Thời sự y học số 228 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ MỘT VI KHUẨN GIEO KHIẾP SỢ Ở ĐỨC VÀ LAN TRÀN Ở CHÂU ÂU.
Từ cuối tháng tư, ở Đức các quả dưa chuột bị lây nhiễm bởi vi khuẩn E.coli entérohémorragique (Eceh) đã làm nhiễm trùng hơn 300 người (70% là phụ nữ), với 14 trường hợp tử vong. Và những trường hợp mới tiếp tục được ghi nhận. Sau Đức, vi khuẩn Eceh đã tấn công Đan Mạch,Thụy Điển, Anh, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Áo và 3 trường hợp nghi ngờ đã được nhận diện ở Pháp. Còn ở Bỉ chưa có gì được ghi nhận ở giai đoạn này.
EPIDEMIE. Thủ phạm sau cùng đã được nhận diện trong cuộc săn đuổi truy tìm vi khuẩn ruột gây bệnh làm nước Đức phải nín thở. Vi khuẩn E.coli enterohémorragique (Eceh), đang làm bao trùm nỗi hoảng sợ trong các bệnh viện Đức từ 10 ngày qua, đã được tìm thấy trong các quả dưa chuột phát xuất từ Tây Ban Nha, thượng nghị sĩ trách nhiệm về y tế của thành phố Hambourg đã loan báo chính thức như vậy. Mặc dầu các quả dưa chuột đến từ Tây Ban Nha, nhưng sự lây nhiễm không nhất thiết đã xảy ra ở nước sản xuất. Hiện giờ, nguồn gốc chính xác của dịch bệnh vẫn đang còn được điều tra. Chỉ những kết quả của các phân tích hiện đang được tiến hành mới cho phép biết có phải chính đúng những quả dưa chuột, salade và các quả cà chua phát xuất từ một xí nghiệp Tây Ban Nha là nguồn gốc của sự lây nhiễm này ở châu Âu. Sự khám phá của giới hữu trách y tế Đức hẳn sẽ cho phép rút ra khỏi thị trường các rau xanh bị nhiễm khuẩn và truy tìm nguồn gốc của sự lây nhiễm. Tuy nhiên các thầy thuốc người Đức đặc biệt lo ngại : Trước đây chưa bao giờ các người trưởng thành đã bị tác động mạnh bởi vi khuẩn như thế. Vi khuẩn này bình thường tấn công những trẻ em nhỏ tuổi dưới dạng nhẹ hơn.
Với 14 trường hợp tử vong được xác nhận, nhiều trường hợp nghi ngờ và hơn 300 bệnh nhân được điều trị ở miền Bắc nước Đức vì những triệu chứng rất trầm trọng, dịch bệnh đã trở nên một vấn đề y tế công cộng. Liên hiệp châu Âu đã cảnh giác các du khách lưu trú ở Đức từ giữa tháng năm và khuyên họ đặc biệt lưu ý đến những dấu hiệu nhiễm trùng bởi vi khuẩn : đau bụng và đau đầu dữ dội, ỉa chảy lỏng hay có máu, chảy máu mũi.
MỘT DẠNG BỆNH RẤT HIẾM.
“ Dạng vi khuẩn được tìm thấy ở Đức rất hiếm. Ngoài ra, bình thường trong loại trường hợp này, những người bị bệnh là những người sống cùng một mái nhà hay cùng đi học một trường. Trong trường hợp hiện nay, vùng bị ảnh hưởng rộng hơn nhiều vì lẽ đó là miền Bắc của nước Đức ”, Lisa King, thầy thuốc dịch tễ học thuộc viện theo dõi y tế đã giải thích như vậy. Vi khuẩn lan tràn nhanh chóng : các tiểu bang (Lander) bị ảnh hưởng nhất là Basse-Saxe, Brême và Hambourg. Miền tây Đan mạch (vùng Jutland) đến lượt bị tấn công bởi vi khuẩn. 7 bệnh nhân Đan mạch đã được nhập viên sau khi lưu trú ở Đức. Lại nữa, vẫn các quả dưa chuột từ Tây Ban Nha được nghi ngờ là nguyên nhân của nhiễm trùng. Thụy Điển đã liệt kê nhiều chục trường hợp SHU (syndrome hémolytique et urémique), trong đó 10 bệnh nhân hiện đang nằm trong khoa hồi sức. Nhưng dịch bệnh lan tràn ở Thụy Điển, nhiều trường hợp mới được ghi nhận mỗi giở. Ngoài ra, giới hữu trách y tế Thụy Điển ước tính rằng những trường hợp được liệt kê chỉ là mặt chìm của iceberg và rằng tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng. Tất cả các bệnh nhân Thụy Điển cũng đã đi du lịch ở Đức, đặc biệt là trong miền bắc của nước này. Anh, Hòa lan và Thụy Sĩ cũng đã bị ảnh hưởng.
Vi khuẩn, loại HU-SEC 41, đặc biệt nguy hiểm bởi vì nó đề kháng với nhiều kháng sinh. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, vi khuẩn gây nên ỉa chảy ra máu và làm biến đổi chức năng thận với sự xuất hiện của hội chứng dung huyết và urée-huyết (SHU : syndrome hémolytique et urémique), có khả năng dẫn đến tử vong. Các bệnh nhân bị bệnh nặng nhất phải được nhập viện và phải được thẩm tách (dialyse) và truyền máu trong các khoa hồi sức hay chuyên khoa về bệnh thận. Ghép thận đôi khi tỏ ra cần thiết. Số các trường hợp nghiêm trọng đã tạo nên những hậu quả trong các bệnh viện Đức, ở đây những máy để thẩm tách bắt đầu thiếu hụt.
