Thời sự y học số 451 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ RÉGIME : SAU NHỮNG LỜI HỨA LÀM THON NGƯỜI LÀ VÒNG XOẮN CỦA CÁC KILO.

45% dân châu Âu không thỏa mãn về trọng lượng của mình, theo Institut national d’études démographiques (Ined).

Phải chăng có thể chấp nhận rằng những người trở nên bị bệnh để giống với những “modèle” được tu sữa hơn tự nhiên.ALIMENTATION. Những chế độ ăn uống ” làm thon người ” (régime “minceur”) có ích lợi gì, nếu không chỉ để duy trì một thị trường béo bở ? Chúng vô ích ở những người béo phì (obèse), thuộc phạm vi của một điều trị nhiều chuyên khoa bởi vì đó là một bệnh thật sự, với nhiều hậu quả đối với sức khỏe (trên tim, hơi thở, các khớp xương, hình ảnh về mình…). Và chúng có thể làm cho bị bệnh những người theo nó mặc dầu không cần thiết. ” Còn những người, thật ra, chỉ cần mất vài kilo, sự trở lại chế độ ăn uống cân bằng và không thái quá đối với những nhu cầu năng lượng, trong thời gian ngắn hạn cũng tốt bằng, còn tốt hơn trong thời gian dài hạn, và với một tổn phí ít hơn”, BS Jean-Michel Lecerf, trưởng khoa dinh dưỡng thuộc viện Pasteur (Lille) và tác giả của “A chacun son vrai poids”, đã nhận xét như vậy.
Điều tệ hại nhất, đó là không những régime này không hiệu quả trong thời gian dài hạn, mà, thêm vào đó, thường gặp một sự trầm trọng của vấn đề.
Theo một báo cáo năm 2010 của Agence nationale de sécurité sanitaire de l’alimentation (Anses), ” Ta càng làm régime, ta càng tạo điều kiện cho sự lên cân trở lại, và sự lên cân trở lại này, xảy ra sau một năm ở 80% những người kiêng khem, lại còn gia tăng với thời gian “, GS Irène Margaritis, trưởng đơn vị đánh giá những nguy cơ liên kết với dinh dưỡng ở Anses, đã nói như vậy.
Đối với BS Jean Khemis, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, ” đó là một thực tế hàng ngày lúc khám bệnh : régime vào mùa xuân, mà ta nghĩ là vô hại với những hứa hẹn và những giấc mơ của nó, có thể làm ta đi vào trong mớ nhằng nhịt của sự lên cân. Một sự gò bó nghiệt ngã trong chế độ ăn uống có thể hiệu quả và gây khoái trá trong thời gian ngắn hạn; nhưng, nếu nó được duy trì dài lâu, nó có thể dẫn đến thất vọng, trầm cảm, biến đổi những mối quan hệ xã hội và, cuối cùng, sự lên cân dội ngược trở lại (rebond pondéral) “.
Những régime à la mode, than ôi đó không phải là điều thiếu : mới đây, những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã liệt kê hơn 140 régime à la mode ! Mặc dầu những nhà nghiên cứu này vấp phải một sự thiếu hiển nhiên của những công trình nghiên cứu đúng đắn để đánh giá phần lớn những régime này, nhưng đối với GS Margaritis điều chứng thực là không thể phủ nhận : ” Bắt đầu lúc mà một régime chủ trương một sự mất quân bình đối với những nhu cầu của chúng ta về protéine, glucide và lipide (macronutriment), nó dẫn đến một chuỗi những đáp ứng sinh lý tương đương với một stress to lớn cho cơ thể. Ngoài ra, những régime nghèo glucide làm mệt và do đó không làm hoạt động thêm nữa. Về những régime quá giàu protéine, chúng gia tăng công của thận và vì chúng cũng thường quá giàu muối, nên chúng tạo điều kiện cho sự thất thoát calcium trong nước tiểu và do đó dẫn đến sự mất khoáng xương (déminéralisation osseuse). Nhưng nhất là bởi vì chúng làm xáo trộn một cách nghiêm trọng chuyển hóa năng lượng mà những chế độ mất cân bằng này dẫn đến sự lên cân trở lại. Thật vậy, lúc đầu, sự mất cân được kèm theo một sự tan cơ, các cơ đóng một vài trò trong chuyển hóa cơ bản. Hậu quả : khối lượng cơ càng ít thì sự tiêu hao năng lượng của chúng ta càng giảm. Nếu ta bắt đầu ăn như trước régime, đó đã là quá nhiều so với những nhu cầu mới và dần dần những kilo xuất hiện, với một cảm giác thất bại.
