Thời sự y học số 571 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I/ KATALIN KARIKO : MỘT HY VỌNG CHỐNG ĐẠI DỊCH

      Bà là nguồn gốc của những technologie d’ARN messager mới chống đại dịch. Những kỹ thuật này đã cho phép chế tạo những vaccin đầu tiên chống Covid.

MỘT NGUỒN GỐC HUNG GIA LỢI

      Katalin Kariko, sinh 17/1/1955, đã lớn lên ở Kisujszallas, một thành phố vài ngàn dân nằm ở trung tâm của Hongrie. Đất nước của bà là một cọng hỏa nhân dân dưới chế độ cộng sản. Gia đình bà theo đạo thiên chúa và nghèo. Cha bà làm nghề hàng thịt. Học trình của bà xuất sắc. Say mê khoa học, bà theo sinh học và sinh hóa học, có được bằng tiến sĩ và bắt đầu những nghiên cứu hậu tiến sĩ ở trung tâm nghiên cứu sinh học của Viện hàn lâm khoa học ở Szeged.

     ARN messager (ARNm), mà vai trò trong tổng hợp các protéine đã được làm sáng tỏ năm 1961 (bởi những người Pháp Jacques Monod và François Jacob, cả hai được giải Nobel, và François Gros), rồi sự khám phá, năm 1980 bởi Tom Cech và Sidney Altman (Giải Nobel), rằng vài ARN cũng có thể có một vai trò xúc tác (catalyseur), như những enzyme, làm bà mê hồn. Viện hàn lâm của bà không có phương tiện để tài trợ những dự án nghiên cứu trong lãnh vực này. Vì thế, vào năm 1985, ba đánh liều, cùng với chồng và con gái 2 tuổi, giã từ Hongrie để đi Hoa Kỳ. Đó là một ra đi không trở lại.

NHỮNG NĂM ĐEN TỐI.

     Họ dấu tất cả những tiền tiết kiệm (1000 dollars) trong một con gấu bằng nhung lông, như thế đi qua bức màn sắt (cấm mang hơn 100 dollars) và đổ bộ xuống Nữu Ước khi chỉ có 10 dollars trong túi. May mắn thay, bộ môn sinh hóa của đại học Temple, ở Philadelphie, là nơi bà đã nạp đơn xin việc, tuyển mộ bà. Ít lâu sau bà được nhận vào vào đại học uy tín Pensnsylvanie, còn được gọi là “UPenn”, ở đây nỗi ám ảnh để làm cho ARNm có thể sử dụng trong điều trị làm cho người ta xa lánh bà rất nhanh. Vào thời kỳ đó, chỉ có ADN khiến thế giới khoa học quan tâm. Katalin có một cái nhìn ngược lại : sử dụng ADN đưa đến hậu quả là nó có thể đi vào trong génome (trong nhân của các tế bào) với nguy cơ biến đổi nó. Vậy đó là điều nguy hiểm. Bà nhận thấy ít nguy cơ hơn khi sử dụng ARN, cho phép chế tạo những protéine trong khoang tế bào, bên ngoài các gène của nhân, bằng cách sử dụng bộ máy (machinerie) nằm trong tế bào chất (các ribosome)