Sự lây nhiễm xảy ra do ăn uống. Vi khuẩn được chứa trong ống tiêu hóa của vài loài bò nhưng không gây triệu chứng. Vi khuẩn được chứa trong ruột của các động vật được thải ra theo phân và có thể làm lây nhiễm môi trường (nước, phân bón, đất). Những chế phẩm của sữa không được tiệt trùng, các rau xanh sống hay nước uống có thể là những vecteur truyền bệnh. Đã từ nhiều ngày nay các nhân viên điều tra y tế Đức đã nhắm vào các rau quả ăn sống : không nên tiêu thụ cà chua sống, các quả dưa chuột, và salade xanh. Các nhà nghiên cứu của Viện Robert-Koch, có nhiệm vụ truy lùng vi khuẩn thủ phạm, đã nhận xét rằng những nạn nhân chính của dịch bệnh này là các phụ nữ, hàng đầu trong việc chế biến thức ăn. Mỉa mai thay, chính những phụ nữ ăn uống lành mạch nhất lại là những kẻ bị ảnh hưởng nhất. Cơ quan an toàn y tế Áo đã ra lệnh thu hồi các quả dưa chuột, cà chua và aubergine phát xuất từ nông nghiệp sinh học (agriculture biologique), được cung cấp bởi các nhà sản xuất Tây Ban nha, bị nghi ngờ là nguồn gốc của lô hàng bị nhiễm. Cơ quan này đã xác nhận rằng 33 cửa hàng lớn ở Áo bị ảnh hưởng.
CÁC CANTINE BỊ ĐÓNG CỬA
Các nghi ngờ cũng được hướng về các rau xanh sinh học (légumes bio), mà các phân bón hữu cơ đôi khi cũng được sử dụng : vi khuẩn lan tràn trong phân động vật. Ngoài ra một trong các quả dưa chuột phát xuất từ một nhà trồng rau sinh học (maraicher biologique). Mặc dầu một nguồn vi khuẩn đã được khám phá, nhưng giới hữu trách y tế khuyên thận trọng bởi vì có thể là những rau xanh khác cũng bị lây nhiễm.
Hai cantine của các xí nghiệp đã bị đóng cửa, và một trắc nghiệm máu cho phép nhận biết vi khuẩn nơi các bệnh nhân sẽ được hiệu chính trong những ngày đến.
(LE FIGARO 27, 29 và 30/5/2011)

2/ ESCERICHIA COLI : SỰ BIẾN DỊ CỦA MỘT VI KHUẨN CÓ ÍCH.
Georges Daube là chuyên gia về vi trùng học và giáo sư của bộ môn khoa học thực phẩm ở phân khoa thú y của đại học Liège.
Hỏi : Có phải tất cả các vi khuẩn Escherichia coli đều nguy hiểm ?
Georges Daube : Chắc chắn là không. Tất cả chúng ta sống với các Escherichia coli trong ruột non của chúng ta. Những vi khuẩn này cần thiết cho sự tiêu hóa. Nhưng vài loại có thể biến dị, thụ đắc những yếu tố độc lực và trở nên có hại. Chính một vi khuẩn biến dị thuộc loại này, giống gốc O 104, là nguồn gốc của các ngộ độc trong những ngày qua ở châu Âu.
Hỏi : Giống gốc O 104 nguy hiểm ở chỗ nào ?
Georges Daube : Loại giống gốc này (O 104) trong giai đoạn đầu gây nên ỉa chảy. Nếu vi khuẩn có một yếu tố dính (facteur d’adhésion), nó cũng có thể gắn vào thành ruột non và sau một thời gian nào đó, chích các độc tố vào trong máu. Trong một trường hợp như vậy, các độc tố này có thể dẫn đến một loạt các biến chứng, làm biến đổi chức năng thận, gây nên thiếu máu. Những đứa trẻ bị ảnh hưởng nhiều hơn người lớn. Thêm một chi tiết, chỉ cần một lượng rất nhỏ các vi khuẩn cũng đủ gây nhiễm trùng một cơ quan.
Hỏi : Những vi khuẩn độc lực này đến từ đâu ?
Georges Daube : Ta tìm thấy chúng trong ống tiêu hóa của các động vật cũng như người và do đó trong phân. Nước bề mặt cũng có thể bị lây nhiễm. Nếu các nước bị ô nhiễm này được sử dụng để tưới đất trồng rau, thì các vi khuẩn sau đó được tìm thấy trên các rau xanh.
Hỏi : Có phải đây là lần đầu tiên một dịch bệnh như thế bùng nổ ?
Georges Daube : Từ năm 1982, chúng ta biết rằng các vi khuẩn thuộc loại này có thể thụ đắc một yếu tố độc lực và gây nên một dịch bệnh.Vào thời kỳ đó, đó là giống gốc Escherichia coli O 157. Loại vi khuẩn này vốn đã hiện diện ở các loài bò nhưng không gây triệu chứng. Ở người, vi khuẩn này đã làm phát khởi nhiều bệnh lý khác nhau. Từ đó, nhiều dịch bệnh thuộc loại này đã được ghi nhận.
Hỏi : Dịch bệnh trong những ngày qua có nguy cơ kéo dài hay không ?
Georges Daube : Thật khó nói. Trước hết phải nhận diện giống gốc và nguồn gốc của nó. Nếu chỉ một chuyến hàng các dưa chuột hay nếu chỉ một cơ sở kich doanh bị liên hệ, thì vấn đề có thể biến mất nhanh như lúc nó đã xuất hiện. Nhưng không phải là không có khả năng dịch bệnh tiếp tục tiến triển. Trong trường hợp O 157, vào năm 1982, dịch bệnh đã bùng nổ ở Iowa. Vào năm 1986, giống gốc O 157 đã xâm chiếm toàn bộ Hoa Kỳ và năm 1990, dịch bệnh lan khắp thế giới…
Hỏi : Giới hữu trách phải làm gì trong những trường hợp như vậy ?
Georges Daube : Phải có khả năng nhận diện giống gốc chịu trách nhiệm dịch bệnh và truy tim nguồn gốc của nó. Système de traçabilité des aliments ở Châu Âu sẽ cho phép vạch giới hạn quanh vùng khả nghi.Sau đó phải áp dụng những biện pháp cần thiết để tránh sự lập lại của loại những biến cố này. Nếu đó là một cơ sở khai thác trồng rau, phải sửa chữa vấn đề chất lượng nước bị quy kết.