Ngoài những khuyết điểm thường gặp này, một régime có thể gây nên một lô những vấn đề đặc thù của nó. Trong số những régime đang thịnh hành năm 2015, régime 5-2 nhằm tự đặt cho mình hai ngày hạn chế nghiệt ngã và 5 ngày tự do : ” Với loại régime này ta giống như ” trong tất cả hay không gì cả “, BS Khemis đã lấy làm tiếc như vậy. Nguy cơ chính : sự mệt mỏi và sự thất vọng làm cho không thể chịu được trong thời gian dài hạn.” Về phần mình, BS Lecerf đánh giá rằng ” mặc dầu điều đó có thể thành công ở vài người bằng cách làm họ ý thức rằng họ đã ăn những suất thức ăn quá lớn, trong thực tiễn, hai ngày trong đó cơ thể bị đói khó có thể phù hợp với một đời sống xã hội.” Ở rayon của các régime phức tạp để có thể áp dụng về mặt xã hội, ta còn tìm thấy régime chronodiététique : ” Căn cứ trên ý tưởng rằng lúc tiêu thụ vài thức ăn vào những lúc nhất định trong ngày và không vào những lúc khác, có thể tránh sự lên cân, nhưng sự thực hành nó vẫn khó. Trong régime paléolithique, căn cứ trên điều mà các tiền nhân từng ăn khi họ sống nhờ hái lượm và săn bắn, những ngũ cốc (céréale), những sản phẩm sữa và những sản phẩm công nghệ bị cấm dùng, điều này làm cho nó trở thành một régime trong số những régime nghèo nhất về glucide và đơn điệu nhất “, BS Lecerf đã nhận xét như vậy. Còn những régime không thể chịu được sau vài ngày, như soupe aux choux, régime 100% trái cây (được gọi là régime Hollywood), thậm chí nhịn đói, chủ yếu là nguồn của sự thiếu hụt (carence), thậm chí dénutrition : cần phải trốn !
(LE FIGARO 15/6/2017)

2/ QUÁ NHIỀU NGƯỜI THEO RÉGIME MỘT CÁCH VÔ ÍCH
Theo Institut national d’études démographiques (Ined), 45% những người châu Âu không thỏa mãn về trọng lượng của mình. Inserm cũng có cùng điều chứng thực, dựa trên một panel hơn 105.700 người Pháp đã trả lời bảng câu hỏi Nutrinet-Santé, ghi nhận rằng 7 phụ nữ trên 10 và 1 người đàn ông trên 2 mong muốn cân nặng ít hơn. Vậy có một sự tréo nhau thật sự giữa sự nhận thức về trọng lượng của mình và thực tế, điều này đúng là điều duy trì business de la minceur rất béo bở. ” Thế mà chính như thế mà khi cho người ta những mục tiêu không thể đạt được, ta thúc đẩy họ phải tự buộc mình những gò bó để cuối cùng làm cho họ bị bệnh “, GS Irène Margaritis (Agence nationale de sécurité sanitaire de l’alimentation) đã phàn nàn như vậy.