TOÀN THẾ GIỚI DỰ KIẾN KATALIN KARIKO SẼ NHẬN GIẢI NOBEL Y HỌC HAY HÓA HỌC

     Vấn đề : ARN, nếu được tiêm vào người hay vào các động vật, nhanh chóng bị thoái biến và gây nên những phản ứng miễn dịch mạnh thuộc loại viêm. Vào năm 1990, đơn xin học bổng đầu tiên của bà bị từ chối. Về sau hầu như sẽ luôn luôn như thế. Dự án của bà tuồng như hoang tưởng. Dạng vẻ khiêm tốn, giọng tiếng Anh mạnh, vẻ kín đáo làm bà rất ít được nễ vì bởi các đồng nghiệp của mình. Tuy nhiên, vào năm 1995, bà đã công bố đủ công trình để được phong hàm giáo sư. Sau đó bà bị ngăn cản bởi những đầu óc xấu bụng, bị giáng cấp xuống hàng nhà nghiên cứu đơn thuần và chẳng bao lâu bị đuổi ra khỏi trường đại học. Bà chưa có thẻ xanh thường trú ở Hoa Kỳ và chỉ có thể tiếp tục luu trú với điều kiện tìm ra một việc làm. Bà cũng mất những phương tiện để tài trợ cho con gái theo học cao học. Nhưng một bàn tay sẽ đưa ra, bàn tay của David Langer, một trong những học trò cũ của bà, đã trở thành một giáo sư ngoại thần kinh xuất sắc. Ông xem Katalin như là một thiên tài khoa học, kèm theo một tính trung thực tuyệt đối. Ông tìm cho bà một nhiệm sở trong khoa của ông ở UPenn.Chính ở đó mà một hôm bà gặp Drew Weissman, một chuyên gia miễn dịch học sẽ trở thành đối tác nghiên cứu của bà.

CON ĐƯỜNG THẬP TỰ GIÁ HƯỚNG VỀ SỰ CÔNG NHẬN

     Cùng nhau họ thành công giải quyết những khó khăn liên kết với ARNm : hạn chế phản ứng miễn dịch mà nó gây nên và đảm bảo, nhờ những nanoparticule lipidique, sự vận chuyển và sự chuyển giao nó cho những tế bào. Sự công bố của họ vào năm 2005 tạo tiếng vang lớn, bởi vì chúng mở ra cả một trường áp dụng điều trị mới.Vào năm 2012, họ thành lập một công ty và trình tòa các bằng sáng chế, bất hạnh thay được trợ cấp bởi UPenn, ở đây họ là những người ăn lương, và do đó UPenn giữ chúng (đó là quy tắc)…và bán chúng với một giá rẻ mạt cho một biotech (CellScript), thúc đẩy tương lai của phát minh này. Tất cả những bằng sáng chế về ARN hiện hữu hôm nay, nhất là những bằng sáng chế của Moderna và BioNTech, mà những người đóng cổ phần chính đã trở thành những nhà tỷ phú dollar, được gợi ý từ những công trình nguyên thủy của Katalin Kariko. Hai công ty này đã lần lượt tiếp cận bà. Giữa hai công ty, Katalin, luôn luôn ở ngoại ô Philadelphie, đã chọn BioNTech, ở đây hôm nay bà giữ chức phó chủ tịch.

     Toàn thế giới dự kiến rằng Katalin Kariko sẽ nhận giải Nobel y khoa hay hóa học, điều này là logique và xứng đáng. Và không chỉ để chế tạo các vaccin. Technologie à ARN mà bà là tiền phong có nhiều áp dụng trong tương lai : chống các vi trùng, dĩ nhiên, nhưng cũng chống ung thư, các tai biến mạch máu não, điều trị những maladie orpheline và những bệnh khác. Nhưng về việc này, bà nói một cách đơn giản : ” Nếu người ta chấm dứt dịch bệnh nhờ các vaccin dựa trên ARN messager, đó sẽ là phần thưởng lớn nhất của tôi.”

     Một lời cuối : con gái của Katalin, Zsuzsanna, đã xuất sắc theo học cao học. Cô cũng đã hai lần nhận huy chương vàng thế vận hội về môn bơi xuồng (aviron) cho Hoa Kỳ.

(PARIS MATCH 18-24/2/2021)