Hỏi : Còn đối với các bệnh nhân ?
Georges Daube : Phải điều trị ỉa chảy. Trong trường hợp các độc tố phân tán, cần điều trị ở bệnh viện. Nói chung ta không cho kháng sinh trong những trường hợp như vậy. Khi tấn công vào các vi khuẩn, các kháng sinh làm gia tăng nguy cơ phân tán của các độc tố trong cơ thể. Trong những trường hợp nặng nhất, phải điều trị bằng thẩm tách thận.
(LE SOIR 30/5/2011)

3/ TRƯỚC TÌNH HÌNH THIẾU CƠ QUAN GHÉP, BƯỚC NHẢY VỌT HƯỚNG VỀ CÁC CƠ QUAN NHÂN TẠO.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

TÁI SINH. Trong số nhiều đường hướng nghiên cứu được khảo sát để điều trị tạm sự suy của một cơ quan, và xét vì số lượng các cơ quan ghép (greffon) (dầu đó là giác mạc, thận, gan, phổi, tim hay tủy xương) vẫn thấp hơn số các bệnh nhân đang chờ đợi để được ghép, nên việc sử dụng các tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires), trong thời gian đến hay về lâu về dài, mang lại những niềm hy vọng thật sự. Cách nay không lâu, trên chuột, các nhà nghiên cứu Pháp, trong hai tháng, đã thành công làm phát triển, trong vùng tim bị thương tổn, các tế bào tim người, phát xuất từ những tế bào gốc phôi thai.Trong môi trường thuận lợi này, các tế bào gốc đã biệt hóa thành những cardiomyocyte và những mô tim đã bắt đầu tái sinh.
LỚP LƯỠNG CƯ (AMPHIBIEN) Trái với chim và các động vật có vú, những động vật như con kỳ giông có khả năng tái sinh một cách ngẫu nhiên vài bộ phận của cơ thể của chúng. Các nhà nghiên cứu cố gắng khám phá những cơ cấu điều khiển di truyền (commandes génétiques) của sự tái sinh ngẫu nhiên này. Thí dụ họ đã cho thấy trong phòng thí nghiệm rằng những con gà giò (poulet) có những gène cần thiết cho sự tái sinh này.
NÃO BỘ. Nhiều công trình nghiên cứu cũng đã được thực hiện nhằm tái sinh các neurone hay những sợi trục (axones) (những đoạn kéo dài chính), nếu chúng bị thương tổn. Những công trình nghiên cứu này có thể được áp dụng trong các bệnh thoái hóa của não bộ như bệnh Alzheimer cũng như những rối loạn thần kinh khác.
GAN. Vài nhóm nghiên cứu khảo sát về sự thực hiện các khuôn nhân tạo (matrice artificielle) mà trên hoặc trong đó những loại tế bào khác nhau có thể tăng sinh. Ý tưởng khác, thí dụ trong trường hợp gan, có thể sử dụng cái khuôn 3 chiều không gian được làm mất tế bào (matrice tridimensionnelle décellularisée) của cơ quan để làm tăng sinh trở lại những tế bào gan, như đã được thực hiện trên động vật. Nhưng ta vẫn còn xa mới có thể thực hiện điều đó trên người.
Các cơ quan nhân tạo nhiên hậu sẽ mang lại một giải pháp thay thế cho ghép cơ quan (transplantation).

NHỮNG CƠ QUAN NHÂN TẠO SẼ BIẾN HÓA CƠ THỂ CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO ?
1. Não bộ : Các điện cực hay một puce được cắm vào trong phần não bộ bị thương tổn cho phép bệnh nhân có được trở lại vài năng lực.
2. Mắt : Một camera truyền những hình ảnh đến một ordinateur được mang ở dây nịt. Sau khi được xử lý, các hình ảnh được gởi trở lại lên não bộ nhờ các điện cực.
3. Tim : Một trái tim hoàn toàn nhân tạo cứu chữa tạm thời những trường hợp suy tim nặng, mà không cần thiết bị bên ngoài. Tim tích điện lại nhờ cảm ứng qua da.
4. Phổi. Một kỹ thuật décellularisation-recellularisation cho phép tái tạo các lá phổi.
5. Tụy tạng. Lưu lượng của một bơm insuline, được kết hợp với một capteur (đo nồng độ đường trong máu), được điều chỉnh bởi một ordinateur.
6. Thận. Một quả thận nhân tạo có thể đặt gần bàng quang lọc máu trong những trường hợp suy thận.
7. Khung xương. Một thiết bị bên ngoài được gắn với cơ thể, làm khung xương mạnh hơn.
8. Bàn tay. Các microcapteur lý giải các thông tin được não bộ gởi đến cơ bị thiếu. Các microprocesseur khởi động các động cơ để làm các ngón tay hoạt động.
9. Cẳng chân. Một máy khích thích (stimulatuer) được khởi động nhờ một ordinateur, gởi các xung động, qua các dây câble, đến những điện cực được cắm trong cơ để kích thích.

GREFFES. Đứng trước một cơ quan bị hỏng làm lâm nguy đời sống của bệnh nhân, thuờng cần phải ghép cơ quan. Tuy nhiên việc nhờ đến các cơ quan nhân tạo hay sinh-nhân tạo (organe artificiel hay bioartificiel) có vẻ như là một giải pháp thay thế để giải quyết tình trạng thiếu hụt kinh niên các mẫu ghép, khi một ung thư cấm không được điều trị suy giảm miễn dịch cần thiết sau một ghép cơ quan hay khi sự ghép này không thể thực hiện được. Phát xuất từ những kỹ thuật thay thế sinh tử, các sinh công nghệ học (biotechnologie) và ingénierie cellulaire, những cơ quan thay thế này chỉ mới còn trong tình trạng dự án của các nhà ngoại khoa, các chuyên gia về các cơ quan, các nhà hồi sức hay các nhà khoa học.