Để tránh mối nguy này, điều tối thiểu là phải biết ta thật sự đến đâu rồi với trọng lượng của mình. Chỉ số khối lượng cơ thể (IMC) đã cho một cái nhìn bao quát tốt về điều đó. Nó được tính bằng cách chia trọng lượng của mình (kilo) với bình phương taille (mètre). Giữa 18,5 và 25, một IMC được xem là bình thường. Từ 25 đến 30, nó biểu hiện một tăng thể trọng (surpoids). Từ 30 đến 35 là một béo phì (obésité) và trên 40 là một béo phì bệnh hoạn (obésité massive). Ngoài IMC, cũng phải tính đến tiến triển của corpulence của mình trong thời gian. Một IMC bình thường và ổn định chỉ rằng đó đúng là corpulence de référence của chúng ta ? và thây kệ nếu ta mơ một kết quả khác. Nhưng nếu một người chuyên từ một IMC 19 lên 23 trong vòng vài tháng, đó là điều cần nói với thầy thuốc của mình “, BS Khemis (bệnh viện La Pitié Salpêtrière) đã nói như vậy.
ĐỪNG THÚC BÁCH CÔNG VIỆC HÀNG NGÀY CỦA MÌNH
Bilan đôi khi cho phép tìm thấy một nguyên nhân nội khoa như một giảm năng tuyến giáp (hypothyroidie), mà một régime không thể nào điều chỉnh được. ” Ta không thể thúc bách việc hàng ngày trên bình diện ăn uống mà không có cái nhìn trong thời gian dài han. Điều đó có thể là những thay đổi nhỏ như họ không vào bàn ăn trở lại nữa, không bao giờ buộc mình phải chấm dứt một đĩa ăn, không làm gì khác khi ăn, ngừng nhấm nháp,…, thường đủ trong trường hợp tăng thể trọng nhẹ (surpoids modeste) “, BS Khemis đã nhấn mạnh như vậy. Những lời khuyên khác : ” Đi mua hàng nhưng no bụng và không đòi hơn danh sách, từ nấu ăn nếu có thể, ăn trái cây và/hoặc các rau xanh vào tất cả các bữa ăn, hai lần mỗi tuần, thịt hay volaille hay trứng chỉ một lần mỗi ngày (những ngày không cá), với những ngũ cốc, tốt nhất là hoàn toàn và những sản phẩm sữa, hai hay ba lần mỗi ngày, đó là căn bản. Sau cùng, phản ứng ngay khi lên những kilo đầu tiên bằng cách điều chỉnh những lượng được tiêu thụ và bằng cách gia tăng một ít hoạt động vật lý của mình, đó thường đủ để thấy lại cán cân nghiêng về phía tốt “, BS Jean-Michel Lecerf (Viện Pasteur Lille) đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 15/6/2015)

3/” MẤT 23 KILO…VÀ 35 KILO ĐƯỢC TÌM THẤY LẠI “
” Tôi vốn đã luôn luôn hơi đẫy dà, nhưng vì tôi cũng hay chơi thể thao, nên khía cạnh nounours musclé của tôi đã không bao giờ làm tôi lo lắng”, Richard Reville (Ile-de France) đã giải thích như vậy. ” Rồi, vì những lý do nghề nghiệp, ngoài những lý do khác ra, tôi đã có ít thời gian để hoạt động thể thao và vì tôi vốn giữ một cảm giác ăn ngon, nên các kilo đã bắt đầu xuất hiện. Một ít, rồi nhiều. Vì tôi thích thịt, cuối cùng tôi đã bị cám dỗ bởi một régime à là mode rất giàu protéine động vật và quả đúng là điều đó rất có hiệu quả lúc ban đầu. Tôi đã mất 10 kg mà không bi đói..Nhưng ngay khi tôi ít chú ý hơn, tôi lên trở lại 12 kilo ! Tôi lại mất 8 kilo và tôi lên cân trở lại 14… Sau tất cả những năm régime minceur này, nếu tôi lập bảng tổng kết, tôi đã mất 23 kilo trong nhiều lần và tôi đã lên cân tổng cộng 35 kilo. Ở mức này, tôi không tài nào có thể