II/ VACCINS À ADENOVIRUS : NHỮNG CÂU HỎI VÀ NHỮNG NGHI NGỜ

     + CONCEPT

        3 vaccin sử dụng các adénovirus như vecteur d’immunisation đã được hiệu chính bởi 1. AstraZeneca và đại học Oxford ở Vương quốc Anh. 2. Viện nghiên cứu Gamleya ở Moscou dưới sự chỉ đạo của chính phủ Nga. 3. Janssen Pharmaceutica, chi nhánh của hãng dược phẩm Johnson & Johnson, ở Bỉ. Nguyên tắc chế tạo của chúng là y hệt nhau : nó sử dụng những adénovirus vô hại để vận chuyển một thông tin di truyền, cho phép sản xuất, trong những tế bào của người được tiêm chủng, protéine Spike của Sars-CoV-2. Khi đó hệ miễn dịch có thể nhận diện kẻ thù và chế tạo những vũ khí chống lại nó nếu nó hiện diện. Những loại vaccin này, cũng như những vaccin à ARN, sử dụng bộ máy tế bào (machinerie cellulaire) để kích thích những phòng vệ của chúng ta. Nhưng sự tương tự dừng lại ở đó. Ngoài transporteur khác nhau, message được phát ra bởi các adénovirus vaccinal, đó là “sản xuất Spike”, là một mảnh của ADN được chế tạo bởi génie génétique. Tóm lại đó là một gène viral được tạo nên trong phòng thí nghiệm mà, cũng như tất cả những gène của chúng ta, chỉ có thể đọc được trong nhân của tế bào, chứ không phải trong khoang tế bào như một ARN. Các vaccin à adénovirus cũng được biến đổi về mặt di truyền để không có thể nhân đôi trong những tế bào mà chúng “gây nhiễm”

      + ƯU ĐIỂM VÀ HIỆU NĂNG

         Ưu điểm của những vaccin này là sự dễ dàng về mặt hậu cần (logistique), đáp ứng những nhu cầu của một sự tiêm chủng quy mô lớn và nhanh. Chúng có thể được bảo quản dài lâu ở những nhiệt độ từ 2 đến 8 độ C. Để so sánh, điều này chỉ có thể trong vài ngày với những vaccin à ARN vì những vaccin này trước khi chủng phải được bảo quản và vận chuyển ở những nhiệt độ dưới 70 độ C đối với Pfizer và dưới 20 độ C đối với Moderna.

         Trên bình diện về tính hiệu quả, vaccin AstraZeneca đã cho thấy (ở khoảng 17.000 người) một tỷ lệ bảo vệ 70% : vaccin russe Spoutnik V (trong một nghiên cứu trên 20.000 người) một tỷ lệ 91,6% và vaccin Johnson & Johnson (ở 43.000 người tình nguyện) một tỷ lệ 72%, chỉ với một mũi tiêm thay vì hai mũi. Đó là ít tốt hơn các vaccin à ARN với tính hiệu quả 94%, nhưng đủ đối với các Cơ quan dược phẩm, với sự nhất trí trên thế giới, chỉ yêu cầu một ngưỡng hiệu quả tối thiểu 50%.

       + NHỮNG BẤT TIỆN

          1. Những bệnh viện breton của CHU de Brest, de Rennes và de Morlaix đã đình chỉ sự tiêm chủng nhân viên điều trị vì những tác dụng phụ, quá mạnh và nhiều, xảy ra với vaccin AstraZeneca. Nhất là những hội chứng cúm được kèm theo bởi một sốt cao (39 độ C), khiến phải nghỉ việc trong ít nhất 24 giờ ở 25% những người được tiêm chủng. Điều phiền loại này đã được mô tả tương tự với những vaccin Mỹ và Nga, nhưng chỉ trong 2 trường hợp trên 1000. 

          2. Những vaccin à ARN đặt chỉ thị di truyền (instructions génétiques) của chúng trong khoang tế bào, ở đây các chỉ thị này được đọc và dịch nhưng chúng không có thể hội nhập trong những génome của chúng ta, trong khi đó các adénovirus tiêm “thông điệp” của chúng dưới dạng ADN vào trong nhân của các tế bào. Người ta đã chứng minh, ngay cả điều đó dường như hiếm, rằng ADN của vecteur adénovirus đôi khi có thể hội nhập vào trong génome của tế bào chủ một cách thất thuờng. Khi đó, khả năng nó tương tác với vài trong số các gène của chúng ta và làm rối loạn các cơ chế tế bào không thể loại bỏ được.

         3. Những virus vecteur, mac dau vô hại, có thể ảnh hưởng các tế bào trong đó đang có một loạn năng và làm trầm trọng một căn bệnh đang diễn biến, đã được biết hay không.