Trái tim nhân tạo (cœur artificiel) từ lâu đã làm quan tâm bởi vì phẫu thuật ghép, điều trị chữa lành duy nhất của suy tim giai đoạn tiến triển, vấp phải một sự thiếu hụt rõ rệt các cơ quan ghép. Một trong những dự án tiền phong là dự án cœur implantable của GS Alain Carpentier (HEGP, Paris), “ cha đẻ ” của các van tim đầu tiên bằng ngoại tâm mạc bò (péricarde bovin), không sinh miễn dịch (non immunogène). “ Trái tim Carmat mà ông phát triển với nhóm EADS sẽ là trái tim sinh-nhân tạo có thể ghép đuợc (cœur implantable bioartificiel) đầu tiên, vì lẽ ông sử dụng các van này và vì lẽ các xoang tim cũng được lót bởi ngoại tâm mạc bò ”, GS Juan Carlos Chachques, ông cũng là thầy thuốc ngoại tim mạch (HEGP, Paris), đã nhấn mạnh như vậy. Carmat bao gồm một bioprothèse, cân nặng 900g và những yếu tố bên ngoài có thể mang được để monitoring và cung cấp điện. Phẫu thuật ghép đầu tiên trên người được dự kiến cuối năm 2011.
LÀM SAO KÍCH THÍCH SỰ TÁI SINH
Nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của Doris Taylor đã thực hiện những cố gắng rất cải tiến, trước hết trên chuột và mới đây trên tim người. Tim trước hết được truyền bởi các chất gột sạch (détergents) có tác dụng loại bỏ các tế bào nhưng để lại cái khuôn (matrice) nguyên vẹn. “ Khuôn collagène này vẫn giữ cấu trúc và hệ van của nó, nghĩa là các sợi élastine, các polysaccharide…Rồi nó được cấy với những tế bào tim và những tế bào nội mô (cellules cardiaques et endothéliales), tái tạo dần dần cơ quan. Ở chuột, trái tim thu được, được duy trì bằng tiêm truyền, đã cho thấy tim co bóp sau vài ngày và một chức năng bơm sơ đẳng ” , GS Chachques đã giải thích như vậy.
Bắt đầu từ một canh cấy các tế bào của chính bệnh nhân, ta thu được một tim ghép hoàn toàn tương hợp. “ Trước hết phải đánh giá nguy cơ do truyền các chất gột sạch (détergents), phải dành kỹ thuật này cho những trái tim không thể sử dụng duoc để ghép, và phải trắc nghiệm nó trước tiên để làm tái sinh một vùng giới hạn của tim ”, GS Chachques đã đánh giá như vậy. Điều mà ông thử làm một cách khác trên cơ tim của bệnh nhân bị thương tổn bởi nhồi máu cơ tim bằng cách bọc bằng những “ patch ” có hoạt tính sinh học (bioactif) gồm những tế bào gốc được cố định trong collagène hay những nanofibre, để kích thích sự tái sinh.
Năm qua, cùng kỹ thuật décellularisation-recellularisation đã cho phép hai nhóm nghiên cứu Hoa kỳ (Petersen và Ott), nhờ bảo tồn cấu trúc phổi và huyết quản, đã tái tạo phổi nơi chuột. Sau khi được ghép, những lá phổi này đã đảm bảo trong vài giờ quá trình trao đổi khí với máu. Nhưng nhiều câu hỏi về loại tế bào phải sử dụng, mức độ tin cậy của sự tái sinh và các cơ chế liên quan, phải được giải quyết trước khi thực hiện trên người trong một tương lai còn xa.
Ngày nay không có giải pháp thay thế cho việc ghép phổi : không thể có được một hệ thống trao đổi khí hiệu quả như lá phổi, trong một không gian thu nhỏ của lồng ngực với một diện tích trao đổi khí huyết 70m2. Những kỹ thuật duy nhất hiện có, đó là những kỹ thuật bổ sung từ bên ngoài, được sử dụng trong hồi sức. “ Các hệ tuần hoàn ngoài cơ thể (circulation extracorporelle) bây giờ cho phép hỗ trợ hô hấp (assistance respiratoire) trong trường hợp suy hô hấp nặng. Nhưng điều đó vẫn là một kỹ thuật mũi nhọn, ít có thể miniaturisable, có những chỉ định rất chọn lọc, trong lúc chờ đợi phục hồi hay ghép, GS Alain Combes (CHU Pitié-Salpetrière, Paris) đã giải thích như vậy. “ Mặc dầu những tiến bộ quan trọng, kỹ thuật hỗ trợ này hôm nay vẫn chỉ là tạm thời, chuyên gia về hồi sức đã xác nhận như vậy. ”
Première mondiale, ghép phế quản (greffe de bronche) được thực hiện bởi GS Emmanuel Martinod (bệnh viện Avicenne, Paris) vấp phải một sự mâu thuẫn : mô phế quản có tính chất rất sinh miễn dịch (immunogène) và một điều trị làm suy giảm miễn dịch không thể thực hiện ở một bệnh nhân ung thư. “ Do đó chúng tôi chọn sử dụng một khúc đoạn động mạch chủ mà nội mô, lớp tế bào duy nhất sinh miễn dịch, được phá hủy bởi sự bảo tồn đông lạnh (cryopréservation), làm cho việc làm suy giảm miễn dịch trở thành vô ích, thầy thuốc ngoại khoa đã giải thích như vậy. Sau khi được thiết đặt, khúc đoạn động mạch chủ, được làm cứng nhờ một stent, dần dần được bao phủ bởi một biểu mô phế quản nhờ colonisation từ các đầu của mẫu ghép.” Thủ thuật sẽ được lập lại trên một loạt các bệnh nhân rất được chọn lọc.
(LE FIGARO 23/5/2011)

4/ THẬN VÀ BÀNG QUANG : RẤT NHIỀU KỸ THUẬT
Ghép thận, mặc dầu là giải pháp tốt nhất trong suy thận giai đoạn cuối, nhưng không thỏa mãn tất cả các nhu cầu. Nhiều bệnh nhân tùy thuộc vào những thẩm tách máu (hémodialyse) 3 hay 4 lần mỗi tuần để lọc máu khỏi các chất cặn bã, đi xuyên qua một màng (membrane) trong một chất dịch thẩm tách (liquide de dialysat).
