PARIS MATCH 26/4-2/5/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/6/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to Thời sự y học số 473 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 480 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s