         4. Sau cùng, tất cả những vaccin (à ARN và adénovirus) chỉ sử dụng một kháng nguyên vaccin duy nhất, protéine Spike, để gây miễn dịch những người được chủng. Đó là một khiếm khuyết quan trọng bởi vì chúng ta đối đầu với một virus thường biến dị và sản sinh nhiều biến thể, trong những biến thể này Spike được biến đổi không ngừng. Ở Manaus (Brésil), 76% của 2 triệu cư dân của thành phố này đã bị lây nhiễm bởi Sars-CoV-2 của làn sóng dịch đầu tiên và đã phát triển những kháng thể chống lại nó. Tuy vậy họ đã không được tạo miễn dịch một cách cộng đồng chống lại biến thể Nam phi mà họ vừa là nạn nhân. Vaccin AstraZeneca không hiệu quả (tỷ lệ bảo vệ chỉ 22%) chống lại biến thể Nam phi này. Đảm bảo một tỷ lệ bảo vệ 90% chống lại một biến thể và một tỷ lệ bảo vệ khác thấp hơn nhiều chống lại một biến thể khác trở nên nổi trội, bởi vì Spike không còn được nhận biết bởi hệ miễn dịch của chúng ta, thì không ích lợi gì. Với chiến lược này không một phương thức vaccin nào có thể theo nhịp biến dị hiện nay. Hậu cần cần thiết sẽ nhanh chóng bị vượt qua, trong khi người dân sẽ mệt mỏi vì bị những tiêm chủng liên tiếp.

      + THẾ THÌ PHẢI LÀM GÌ ?

          Giải pháp là trở lại những phương pháp cũ, sản xuất những vaccin từ toàn thể virus được làm bất hoạt. Khi đó hệ miễn dịch của chúng ta có thể nhận diện toàn bộ các protéine của virus (trong đó nhiều protéine hiện hữu) thay vì chỉ một không ngừng bị biến đổi, và như thế kéo dài thời gian tạo miễn dịch dầu bộ mặt của Spike như thế nào. Vaccin trung quốc CoronaVac (Sinopharm) là loại vaccin duy nhất thuộc loại này hiện được thương mãi hóa trên thế giới. Nó làm giảm nguy cơ nhiễm 50,3% (nghiên cứu trên 50.000 người), bảo vệ 70% những người được tiêm chủng chống lại nhiễm corona và bảo vệ 100% những người này chống lại những thể nặng. Sự dung nạp của nó rất tốt. Nó đủ hiệu quả, lâu bền, không nguy hiểm. Hậu cần liên kết đơn giản và nhanh. Một tin vui

(PARIS MATCH 4/3-10/3/2021)

III/ VITAMINE D : LỢI ÍCH VÀ KHÔNG NGUY HIỂM

    + KÍCH THÍCH TỐ CHỦ CHỐT CỦA MIỄN DỊCH

        Các vitamine là những chất cần thiết cho cơ thể con người mà nó không thể chế tạo. Dưới tác dụng của các tia tử ngoại của mặt trời, chúng ta tổng hợp trong da của chúng ta phần lớn vitamine D của chúng ta (80% của toàn thể, trong khi thức ăn mang đến phần còn lại), đến độ đối với các chuyên gia, vitamine D trước hết được xem như một kích thích tố.

        Người ta định lượng vitamine D trong máu. Trong bilan của các phòng xét nghiệm nó xuất hiện với tên 25-hydroxycholécalciférol, thường được viết tắt 25(OH)D. Trị số bình thường của nó ở những người có sức khỏe tốt là trên hoặc bằng 20 nanogramme mỗi ml (ng/ml). Ở những người yếu ớt, mang những bệnh nền hay béo phì, 30 ng/ml là tối thiểu được khuyến nghị. Dưới những ngưỡng này ta nói bất túc (insuffisance) : một nửa những người Pháp dưới mức 20 ng/ml và 8 trên 10 dưới mức 30 ng/ml. Dưới 10 ng/ml, ta nói là thiếu hụt (carence).