Trong vòng 10 năm, công nghệ học đã tiến triển nhiều. “ Từ nay máy biết bắt và phân tích nhiều tham số của bệnh nhân để đáp ứng liên tục sự thẩm tách, do đó một sự dung nạp vật lý tốt hơn. Các chất thẩm tách (dialysat) vô cùng thuần khiết đã làm giảm quá trình viêm, do đó làm giảm các biến chứng. Có được nhờ nanotechnologie, những màng thẩm tách mới, trơ (inerte) với máu, có các lỗ được định cỡ, cho phép thích ứng sự lọc với nhu cầu, GS Bernard Canaud (CHRU Montpellier) đã giải thích như vậy. Trong tương lai, các huyết quản sinh nhân tạo (vaisseaux bioartificiels) phát xuất từ các tế bào gốc của các bệnh nhân, đã được trắc nghiệm trên vài bệnh nhân đuợc thẩm tách, có thể cho phép cải thiện đường tĩnh mạch (accès veineux).
Mặc đầu có những hiệu năng ưu việt, sự thẩm tách gián đoạn (dialyse intermittente) không thể cạnh tranh với quả thận hoạt động một cách liên tục. Phải gần với tình huống sinh lý, với những thẩm tách dài lâu hơn, thường xuyên hơn, vậy cần phát triển nhưng máy có thể mang được, có thể sử dụng tại nhà và có khả năng tái sinh dịch thẩm tách, thầy thuốc chuyên khoa thận đã nhấn mạnh như vậy. Đối với ông một quả thận nhân tạo có thể thiết đặt (un rein artificiel implantable) sẽ ra đời trong 10 năm đến. Kích thước của bình thẩm tách (dialyseur), đã được chia 10 trong 10 năm, sẽ đạt kích thước của một bao thuốc lá. Nếu ta giải quyết được vấn đề đường tĩnh mạch (accès au sang) và sự đông máu, việc thiết đặt bình thẩm tách hoạt động liên tục gần bàng quang trở nên có thể thực hiện được.”
Futuriste hơn, các prototype thận nhân tạo Anh-Mỹ, có thể mang theo người, làm tái sinh máu một cách liên tục, đã được trắc nghiệm vài giờ trên các bệnh nhân. Nhưng năng suất của chúng vẫn còn thấp và mức độ an toàn không chắc chắn. Một sự sử dụng thông thường dường như vẫn còn rất xa vời, GS Canaud đã đánh giá như vậy. Đường hướng khác, thận sinh-nhân tạo (rein bioartificiel), đưa các tế bào thận vào bình thẩm tách. Tái tạo một quả thận, rất phức tạp, từ những tế bào gốc dường như còn xa vời hơn.
Trong niệu học, bàng quang đôi khi được lấy đi, như trong trường hợp ung thư. Sự tái tạo bàng quang từ một đoạn ruột đã trở thành quy tắc và phục hồi với những kết quả tốt bình chứa bàng quang (réservoir vésical), GS François Haab (bệnh viện Tenon, Paris) đã giải thích như vậy. Sự phát triển các bàng quang nhân tạo do đó đã bị bỏ rơi, nhưng những thử nghiệm lâm sàng mới đây đã tái tạo, một phần hay toàn bộ, một bàng quang nhờ một matrice sinh học vô tế bào (matrice biologique acellulaire), được cấy với những tế bào bàng quang của bệnh nhân.”
Thay thế khác : thay thế cơ vòng bàng quang (sphincter vésical), có nhiệm vụ đóng bàng quang. Trong chứng són đái nặng, việc đặt một implant sphinctérien có thể bơm phồng đè ép kênh niệu đạo(canal uréthral), cho phép bệnh nhân tiểu tiện theo nhu cầu của mình bằng cách ấn trên một bơm nhỏ được đặt dưới da, thầy thuốc chuyên khoa niệu học đã chỉ rõ như vậy. 4 nhóm nghiên cứu, trong đó có nhóm của chúng tôi, bây giờ đang tìm cách phục hồi lực của cơ vòng tự nhiên suy yếu bằng cách tiêm vào đó những tế bào cơ của bệnh nhân. Các kết quả, còn không đồng đều, khiến chúng tôi dự kiến sử dụng những tế bào ít được biệt hoa hơn. ”
(LE FIGARO 23/5/2011)

5/ HƯỚNG VỀ CÁC TỤY TẠNG VÀ GAN THAY THẾ.
Vài cơ quan cũng đảm bảo một chức năng tổng hợp. Thí dụ, tụy tạng với các đảo Langerhans tiết insuline, điều hoà vô cùng chính xác nồng độ của glucose trong máu. “ Những thủ thuật ghép các đảo Langerhanscho phép vài bệnh nhân đái đường, những người được ghép thận hay những bệnh nhân có những đợt hạ đường huyết nghiêm trọng đe dọa mạng sống, ổn định bệnh đái đường của họ và thường không cần các mũi tiêm. Nhưng chỉ với cái giá phải chịu một điều trị suy giảm miễn dịch, và sự sản xuất insuline từ các mẫu ghép thường giảm với thời gian ”, GS Eric Renard (CHU Montpellier) đã giải thích như vậy.
Trong số các giải pháp thay thế có tụy tạng nhân tạo. “ Tụy tạng nhân tạo kết hợp một bơm insuline và một capteur đo nồng độ glucose một cách liên tục, với một algorithme, một chương trình phức tạp được quản lý bằng ordinateur điều chỉnh một cách thường trực lưu lượng của bơm tùy theo capteur. ”
Vấn đề là còn phải bắt chước tốt nhất sinh lý. “ Capteur glucose được đặt dưới da có một thời hạn tiềm tàng ngắn ngủi đối với nồng độ glucose trong máu, điều này làm cho sự cân bằng của đường huyết sau bữa ăn, và insuline, cũng được phát ra dưới da, đòi hỏi một thời hạn ngắn để khuếch tán trong máu ”, Thầy thuốc chuyên khoa gan đã giải thích như vậy. Tất cả mọi khó khăn, đó là tạo một algorithme có tính đến những bó buộc này. “ Trong những thử nghiệm được tiến hành ở bệnh viện, tụy tạng nhân tạo này chia 5 nguy cơ hạ đường huyết. Nhưng tôi sẽ tiến hành một thử nghiệm tại nhà, vào ban đêm, là lúc nguy cơ này cao nhất, với một télémonitoring cho phép theo dõi và can thiệp từ xa vào hệ thống. ” Dự án châu Âu này sẽ có kết quả trong 3 năm nữa.