chơi thể thao nữa, tôi cảm thấy khó chịu trong thân thể, chóng mệt và mau hụt hơi. Điều làm tôi bực tức nhất, đó là thấy tờ báo (được vợ tôi đọc) đã từng bào chữa hết mực cho loại régime hyperprotéiné này cách nay vài năm, bây giờ lại là một trong tờ báo công kích nó kịch liệt ! Thật là quá dễ ! Từ lâu tôi đã tự nhủ rằng tôi phải ăn cân bằng hơn và rằng tôi bắt đầu chơi thể thao trở lại, nhưng động cơ không còn nữa. Và rồi một hôm, thầy thuốc điều trị của tôi về hưu. Người kế nghiệp ông, ngay lúc đầu đã cảm thấy rõ rằng tôi ương ngạnh với mọi lời nói về régime, đã biết hành động bằng cách quan tâm đến những sở thích của tôi, lối sống của tôi, những gò bó nghề nghiệp của tôi. Không ngần ngại, tôi đã chấp nhận cùng ông xem điều gì không ổn trong vệ sinh đời sống của tôi. Ông đã giúp tôi sửa chữa, bằng những nét nhỏ và luôn luôn chủ trương những biện pháp lương tri (mesures de bon sens) như lắng nghe tốt hơn thân thể của tôi để không ăn một cách máy móc nhưng chỉ khi nào cảm thấy đói. Ông đã khá tinh ma khi làm tôi mất một cách nhẹ nhàng những kilo đầu tiên của tôi, trong nhiều tháng, mà không có cảm giác bị thiếu thốn hay quấy rầy những thói quen của tôi. Điều đó như thể là một sự khơi mào để thèm muốn làm một chút ít thể thao trong gia đình và để ăn uống lành mạnh hơn. Tôi đã cảm thấy tốt hơn, sau cùng tôi đã làm hòa với cơ thể của tôi và đó là điều đáng kể.”
(LE FIGARO 15/6/2017)

4/ CÁC VI KHUẨN RUỘT GIÚP LÃO HÓA TỐT
Chúng ta từng biết rằng microbiote, toàn thể các vi sinh vật của cơ thể, đóng một vai trò thiết yếu đối với sức khỏe. Ngoài ra chúng can thiệp trong quá trình lão hóa của chúng ta. Một kíp nghiên cứu của đại học Atlanta đã cho thấy rằng indole, một phân tử được sản suất bởi vài vi khuẩn của khuẩn chí ruột (flore intestinale) của chúng ta (trong đó có Escherichia coli) cho phép làm giảm vài tác dụng liên quan đến tuổi tác (giảm tính di động, giảm khả năng sinh sản, giảm sự đề kháng với stress…).Các nhà khoa học đã trắc nghiệm, trên những con giun tròn (vers nématode), tác dụng của những souche khác nhau của Escherichia coli : một souche tiết indole và một souche không tiết nó. Kết quả : với tuổi tác, indole gây nên một sự gia tăng 80 đến 90% khả năng di động của những con giun tròn, và một sự gia tăng 100 đến 120 thời kỳ sinh sản của chúng. ” Khi ta già đi, một sự bất quân bình được tạo ra trong microbiote của chúng ta, Daniel Kalman, microbiologiste thuộc đại học Emory (Hoa Kỳ) đã giải thích như vay. Có ít loài hơn hiện diện trong khuẩn chí ruột của chúng ta, do đó sự sản xuất indole giảm.” Như thế, tái lập khuẩn chí ruột có thể là một hướng nghiên cứu để làm chậm lại những tác dụng của sự lão hóa.
(SCIENCE ET VIE 11/2017)

5/ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CHỨNG BÉO PHÌ: NHỮNG KỸ THUẬT ĐÁNG TIN CẬY.
GS Jean-Pierre Marmuse, Chirugie digestive et de l’obésité, clinique Bizet, Paris, người tiền phong của phẫu thuật điều trị chứng béo phì ở Pháp, mô tả những kỹ thuật hiện được khuyến nghị nhất và những kết quả của chúng.