        Trong số nhiều lợi ích, vitamine D là một trụ cột quan trọng, được biết từ lâu, của những phòng vệ của chúng ta. Ở các niêm mạc, là đường vào của phần lớn các vi trùng, vitamine D kích thích, theo yêu cầu, sự tiết của những protéine chống vi trùng khác nhau bởi những tế bào miễn dịch tuần tra ở đó (các tế bào mono và các đại thực bào). Nó ức chế sử tổng hợp của các chất viêm, những cytokine, mà một kẻ lạ (virus, vi khuẩn) có thể kích thích, và kích hoạt những chất khác có tính chất ngược lại. Vitamine D tác động lên hơn 200 gène, trong đó vài gène khuếch đại sự sản xuất các enzyme chống oxy hóa, bảo vệ những tế bào của chúng ta. Trên bình diện lâm sàng, người ta chứng thực rằng nguy cơ nhiễm trùng hô hấp cấp tính gia tăng ở những người có những nồng độ thấp 25 (OH)D (thí dụ như trong cúm). Sự cung cấp hàng ngày hay hàng tuần vitamine D cho những người thiếu hụt làm giảm hay làm biến mất nguy cơ này. Còn đối với Sars-Cov-2 thì sao ?

    + VITAMINE D VÀ COVID-19

        Trong một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được thực hiện ở bệnh viện đại học Chicago ở 489 người, nguy cơ bị nhiễm bởi Sars-CoV-2 đã có vẻ gia tăng ở những người mà nồng độ của 25(OH)D, trong năm trước khi bị lây nhiễm, dưới 20 ng/ml.Trái lại, nguy cơ này được giảm ở những người có một nồng độ 25(OH)D cao hơn và ở những người bị thiếu hụt (carencé) nhưng đã được cho bổ sung. Trong một thử nghiệm của Tây Ban Nha (đại học Cordoue) ở 76 người trưởng thành bị Covid-19 được nhập viện và có tuổi trung bình 53, những người đã nhận những liều mạnh vitamine D đã cần ICU hai lần ít hơn. Ở Pháp, trong một công trình nghiên cứu ở 77 bệnh nhân Covid-19 được nhập viện và có hơn 80 tuổi, 93,1% những người được cho vitamine D bổ sung đã sống sót, so với 68,7% những người không được cho bổ sung. Trong một nghiên cứu tương tự ở Ehpad, ở 66 người ở tuổi 80, 82,5% những người được cho vitamine D bổ sung đã sống sót so với chỉ 44,4% những người không được cho bổ sung. Ở Anh, trong một thử nghiệm tập hợp 986 người tham dự (trong đó 151 người hoặc 16% đã nhận trong 7 tuần tổng cộng 280.000 đơn vị quốc tế vitamine D), tỷ lệ tử vong ở những người này đã giảm được 87% so với tỷ lệ tử vong của những người khác ! Ở Na Uy, Koronastudien Norge đã cho thấy rằng những người tiêu thụ đều đặn dầu gan cá morue (rất giàu vitamine D) có ít nguy cơ nhất bị nhiễm bởi Sars-CoV-2. Sau cùng, những công trình của Argentine đã thu thập trong 46 nước, đã xác nhận một mối tương quan mạnh giữa tình trạng thiếu hụt vitamine D và những hậu quả dịch tễ gia tăng.

      Trong thận của chúng ta có một cơ chế quan trọng điều hòa huyết áp được gọi là système rénine-angiotensine (SRA). Theo Jean-Mars Sabatier, tiến sĩ sinh học tế bào và vi trùng học, giám đốc nghiên cứu ở CHRS de Marseille, coronavirus có khuynh hướng kích hoạt hệ thống này, thậm chí kích hoạt nó quá mức, điều này khi đó dẫn đến những tác dụng có hại : cao huyết áp, viêm các huyết quản, xơ hóa mỡ (phổi, tim), stress oxydatif, vv. Vitamine D kềm chế quá trình này. Nó làm dịu bớt cơn bão miễn dịch bằng cách làm giảm sự biểu hiện (sự tăng sinh) của các thụ thể ACE2. Những thụ thể này là một mắc xích chủ chốt của SRA và virus sử dụng nó để gây nhiễm những tế bào của chúng ta.