MỤC TIÊU : ENCAPSULER CÁC ĐẢO NGƯỜI.
Hướng nghiên cứu khác : tụy tạng sinh nhân tạo (pancréas bioartificiel). Việc ghép các đảo Langerhans heo encapsulé đã bị bỏ vì nguy cơ tắc và cần thiết phải điều trị suy giảm miễn dịch làm giới hạn việc ghép các đảo Langerhans trên người. “ Mục tiêu sẽ là encapsuler các đảo Langerhans người để làm giảm các phản ứng miễn dịch, như vậy sự làm giảm điều trị suy giảm miễn dịch cần thiết. Để đạt được điều này, những nghiên cứu rất sơ bộ đánh giá các màng (membrane) tương tự với các màng của thận nhân tạo, thẩm thấu với glucose và insuline nhưng không với các kháng thể. ” Còn về sự biệt hóa của các tế bào gốc thành các đảo Langerhans, điều này tạo nên nhiều vấn đề hơn.
Là cơ quan phức tạp nhằm biến đổi, tích trữ, tổng hợp và lọc, gan lại còn đặt ra nhiều vấn đề hơn. “ Ngày nay không có hỗ trợ gan (suppléance hépatique) có hiệu quả, có khả năng thay thế ghép gan, GS Didier Samuel (bệnh viện Paul-Brousse, Villejuif) đã giải thích như vậy. Những hệ thống nhân tạo thẩm tách bằng albumine cho phép khử độc huyết thanh cua những bệnh nhân bị suy gan nghiêm trọng và đôi khi qua được giai đoạn nguy hiểm. Nhưng chúng không thay thế những chức năng khác của gan, mà chỉ có những tế bào người mới có thể đảm bảo. ”
Những thiết bị gan sinh nhân tạo ngoài cơ thể dựa trên những tế bào gan được cấy đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng rất sơ bộ ở Hoa Kỳ và Trung Quốc. Ở Pháp, Cécile Legallais (CNRS, UTC Compiègne) đã phát triển một bioréacteur cho phép cấy những tế bào gan encapsulé trong những sợi alginate, vẫn hoạt động hơn 15 ngày. “ Một dự án chung với nhóm của Villejuif sẽ cho phép chúng tôi đánh giá khá nhanh trên lâm sàng ”, bà đã hy vọng như vậy.
(LE FIGARO 23/5/2011)

6/ THỜI KỲ MÃN KINH VÀ PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO.
Các phình động mạch não 3 lần nhiều hơn nơi phụ nữ vào thời kỳ mãn kinh. Vì œstrogène có một tác dụng lên chức năng và cấu trúc của các huyết quản, nên ta quan sát thấy thường nhất những phình động mạch này sau thời kỳ mãn kinh. Một công trình nghiên cứu được tiến hành ở Chicago trên 60 phụ nữ bị bệnh lý này (không do một di tật huyết quản) đã cho thấy một tương quan mạnh giữa sự hạ nồng độ œstrogène và bệnh lý này.
(PARIS MATCH 19/5-25/5/2011)

7/ DUNG DỊCH DAKIN
Trong số những danh từ riêng được sử dụng mà không nghĩ đến, “ Dakin ” là một trong những danh từ phổ thông nhất. Công thức khử khuẩn này đã cứu hàng ngàn người lính trong Đệ nhất thế chiến, nhưng người chế tạo nó là một nhà hóa học vẫn còn ít được biết đến
Sinh ở Luân Đôn năm 1880, Henry Drysdale Dakin là người con trai của một người buôn kim loại. Ông đi Leeds học hóa học hữu cơ ở đại học Victoria. Đại học này sau đó trở thành University of Leeds nổi tiếng. Ông tốt nghiệp năm 21 tuổi và được tuyển dụng vào Institut Lister de médecine préventive, ở đây ông nghiên cứu yếu tố chống đông máu của gan, rồi ở Institut Jenner, ở đây ông tổng hợp adrénaline. Ông say mê các enzyme (men) đến độ ông được mệnh danh là “zyme” và ông nghiên cứu cách tác dụng của lipase. Ở Heidelberg, ông cộng tác với người được giải thưởng Nobel về y học và sinh lý học tương lai năm 1910, Albrecht Kossel. Cùng nhau hợp tác, họ khám phá men arginase của gan và Dakin đề nghị khái niệm về sự gắn không bền của enzyme vào substrat của nó bởi một chỗ nổi (relief) đặc hiệu, thụ thể (récepteur). Vào năm 1905, Christian Archibald Herter, người sáng lập của Journal of Biological Chemistry mời ông làm việc trong phòng thí nghiệm tư của ông này ở Nữu Ước, một trong những cơ sở hiếm hoi dành cho nghành khoa học đang mới ra đời là sinh hóa học. 5 năm sau, lúc Herter qua đời, vợ ông ta khẩn khoản Dakin tiếp tục sự nghiệp và ông đã sẵn lòng chấp thuận ; vả lại ông sẽ cưới người vợ góa này vài năm sau đó.