Hỏi : Định nghĩa y khoa của chứng béo phì (obésité) và tầm quan trọng của nó ở Pháp ?
GS Jean-Pierre Marmuse : Đó là một sự thặng dư mô mỡ có hại cho sức khỏe, mà ta đo bằng chỉ số khối lượng cơ thể (IMC : index de masse corporelle), tỷ suất giữa trọng lượng tính bằng kilo với bình phương của taille tính bằng mètre. Những người có trọng lượng bình thường có một IMC giữa 20 và 25 kg/m2, những người tăng thể trọng (surpoids) có một IMC giữa 25 và 30. Những người béo phì có IMC trên 30 và khi IMC vượt quá 40, chứng béo phì được gọi là bệnh hoạn (obésité morbide). 15% dân trưởng thành Pháp (6 triệu) là béo phì, 1,2% bị béo phì bệnh hoạn (khoảng 500.000 người).
Hỏi : Ngoại khoa được khuyến nghị đối với những loại béo phì nào ?
GS Jean-Pierre Marmuse : Ngoại khoa được khuyến nghị (sau thất bại của những điều trị nội khoa và những chế độ ăn uống được tiến hành tốt) khi nguy cơ mổ thấp hơn những nguy cơ của bệnh béo phì, đối với chứng béo phì bệnh hoạn (obésité morbide) mà nguy cơ tử vong gấp đôi nguy cơ của những người có trọng lượng bình thường. Thật vậy, cao huyết áp, thặng dư cholestérol và bệnh đái đường thường liên kết với nó, làm dễ các tai biến tim mạch và sự xuất hiện của các ung thư, đối với những IMC trên 35 hoặc hơn khi có một bệnh liên kết với thặng dư thể trọng (hư khớp gây phế tật, ngừng thở ngắn lúc ngủ, đái đường không được cân bằng tốt..)
Hỏi : Ông hãy tóm tắt cho chúng tôi những kỹ thuật chính được sử dụng.
GS Jean-Pierre Marmuse : Có 3 kỹ thuật.1. Đặt một vòng (anneau) chung quanh dạ dày để chia nó thành hai bọc (poche) : một bọc cao rất nhỏ mà các thức ăn đến ở đó và một bọc thấp ở đó thức ăn chảy ra chậm.
2. By-pass biến đổi đường đi bình thường của các thức ăn trong ống tiêu hóa. Nó phối hợp một sự thu giảm dạ dày (mà không lấy đi dạ dày) và một court-circuit gây nên một sự kém hấp thụ tiêu hóa, nhỏ hay lớn tùy theo montage được thực hiện.
3. Sleeve hay machon gastrique, nhằm lấy đi 2/3 dạ dày, chủ yếu phần có chức năng réservoir và tiết ghréline, kích thích tố của sự thèm ăn.
Những phẫu thuật này được thực hiện với gây mê tổng quát bằng nội soi (không mở bụng), do đó sự phục hồi nhanh hơn và thời gian bệnh viện ngắn (2 đến 5 ngày)
Hỏi : Ông có thể nói rõ cho chúng tôi những ưu điểm, những bất tiện, những kết quả của mỗi kỹ thuật ? Ông ưa kỹ thuật nào hơn ?
