Cấp cứu bệnh ngoài da số 2 – BS Nguyễn Văn Thịnh

NHIỄM TRÙNG DA DO VI KHUẨN
(BACTERIAL SKIN INFECTION)

David E. Bank
Associate in Clinical Dematology
Columbia University
New York

Những nhiễm trùng ngoài da do vi khuẩn, hay bệnh mủ da (pyoderma), thường nhất được gây nên bởi liên cầu trùng nhóm A (group A streptococcus) và tụ cầu trùng (staphylococcus aureus). Chốc lở (impetigo), viêm nang lông (folliculitis), furunculosis, và viêm tế bào (cellulitis) là những dạng thông thường của nhiễm trùng.

I. LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN
1. CHỐC (IMPETIGO).
Loại thông thường nhất là impetigo contagiosum, được gây bởi liên cầu khuẩn nhóm A hay tụ cầu khuẩn.
Sự phát ban thường xuất hiện ở mặt và các chi. Những dát đỏ phát triển thành những mụn nước, những mụn nước này vỡ đi, để lại một vẩy cứng màu mật ong điển hình thường được lấy đi dễ dàng nhưng tái phát. Sốt và nổi hạch vùng có thể xuất hiện. Vài trường hợp chốc lở được gây nên bởi những chủng gây viêm thận (nephritogenic strains) của liên cầu khuẩn, hậu quả là đôi khi viêm vi cầu thận cấp tính (acute glomerulonephritis) có thể xảy ra. Chốc lở cực kỳ lây, lan tràn do tự nhiễm (autoinoculation) (satellite lesion), do tiếp xúc gần, và vật lây (fomites) (khăn lau, khăn tắm). Nó thường gặp hơn trong những tháng ấm, ẩm của mùa hè.
Chốc mụn nước (bullous impetigo) thường được gây nên bởi tụ cầu khuẩn phage group II.Những mụn nước vàng trên mặt, các chi, và thân vỡ, để lại những dát tròn, đỏ, có giới hạn rõ rệt với một “collarette of scale”. Lại một lần nữa, nhiễm trùng rất lây nhiễm, và sốt và nổi hạch có thể xảy ra.
2.VIÊM NANG LÔNG (FOLLICULITIS)
Viêm nang lông là một bệnh mủ da (pyoderma), liên quan các nang lông, đặc biệt trong những vùng chịu sự đổ mồ hôi, sự ma xát, cào, và cạo. Coagulase-positive Staphylococcus là tác nhân gây bệnh thường gặp nhất. Viêm nang lông xuất hiện như những mụn mủ ngứa, đỉnh tròn (round-topped) thường được thấy nhất ở da đầu, mặt, đùi, và mông. Nếu chẩn đoán không chắc chắn, hãy khám mụn mủ bằng otoscope. Dấu hiệu xác nhận của viêm nang lông là sự hiện diện của một thân lông trong hầu hết các thương tổn.Folliculite (Viêm nang lông). Ở người trưởng thành, các nang lông (follicules pileux) có thể bị nhiễm bởi các tụ cầu khuẩn. Những vùng có lông thường ẩm và những ma xát ở đó đặc biệt nguy hiểm (thí dụ ở nách, trên mặt sau của cổ hay dưới cổ). Một viêm nang lông có thể là biến chứng sau khi bôi một pommat corticoide. Nó bắt đầu dưới dạng một điểm đỏ chung quanh lỗ của nang lông và tiến triển để cho một mụn mủ nông.
3. BỆNH NHỌT (FURUNCULOSIS)
Bệnh nhọt là một nhiễm trùng sâu của nang lông thường phát xuất từ một viêm nang lông đi trước. Các đinh nhọt (furuncle) là những nốt nhạy cảm, đỏ, từ 1-5 cm, trở nên chuyển sóng (fluctuant), sau đó mưng mủ. Chúng được thấy ở những vùng có lông, chịu đổ mồ hôi và ma xát, bao gồm mặt, đùi, mông, và da đầu. Trái lại, một áp xe thường là một thương tổn đơn độc không liên kết với những nang lông. Với bệnh nhọt tái diễn, hãy xét đến những tình trạng liên kết như bệnh đái đường, béo phì, điều trị corticostéroide, tình trạng thiếu immunoglobulin, neutropenie do bất cứ nguyên nhân nào, và defective neutrophils (chronic granulomatous disease, Chediak-Higashi syndrome)
4. VIÊM TẾ BÀO (CELLULITIS).
Viêm tế bào, một nhiễm trùng ở mô dưới da, gây sưng phân giới không rõ, nhạy cảm đau, đỏ. Nó thường được liên kết với sốt, nổi hach tại chỗ, và đường bạch huyết. Những nơi nhiễm trùng là những vùng chịu chấn thương nông, như mặt và các chi. Những vi trùng thường thấy nhất là coagulase-positive Staphylococcus và group A Streptococcus. Hiếm khi, ở những trẻ em không được tiêm chủng dưới 5 tuổi, Hemophilus influenzae loại B (HITB) có thể gây viêm tế bào, đặc biệt của những vùng mặt và quanh hốc mắt, mặc dầu điều này cực kỳ hiếm trong thời đại HIB vaccine. Những trẻ em với HITB cellulitis có thể được liên kết với nhiễm độc và sốt cao, và thương tổn có thể phát triển một màu tím.
5. VIÊM QUẦNG (ERYSIPELAS)
Viêm quầng là một viêm tế bào nông không thông thường được gây nên bởi liên cầu khuẩn group A. Một sưng căng, đỏ, nhạy cảm đau, được giới hạn rõ rệt, có bờ cứng và lan nhanh. Sốt, run lạnh, khó ở, đau đầu, và mửa là những triệu chứng thường gặp. Mặt là nơi thường gặp nhất của viêm quầng, và thương tổn xuất hiện ở vùng da bị một vết thương hay mụn mủ. Ban bắt đầu như một mảng đỏ lớn nhanh chóng. Chẩn đoán dựa trên bệnh sử và hình dạng của ban.