DUNG DỊCH NỔI TIẾNG
Mặc dầu sống ở Hoa Kỳ, Dakin vẫn là British và phục vụ cho nước Anh trong chiến tranh 14-18. Ông có mặt ở Pháp, tại Compiègne, nơi đây ông hợp tác với thầy thuốc ngoại khoa và người được giải Nobel năm 1912, trong việc nghiên cứu một pansement lý tưởng cho các thương nhân. Ông nghĩ ra công thức mang tên ông, một dung dịch sát khuẩn chứa chất hypochlorite de sodium, được sử dụng để điều trị những vết thương bị nhiễm khuẩn. Đã hiện hữu những chất diệt vi khuẩn (bactéricide) mạnh hơn, như các chất chứa acide phénique hay iode, nhưng những chất này giết chết những tế bào sống và mất tính hiệu quả của chúng khi huyết thanh của máu hiện diện. Dung dịch Dakin không hề có những điều bất lợi này. Tác dụng của nó lên các tế bào chết hiệu quả đến độ chất dịch Dakin gia tốc sự phân tách các mô chết và sống. Carrel cải thiện việc săn sóc các vết thương bằng cách thêm vào sự tẩy rửa cơ học (nettoyage mécanique), sự cắt lọc ngoại khoa (débridement chirurgical) các mô hoại tử. Một trong những thử nghiệm của Dakin là sử dụng chloramine T, mà ông đề nghị để tiệt trùng nước uống. Trong trận đánh Dardanelles, ông tổ chức việc sử dụng dung dịch Dakin trên tàu-bệnh viện Aquatania, trong đó ông thiết đặt một máy có khả năng sản xuất hypochlorite nhờ điện phân (électrolyse).
THỜI KỲ VINH DỰ.
Sau chiến tranh, Dakin cùng vợ dời phòng thí nghiệm vào trong một ngôi nhà được bao quanh bởi một domaine đẹp chế ngự sông Hudson, ở Scarborough, ngôi làng nhỏ cách Nữu ước 30 km. Mỗi ngày ông dắt chó berger đi dạo và mặc đầu có sự cấm đoán, ông vẫn trồng nho và sản xuất rượu vang ! Với tư cách là nhà hóa học nổi tiếng quốc tế, ông tiếp nhận cuộc thăm viếng của nhiều người có chức vị của cộng đồng khoa học. Dĩ nhiên ông được đề cử để nhận nhiều danh hiệu danh dự ở đại học Yale và Leeds và được bầu làm ủy viên của Institute of Chemistry và của Royal Society. Ở ngoại quốc, ông được thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh và nhận nhiều huy chương vì những khám phá khoa học. Mặc dầu được tất cả những trọng vọng này, Dakin vẫn giữ một lối sống đơn giản và ẩn dật và dành phần lớn thời gian cho nghiên cứu. Cùng với Henry Hallett Dale, ông nghiên cứu albumine của trứng gà và của vịt cái, và cho thấy rằng trên thực tế, dưới cùng một thuật ngữ albumine được che dấu những chuỗi acide aminé theo một thứ tự khác nhau, điều này khiến ông đưa ra một lời hóm hĩnh rằng “ Dale và tôi đã chứng tỏ rằng một con gà mái không phải là một con vịt cái ! ». Ngoài ra Henry là một người đàn ông thật thà, khiêm tốn và nhút nhát, từ chối phát biểu trước công chúng. Vào năm 1926, Dakin khám phá rằng một người cộng tác, độc lập với ông, đã đi đến cùng những kết luận về thyroxine. Trong khi Journal of Biological Chemistry chuẩn bị công bố bản văn của người cộng tác này, thì Dakin rút lại bài báo để tạo điều kiện thuận lợi cho người đồng nghiệp. Sau một thời gian dài bị bệnh và sau khi vợ qua đời, Dakin dường như không còn ham thích với cuộc sống và qua đời trong khi ông đang ngủ, một năm sau đó, lúc ông được 71 tuổi.
(LE GENERALISTE 19/5/2011)

8/ NHỮNG CHỈ DẤU NGUY CƠ RẤT SỚM CỦA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG ĐÃ ĐƯỢC KHÁM PHÁ.
Ta sẽ tiên đoán sự xuất hiện của bệnh đái đường loại 2 (bệnh đái đường của tuổi trưởng thành), hơn mười năm trước, chỉ bằng một mẫu nghiệm máu ? Đó là điều các nhà nghiên cứu của Havard (Hoa Kỳ) làm cho hy vọng. Họ đã khảo sát các mẫu nghiệm máu được lấy trong những năm 1990 trên những người khỏe mạnh.Vài trong số những người này sau đó đã trở nên bị bệnh đái đường. Thế thì họ có những gì khác nhau ? Các thầy thuốc đã tìm thấy trong máu của họ 5 acide aminé với số lượng dồi dào : isoleucine, leucine, valine, tyrosine và phénylanine. Như thế những acide aminé này có thể là những chất chỉ dấu rất sớm cho phép tác động lên thượng nguồn để chống lại bệnh.
(SCIENCE ET VIE 6/2011)

9/ BỆNH CROHN : MIỄN DỊCH LIỆU PHÁP CHỦ ĐỘNG (IMMUNOTHERAPIE ACTIVE).
GS Pierre Desreumaux, gastroentérologue của CHU de Lille, giám đốc của đơn vị Inserm 995 về sinh lý của các bệnh ruột non và BS Pierre Vandepapelière, giám đốc nghiên cứu, giải thích niềm hy vọng của liệu pháp miễn dịch chủ động này, được trình bày trong hội nghị sắp đến về gastroentérologie.
Hỏi : Bệnh Crohn (vấn đề thật sự của y tế cộng đồng) tiến triển như thế nào ?
GS Pierre Desreumaux. Ở Pháp, 250.000 người bị bệnh lý viêm mãn tính nghiêm trọng này của ruột non. Bệnh Crohn tiến triển thành từng đợt, được gián đoạn bởi những thời kỳ thuyên giảm. Đó là một bệnh tương đối invalidant, được biểu hiện bởi những rối loạn nhu động ruột, ỉa chảy, đau bụng, ăn uống khó khăn và gầy ốm. Không điều trị các nguy cơ đáng sợ nhất là : 1. Loét thành ruột sẽ gây nên thủng. 2. Hẹp và tắc ruột. 3. Nguy cơ biến thành ung thư sau nhiều năm. Vấn đề lớn của bệnh này là ta không thể chữa lành được nó.