GS Jean-Pierre Marmuse : Sự hâm mộ ban đầu đối với vòng dạ dày (anneau gastrique), được chứng minh bởi những kết quả tốt trong thời gian ngắn hạn, bị giảm sút khắp nơi trên thế giới. Với thời gian nhìn lại, những biến chứng mà nó gây ra buộc phải lấy vòng ra ở 1 bệnh nhân trên 2. Trong công trình nghiên cứu của chúng tôi trên 1000 bệnh nhân, thất bại lúc 10 năm là 90% ! Chúng tôi không còn đặt vòng dạ dày nữa. Bypass thường được xem như phẫu thuật quy chiếu bởi vì nó gây mất cân dài lâu (trung bình 40 kilo) và trong 70% các trường hợp một sự thuyên giảm của bệnh đái đường và những bệnh liên kết khác. Mặc dầu vậy nó gây nên những thiếu hụt dinh dưỡng phải được bù suốt đời (calcium, fer, vitmines B12 và D), đôi khi ngay cả hạ đường huyết. Trong 15% các trường hợp, các biến chứng tiêu hóa (loét, tắc ruột…) xảy ra sau đó. Sleeve cho những kết quả tương tự với by-pass về mặt trọng lượng, sự thuyên giảm của bệnh đái đường và những yếu tố nguy cơ khác. Những biến chứng xa là hiếm (2%), nói chung được giới hạn vào một trào ngược dạ dày ! Đối với tôi đó là kỹ thuật mang lại tỷ suất lợi ích/nguy cơ tốt nhất trong thời gian dài hạn.
Hỏi : Những kết quả này có lâu bền không ?
GS Jean-Pierre Marmuse : Một công trình nghiên cứu Thụy Điển (SOS Study) đã theo dõi, trong 20 năm, 2000 người béo phì không mổ và 2000 người béo phì được mổ với những kỷ thuật khác nhau. Công trình này cho thấy rằng, ở những người được mổ, sự mất cân được duy trì (với điều kiện có một vệ sinh đời sống tốt) và rằng nó làm giảm 30% nguy cơ tử vong so với những người không mổ, hoặc lợi được gần 10 năm hy vọng sống (espérance de vie). Ngoài ra, người ta càng mổ sớm, sự thuyên giảm của bệnh đái đường càng kéo dài, thậm chí vĩnh viễn.
Hỏi : Đó có phải là một ngoại khoa nặng nề không ? Những biến chứng của nó là gì ?
GS Jean-Pierre Marmuse : Trong những trung tâm xuất sắc những biến chứng hậu phẫu đối với sleeve và by-pass (xuất huyết, rò tiêu hóa..) được quản lý rất tốt và không vượt quá 5% các trường hợp. Tỷ lệ tử vong chu phẫu (mortalité périopératoire) hôm nay dưới 0,5% (2/1000 trong équipe của chúng tôi.
(PARIS MATCH 26/10-1/11/2017)

6/ NHIỄM TRÙNG MẠNH HƠN BUỔI CHIỀU
Một kíp nghiên cứu của Québec đánh giá rằng đứng trước một bệnh ký sinh trùng như leishmaniose, con người dễ nhạy cảm hơn lúc hoàng hôn. Để tăng sinh, ký sinh trùng của leishmaniose phải ký sinh những tế bào miễn dịch. Thế mà, những tế bào này hoạt động theo chu kỳ ngày đêm (cycle circadien) : đông đảo ít hay nhiều tùy theo giờ, chúng tiết ít hay nhiều các thụ thể (récepteurs) đối với các vật lạ. Một thí nghiệm trên chuột đã chứng tỏ điều đó : nguy cơ nhiễm trùng gia tăng đúng vào buổi chiều, khi những tế bào này nhiều hơn. ” Nhiễm trùng có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào, Nicolas Cermakian, người phụ trách các công trình, đã nói như vậy, nhưng các triệu chứng nghiêm trọng hơn nếu nhiễm trùng xuất hiện muộn. Những dữ kiện này có thể cung cấp những đích mới để có thể bảo vệ dân chúng tốt hơn “, ông đã kết luận như vậy.
(SCIENCE ET VIE 11/2017)

7/ MỘT VIRUS ĐƯỢC BIẾN ĐỔI HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI GLIOBLASTOME.