      + LỜI KÊU GỌI CỦA 73 CHUYÊN GIA

          Sự bất túc vitamine D, đối với các chuyên gia, có vẻ như là một yếu tố nguy cơ độc lập của những thể nặng của Covid-19, mà một sự cho bổ sung có thể ngăn ngừa một cách đơn giản và không nguy hiểm. Ngoài ra nó được bồi hoàn bởi Assurance maladie. Các chuyên gia Pháp đã hội họp chung quanh những giáo sư Cédric Annweiler, trưởng khoa lão khoa ởCHU d’Angers, và Jean-Claude Souberbielle, cựu trưởng laboratoire d’hormonologie ở bệnh viện Necker-Enfants malades. Họ khuyến nghị, ngay khi  Covid-19 duoc chẩn đoán , kê đơn cho những người trưởng thành “một liều tấn công 100.000 đơn vị (gấp đôi ở những bệnh nhân béo phì hay có những bệnh nền), lập lại sau một tuần.” Sự cho bổ sung này là không có nguy cơ (ngoại trừ trong vài bệnh hiếm như thí dụ sarcoidose). Nó có thể bổ sung tất cả những điều trị chữa lành bệnh và cho phép điều chỉnh nhanh chóng nồng độ vitamine D trên 30 ng/ml. Một định lượng trước của 25(OH)D chỉ được đòi hỏi ở những bệnh nhân bị suy thận mãn tính hay malabsorption digestive. Vitamine D cũng có thể được sử dụng phòng ngừa ở những người không bị nhiễm, trong thời kỳ dịch bệnh với liều 50.000 đến 100.000 đơn vị mỗi tháng.

(PARIS MATCH 25/2-3/3/2021)

Đọc thêm :

 – TSYH số 562 : bài số 7

– TSYH số 552: bài số 9

IV/ MỘT LIỀU VACCIN CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ BỊ COVID

     Trong một ý kiến được đưa ra hôm 12/2, Bộ y tế Pháp nhấn mạnh rằng một mũi tiêm duy nhất sinh ra một đáp ứng miễn dịch đủ.

     Câu hỏi đã trở thành tái diễn : làm sao tạo miễn dịch những người Pháp đã bị nhiễm bởi SARS-CoV-2 ? Trong khi tất cả các vaccin được chuẩn thuận cho đến nay dự kiến hai mũi tiêm, ngày càng nhiều tiếng nói đánh giá protocole này không thích ứng đối với 107 triệu người trên thế giới, trong do 3,4 triệu ở Pháp, đã phát triển những phòng vệ chống lại nhiễm corona. Phần lớn các nước đang tiến hành những chiến dịch tiêm chủng cho rằng những đã từng bị bệnh Covid là không ưu tiên”. Nhưng không xác định sơ đồ tương lai mà họ sẽ phải theo là gì.

     Bộ y tế Pháp vừa quyết định, đưa ra một ý kiến về những người “có một tiền sử Covid-19”, đề nghị tiêm một liều 3 đến 6 tháng sau nhiễm corona.

     Để biện minh cho lập trường của mình Bộ y tế Pháp dựa trên những công trình được trình bày bởi Société de pathologie infectieuse de langue française, cũng như dựa trên những dữ liệu pharmacovigilance của vaccin Pfizer-BioNTech.

     Ngoài ra còn có 4 nghiên cứu được công bố từ đầu năm 2021, tất cả đi theo cùng chiều hướng. 3 trong số những nghiên cứu này đã được thực hiện ở Hoa Kỳ, nghiên cứu thứ ba ở Ý. Ba nghiên cứu đã theo dõi những nhóm nhân viên điều trị. Tất cả đã tập trung những phân tích về những vaccin à ARN messager của Pfizer-BioNTech và của Moderna, được triển khai nhiều nhất. Và tất cả đều đi đến cùng kết luận : một liều vaccin được tiêm cho một người đã từng bị Covid cũng sinh một đáp ứng miễn dịch, thậm chí quan trọng hơn hai liều được tiêm cho một người chưa hề bị bệnh.

     Hiện giờ, các nhà khoa học đã không luôn luôn xác lập điều mà họ gọi là một “corrélat de protection”, đó là một indication sérologique chính xác chứng tỏ sự hiện diện của một miễn dịch. Vậy họ không biết lượng chính xác của những kháng thể trung hòa (anticorps neutralisants : những kháng thể loại bỏ virus) cần thiết để được bảo vệ. Trong tất cả các công trình nghiên cứu, những bệnh nhân đã từng bị Covid, một khi được tiêm chủng, đã sản xuất nhiều kháng thể hơn, và nhanh hơn so với những người đã không bị nhiễm virus và đã nhận hai liều.