II. XỬ TRÍ Ở PHÒNG CẤP CỨU
1. CHỐC.
Điều trị với pommat mupirocin 2% ba lần mỗi ngày. Đối với bệnh lan rộng hay nếu mupirocin không có sẵn hay không hiệu quả, dùng 40 mg/kg/ngày cefadroxil (chia hai lần mỗi ngày), cephalexin (4 lần mỗi ngày), hay erythromycin (bốn lần mỗi ngày) trong 7-10 ngày, clindamycin (20 mg/kg/ngày chia 4 lần mỗi ngày) và amoxicillin-clavulanate (200/28,5, 400/57 hay 875/125), amoxicillin (45 mg/kg/ngày chia 2 lần mỗi ngày. Điều trị những thương tổn xuất tiết với nước robinet hay dung dịch Burow 5% trên open dressings trong 10 phút 3 lần mỗi ngày.
2. VIÊM NANG LÔNG (FOLLICULITIS)
Viêm nang lông đôi khi đáp ứng với 7 đến 14 ngày điều trị với một kháng sinh dùng tại chỗ (mupirocin 2%, clindamycin 1%). Nếu đáp ứng không thích đáng, hãy điều trị với cùng kháng sinh đường miệng như đối với chốc lở trong 7 đến 10 ngày
3. ĐINH NHỌT (FURUNCULOSIS) VÀ VIÊM TẾ BÀO
Điều trị với cùng kháng sinh uống như đối với chốc lở. Nước ngâm ấm mỗi hai giờ có thể hữu ích phụ vào điều trị kháng sinh. Hãy vẽ các bờ của nhiễm trùng với một pen để đáp ứng với điều trị có thể được đánh giá một cách khách quan. Tuy nhiên, nếu có sốt, nổi hạch gần, và đường bạch huyết, hãy nhập viện bệnh nhân và điều trị với kháng sinh tĩnh mạch (nafcillin 100 mg/kg/ngày chia mỗi 6 giờ, cefazolin 50 mg/kg/ngày chia mỗi 8 giờ, hay clindamycin 40 mg/kg/ngày chia mỗi 6 giờ)
Nếu nghi viêm tế bào do Hemophilus influenzae type B (HITB), hãy thử máu (CBC) và cấy máu và thực hiện chọc dò tủy sống nếu bệnh nhân dễ kích động. Cho bệnh nhân nhập viện để điều trị băng đường tĩnh mạch với cefuroxime (150 mg/kg/ngày chia mỗi 8 giờ), cefotaxime (150 mg/kg/ngày chia mỗi 6 giờ), hay ceftriaxone (100 mg/kg/ngày chia mỗi 12 giờ).
Điều trị furunculosis hay viêm tế bào ở một đứa trẻ với suy giảm miễn dịch (immune deficiency) với nafcillin tĩnh mạch (150 mg/kg/ngày chia mỗi 6 giờ). Thêm cefotaxime (150 mg/kg/ngày chia mỗi 6 giờ) nếu nghi HITB.
4. VIÊM QUẦNG
Điều trị với penicillin (250 mg 4 lần mỗi ngày) trong 10 ngày. Có thể cần nhập viện để điều trị bằng đường tĩnh mạch nếu đáp ứng không thích đáng.