Hỏi : Ta có biết được nguyên nhân hay không ?
GS Pierre Desreumaux. 3.000 đến 3.500 trường hợp mỗi năm có thể là do những yếu tố ăn uống, nhiễm trùng, di truyền…nhưng ta không biết về nguồn gốc thật sự.
Hỏi : Cho đến nay ta điều trị các bệnh nhân như thế nào ?
BS Pierre Vandepapelière : Đó là một bệnh lý tự miễn dịch (pathologie auto-immune), trong đó những tế bào của hệ miễn dịch, khi chúng được tăng kích thích (lồng lên), tạo nên những phân tử nhỏ có hại, các cytokine, mà chất độc nhất, các TNF (Tumor Necrosis Factor), làm dễ quá trình viêm. Như vậy mục đích của điều trị là phong bế sự sản xuất quá mức của TNF. Trong giai đoạn đầu tiên, ta đã hiệu chính những loại thuốc nhằm kiểm soát phản ứng miễn dịch này và được gọi là “ những chất điều biến miễn dịch ” (immuno-modulateur).
Hỏi : Các kết quả điều trị có được thỏa mãn không ?
BS Pierre Vandepapelière : Các chất điều biến miễn dịch này có hiệu quả không đủ và gây nên những phản ứng phụ (như là những vấn đề thận)
Hỏi : Tiến bộ tiếp theo trong điều trị là gì ?
BS Pierre Vandepapelière : Với những thuốc điều biến miễn dịch này, ta đã thực hiện một điều trị cơ bản (traitement de fond) bằng những chất thường được sản xuất bởi cơ thể nhưng được “ chế tạo ” trong phòng thí nghiệm (các kháng thể đơn dòng, anticorps monoclonaux), nhằm chống lại một vật lạ. Phương pháp này được gọi là miễn dịch liệu pháp “ thụ động ” (immunothérapie passive) bởi vì được gây nên bởi các loại thuốc chứ không phải bởi cơ thể của người bệnh. Các kết quả rất tốt trong một năm. Nhưng sau đó đã xuất hiện một vấn đề đề kháng, giải thích những thất bại trong điều trị.
Hỏi : Quan niệm mới của ông về điều trị là gì ?
BS Pierre Vandepapelière : Nguyên tắc là làm cho chính hệ miễn dịch (chứ không còn ở trong phòng thí nghiệm nữa) sản xuất những kháng thể chống lại TNF có hại. Với những loại thuốc mới này, các TNF-kinoides, đó là một miễn dịch liệu pháp chủ động (immunothérapie active), bởi vì được phát khởi bởi chính cơ thể.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh tính hiệu quả của phương pháp này ?
BS Pierre Vandepapelière : Một công trình nghiên cứu nơi người đã được tiến hành vào năm 2008 trên 21 bệnh nhân, trong 18 tháng. Kết quả : ta đã thành công, mà không gây những tác dụng phụ, làm biến mất những triệu chứng nơi một nửa các bệnh nhân và mang lại một sự cải thiện rất rõ rệt nơi những bệnh nhân khác. Vậy đó là một première, vì lẽ ta thành công khiến hệ miễn dịch “ chế tạo ” những kháng thể (được gọi là đa dòng, anticorps polyclonaux), làm phong bế tác dụng có hại của các TNF. Những kết quả này, đã được trình bày ở nhiều hội nghị quốc tế, sẽ được trình bày trong tháng này ở Chicago, nhân một trong những hội nghị gastroentérologie lớn nhất của Hoa Kỳ. Một công trình nghien cứu quốc tế đang được tiến hành nơi 130 bệnh nhân.
Hỏi : Giáo sư Desreumaux, ông nghĩ gì về điều trị mới này ?
GS Pierre Desreumaux : Khái niệm về phương thức điều trị này quả thật là mới ! Đó là một loại tiêm chủng chống TNF (vaccination anti-TNF). Bình thường, những công trình nghiên cứu sắp đến hẳn chứng minh rằng với liệu pháp miễn dịch chủ động (immunothérapie active) này, sẽ không còn sự mất hiệu quả nữa, vốn được quan sát cho đến nay với các loại thuốc của liệu pháp miễn dich thụ động (immunothérapie passive). Vậy ta có thể tỏ ra lạc quan.
(PARIS MATCH 19/5-25/5/2011)

10/ CHỨNG TRẦM CẢM VÀ TRIỆU CHỨNG ĐAU
Nếu ta bị trầm cảm và được điều trị bằng Prozac, hay những thuốc chống trầm cảm khác thuộc họ ISRS (inhibiteur sélectif de la recapture de la sérotonine) thì tốt hơn là đừng bị thêm các triệu chứng đau cần dùng thuốc AINS (antiinflammatoire non stéroidien) hay paracétamol. Bởi vì, theo một công trình nghiên cứu của đại học Hoa Kỳ Rockfeller và được công bố trong tạp chí Pnas, sự sử dụng đồng thời hai loại thuốc này làm cho các thuốc chống trầm cảm ít có hiệu quả hơn. Trong thời gian đầu, các nhà nghiên cứu đã lưu ý đến những khác nhau về các hành vi của các động vật gậm nhấm được điều trị với những thuốc chống trầm cảm và nhận hoặc không vài AINS như ibuprofène hay aspirine. Họ đã nhận thấy rằng những hiệu quả do các thuốc chống trầm cảm kém hơn trong nhóm nhận cả hai thứ thuốc. Các kết quả sau đó được tìm thấy lại nơi người, tỷ lệ đáp ứng với các thuốc chống trầm cảm chuyển từ 54% nếu được cho đơn độc, xuống còn 40% trong trường hợp dùng thuốc phối hợp.
Hiện nay, cơ chế dược học giải thích vì sao AINS ức chế các thuốc chống trầm cảm, vẫn không được biết, nhưng các tác giả của công trình nghiên cứu yêu cầu các thầy thuốc kê toa cân nhắc sự cần thiết của việc kê toa hai loại thuốc và tìm những giải pháp khác để làm giảm đau.
(SCIENCE ET AVENIR 6/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(31/5/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s