Glioblastome là ung thư não thường gặp nhất và ác tính nhất. Điều trị tối luu phối hợp cắt bỏ bằng ngoại khoa, xạ trị nhắm đích vùng mổ (radiothérapie ciblée) và hóa trị. Những ung thư này luôn luôn tái phát và trở nên đề kháng với những điều trị, do đó một tỷ lệ sống sót trung bình của các bệnh nhân chỉ 15 tháng. Các nhà nghiên cứu của Đại Học Y khoa Duke (Caroline du Nord, Hoa Kỳ) đã trắc nghiệm tác dụng của một virus được biến đổi của polio (không gây bại liệt) bằng cách tiêm nó vào não của 52 bệnh nhân bị một tái phát. Sau 3 năm, 21% những bệnh nhân này còn sống thay vì 4% với điều trị chuẩn ! Virus này chủ yếu gắn vào những tế bào ác tính và giết chúng với số lượng lớn, điều này phóng thích những độc tố ung thư, cho phép các tế bào miễn dịch phát hiện và đến lượt chúng giết những tê bào ung thư còn hoạt động.
(PARIS MATCH 26/10-1/11/2017)

8/ ALZHEIMER : GIÚP ĐỠ CÁC BỆNH NHÂN GÌN GIỮ AUTONOMIE
Những kíp chuyên môn can thiệp tại nhà để thiết đặt nhung chiến lược bù cho phép cải thiện chất lượng sống.NEUROLOGIE. Một buổi chiều mùa đông âm u, trong phòng khách tiện nghi của một căn hộ gần Bastille, Paris, bà C, kể lại buổi chiếu phim vừa qua với một giọng như hát, để lộ nguồn gốc Ý của bà. Người đàn bà 85 tuổi này, say mê cinéma và kịch, đã xem cách nay vài ngày Clint Eastwood cuối cùng. Bà đã quên đầu đề, nhưng triển khai cốt truyện không có vấn đề. Đối diện với bà, chăm chú, thầy thuốc tâm lý-thần kinh thỉnh thoảng lại cho máy chạy..
Người phụ nữ trẻ thuộc équipe spécialisée Alzheimer à domicile (Esad), của association Atmosphère, đến mỗi tuần tại nhà của bà C, bị bệnh thần kinh. Vai trò của Esad ? Gìn giữ khả năng độc lập (autonomie) của bà C càng lâu càng tốt. Để đạt được điều đó, kíp bao gồm một chuyên gia tâm lý (psychologue), một psychomotrice và một assistante de soins en gérontologie giúp bà C thiết đặt những chiến lược bù để duy trì những năng lực còn lại.
” Thường các bệnh nhân mất các mốc thời gian và không gian. Chúng tôi sẽ thiết đặt những chiến lược để họ có thể, thí dụ, tiếp tục di chuyển một mình trong khu phố của họ để đi mua sắm. Chúng tôi cũng sẽ đề nghị với họ những hoạt động nhắm vào hoạt động hàng ngày của họ : làm sao sử dụng micro-onde, điện thoại hay télé…”, Géraldine Villain, psychomotrice và coordinatrice của kíp đã giải thích như vậy.
Trong lúc này, bà C tìm cách đặt tôi những mốc trong thời gian. Trước khi équipe can thiệp, bà nhiều lần trong ngày đến hiệu thuốc ở gần tòa nhà chung cư bên cạnh để tìm hỏi ngày tháng. Sau khi đã nói cinéma, psychologue cùng với bà C tiến vào bếp, ở đây chễm chệ một đồng hồ mới toanh chỉ giờ, nhưng cũng ngày tháng.. Đứng trước mặt đồng hồ, Elodie trở lại những lời dặn dò được niêm yết trên một bức tường bên cạnh đồng hồ : ” Bà hãy tưởng tượng rằng bà thức dậy. Chúng ta sẽ tiếp tục những giai đoạn được chỉ trên tờ giấy bên cạnh đồng hồ.” Làm cà phê rồi xem lại chương trình trong ngày. Bà C trở lại trong phòng khách để tham khảo sổ nhật ký. Sổ tay trong tay, bà hướng về Elodie : ” Chúng ta ở ngày nào ? ” Người phụ nữ không trả lời và gợi ý bà đi tham khảo đồng hồ.