III. THEO DÕI
– Chốc : 2 đến 3 ngày nếu không cải thiện
– Viêm nang lông : theo dõi bởi thầy thuốc gia đình trong 1 đến 2 tuần
– Furunculosis : 2 đến 3 gnày
– Viêm tế bào không sốt : 1 đến 2 ngày

V. NHỮNG CHỈ ĐỊNH NHẬP VIỆN
– Nghi viêm tế bào do HITB
– Furunculosis hay viêm tế bào ở một bệnh nhân bị thiếu hụt miễn dịch (immune deficiency)
– Sốt, nổi hạch gần, và đường bạch huyết liên kết với viêm tế bào hay nhiễm trùng da sâu khác
– Điều trị ngoại trú đáp ứng không thích đáng

VI.VÀI PHOTOHình trên bên trái : Đinh nhọt (Furoncle). Nếu một nhiễm trùng tụ cầu khuẩn của một nang lông (follicule pileux) lan rộng suốt chiều dài của nó và gây một viêm mạnh và một sự mưng mủ, ta nói đó là một đinh nhọt (furoncle). Nếu nhiều nang lông kế cận bị liên quan trọng một viêm hội tụ, ta gọi đó là anthrax. Những thương tổn này rất đau đớn.
Hình bên phải : Một furonculose có thể là dấu hiệu đầu tiên của một bệnh đái đường và do đó phải tìm kiếm một cách hệ thống sự hiện diện của đường trong nước tiểu (glucosurie)Impétigo contagieux de la face : Đó là sự khuếch tán của một nhiễm trùng tụ cầu khuẩn hay một nhiễm trùng liên cầu khuẩn của biểu bì. Chốc thường gặp ở trẻ em và thường phát xuất từ các lỗ mũi, tạo một bể chứa vi trùng. Nhiễm trùng được truyền do gãi và do tiếp xúc giữa người với nhau và những thành viên khác của gia đình thường bị nhiễm. Bệnh này thường được thấy trong những tháng hè. Trong những vùng nhiệt đới, các thương tổn có thể rất lan rộng và nghiêm trọng và có một dạng dịch bệnh. Bệnh này lành một cách nhanh chóng dưới tác dụng của một pommat kháng sinh. Khi vi trùng nổi trội là liên cầu khuẩn (streptocoque), chốc có thể được tiếp theo sau bởi một viêm vi cầu thận cấp.Impétigo contagieux (Chốc lây)
– Hình bên trái : Chốc lây của mặt (impétigo contagieux du visage).Ta chứng thực tính chất nông của nhiễm trùng và dạng vẻ đặc trưng của những vảy cứng thanh dịch (croutes séreuses) màu mật. Eczéma và những thương tổn của herpes simplex có thể bị nhiễm trùng và bị “chốc hóa” (impétiginé)
– Hình bên phải : Nếu nhiễm trùng mức độ nghiêm trọng nhẹ, những vảy cứng dày và thanh dịch có thể được tạo thành, như trên mặt của cô thiếu nữImpétigo bulleux du tronc (Chốc bọng nước của thân mình) : Khi nhiễm trùng lan rộng một cách nhanh chóng ở một trẻ nhỏ, tầng sừng (stratum corneum) bị nâng lên để trở thành phần cao của một bọng nước (bulle) nông. Bọng nước này vỡ để tạo thành một vết sướt. Ta thấy trên thân mình của đứa bé này những bọng nước và những vết sướt.ECHTYMA (CHỐC LOÉT) : Những nhiễm trùng vi khuẩn có thể dẫn đến sự tạo thành những loét nhỏ sâu và có vảy cứng, có thể lành nhưng để lại những vết sẹo. Đó là điều đặc biệt xảy ra ở những người suy dinh dưỡng.Viêm mạch bạch huyết và viêm tế bào (lymphangite et cellulite)
Những vệt dài đỏ và đau chạy dọc theo cánh tay hau đùi chân là do nhiễm trùng liên cầu khuẩn của các mạch bạch huyết dẫn lưu chi bị nhiễm trùng. Những nguyên nhân thường gặp là một chàm bị nhiễm trùng (eczéma infecté) ở bàn tay và bàn chân hay một nhiễm nấm với những đường nứt ở những khoang phân cách các ngón chân. Ta có thể chứng thực một phì đại đau của các hạch bạch huyết ở bẹn và nách, kèm theo sốt cao và run lạnh. Chẩn đoán phân biệt với viêm huyết khối tĩnh mạch (thrombophlébite)Hình bên trái : Viêm quầng của cẳng chân (érysipèle de la jambe). Cẳng chân là noi ưa thích của loại nhiễm trùng này. Một ban xuất huyết (purpura) thường được thấy trong những thương tổn viêm của cẳng chân, dầu nguyên nhân là gì.
Hình bên phải : Viêm quầng của mặt (érysipèle de la face). Đó là một nhiễm liên cầu khuẩn cấp tính với một ban đỏ và phù đau. Những tái phát có thể được kèm theo bởi một sự gia tăng của phù bạch huyết (lymphoedème).

Reference :
– Clinical Manual of Emergency Pediatrics
– Emergency Medicine Manual
– Atlas en couleurs de Dermatologie

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/3/2021)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu bệnh ngoài da, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s