Được thiết đặt bởi plan Alzheimer 2008-2012, những kíp Esad đầu tiên ra đời năm 2009. Hôm nay, chúng hiện diện khắp nơi ở Pháp. Chúng ưu tiên nhằm vào những giai đoạn sớm hay nặng trung bình của bệnh và được đảm nhận 15 buổi trong 3 tháng, với điều kiện được kê đơn bởi một thầy thuốc. Một kíp nghiên cứu của Inserm mới đây đã đánh giá lợi ích của can thiệp này đối với bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu đã quan sát 421 bệnh nhân nhận can thiệp của Esad trong một thời gian 6 tháng. Họ đã quan tâm đến tiến triển lâm sàng của những bệnh nhân này giữa lúc bắt đầu và lúc cuối của 3 tháng điều trị, rồi 3 tháng sau khi chấm dứt can thiệp.
Kết quả : chất lượng sống của các bệnh nhân và chất lượng sống của những người thân cận được cải thiện nhiều. Thật vậy, những rối loạn hành vi và thời gian mà những người giúp đỡ chăm lo cho người thân bị bệnh đã giảm. Song song, autonomie fonctionnelle (khả năng mặc quần áo, làm toilette, sử dụng điện thoại…) vẫn ổn định sau 3 tháng can thiệp, rồi giảm giữa tháng thứ ba và thứ sáu. ” Ngược lại, những bệnh nhân ở một giai đoạn sớm của bệnh nhân được nhiều lợi nhất về mặt duy trì autonomie fonctionnelle. Vậy dường như quan trọng là hướng sớm các bệnh nhân đến những cơ sở này”, Clément Pimouguet, nhà nghiên cứu ở centre Inserm U1219, Bordeaux Population Healt,h Research Center đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 6/2/2017)

9/ PHÒNG NGỪA TIM MẠCH : TIẾP TỤC ASPIRINE !
Dùng mỗi ngày với liều thấp và suốt đời (nếu không có xuất huyết), aspirine cho phép phòng ngừa, trước hay sau một tai biến tim mạch, sự tạo thành những cục máu đông trong các động mạch. Theo một công trình nghiên cứu của Thụy Điển, được thực hiện trên hơn 600.000 người, gần 1/3 những người sử dụng có khuynh hướng dừng nó lại. Nguy cơ nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não ở họ sau đó gia tăng 37% trong một thời gian rất ngắn.
(PARIS MATCH 2/11-8/11/2017)

10/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG CÓ PHẢI LÀ MỘT MALADIE A PRION ?
Bởi vì chủ yếu xảy ra ở những người bị béo phì, cao huyết áp hay tăng cholestérol, nên bệnh đái đường loại 2 được quy cho tình trạng nhàn rổi không hoạt động và một chế độ ăn uống mất quân bình. Những thầy thuốc thần kinh Claudio Soto và các đồng nghiệp của đại học Texas đưa ra một giải thích mới : prions.
Những công trình nghiên cứu đã cho phép quan sát những chất lắng của những protéine bất thường trong tụy tạng của những bệnh nhân bị bệnh. Do đó kíp nghiên Hoa Kỳ đã có ý tưởng tiêm chúng vào những con chuột…sau đó đã biểu hiện những triệu chứng của bệnh đái đường. Được thêm vào một canh cấy những tế bào tụy tạng người, các prion cũng đã gây ở đó sự khuếch tán của những chất lắng này. Các tác giả của công trình nghiên cứu suy ra rằng vài triệu chứng của bệnh đái đường loại 2 có thể được truyền từ người này qua người khác qua các prion. Những còn cần phải nhiều công trình nghiên cứu hơn để chứng minh điều đó, và thuyết phục những thầy thuốc đái đường như François Pattou, vẫn tiếp tục nghĩ rằng ” những chất lắng protéine là một hậu quả, hơn là một nguyên nhân của căn bệnh.”
(SCIENCE ET VIE 11/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/11/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s