CELLULES TUEUSES.

     Một nghiên cứu thứ năm, được tiến hành ở Fred Hutchinson Cancer Research Center de Seattle, đã đi xa hơn : nó đã cho thấy rằng những bệnh nhân đã từng bị corona này, một khi được tiêm chủng với vaccin Pfizer-BioNTech, đã sản xuất không những những kháng thể, mà còn những cellules tueuses, một tuyến phòng thủ khác của cơ thể, được hướng, không phải để chống lại các virus, mà còn chống lại những tế bào mà chúng gây nhiễm. Và tin vui, sự phòng thủ kép này có vẻ hiệu quả không những trước virus truyền thống mà còn đối với biến thể Nam phi (B.1.351).

     Luận cứ khác được nêu lên bởi  Bộ y tế Pháp : những bệnh nhân đã từng bị Covid bị nhiều những tác dụng phụ hơn. Đau nhiều hơn ở điểm chích, nhưng nhất là nhiều tác dụng “toàn thân” hơn, mệt, sốt. Báo cáo thứ ba của pharmacovigilance của ANSM đã nêu lên ” 8 trường hợp tác dụng phụ ở những người với một tiền sử bị nhiễm Covid-19″. Về tỷ lệ, nhiều hơn so với những người không từng bị nhiễm Covid. Một kết quả được xác nhận bởi một trong những nghiên cứu của Hoa Kỳ, được thực hiện ở Icahn School of Medicine de New York. Trong khi Pfizer đã chứng thực trong tất cả các thử nghiệm rằng những tác dụng phụ là nhiều hơn và mạnh hơn sau liều thứ hai, những bệnh nhân đã từng bị Covid có, ngay liều thứ nhất, profil “réactogène” của những người không bị nhiễm Covid khi được tiêm liều thứ hai.

     Tại sao một sự bảo vệ như thế ? Đối với các tác giả của tất cả các nghiên cứu, câu trả lời là rõ ràng : cũng như liều thứ hai khuếch đại tính miễn dịch được tạo nên bởi liều đầu tiên, mũi tiêm đầu tiên này tự nó doper đáp ứng miễn dịch được gây nên vào lần nhiễm đầu tiên. Doper hay đúng hơn đánh thức, bằng cách thôi thúc những cellule mémoire, vẫn hoạt động ngay cả khi các kháng thể đã biến mất. Vì lý do này, khuyến nghị được áp dụng ” cho tất cả những người đã từng bị nhiễm bởi SARS-CoV-2, dầu tiền sử như thế nào”.

     Một câu hỏi cuối được đặt ra : khi nào cho mũi tiêm duy nhất này ? Trong ba tháng sau khi bị bệnh, những trường hợp tái nhiễm là ngoại lệ. Sau đó, những trường hợp này dường như ít hiếm hơn như người ta đã có thể nghĩ lúc đầu. Nhưng ” nhìn toàn bộ, trong tình trạng kiến thức hiện nay, những trường hợp tái nhiễm dường như là những biến cố ít gặp trong thời gian 6 tháng sau đợt nhiễm đầu tiên, kể cả trong một bối cảnh phải tiếp xúc nhiều (nhân viên y tế). Sau cùng, người ta chứng thực rằng sau thời kỳ này những dữ liệu là thiếu sót. Do đó các chuyên giàa khuyến nghị ” tiêm chủng trong một thời hạn từ ba đến sáu tháng sau khi bị nhiễm” và ” tốt nhất với một thời hạn gần 6 tháng “. Với một ngoại lệ : những người suy giảm miễn dịch, thí dụ do hóa trị hay bị nhiễm bởi HIV. Ở loại này, các chuyên gia khuyến nghị theo sơ đồ tiêm chủng hai liều, 3 tháng sau khi bị nhiễm.

     Bộ y tế Pháp định rõ về những người không may mắn khi khám phá bị nhiễm sau liều tiêm đầu, nhưng trước liều thứ hai. Những người này ” không được nhận liều thứ hai trong những thời hạn thông thường, nhưng trong một thời hạn 6 tháng và không trước 3 tháng sau khi bị nhiễm”

     Quyết định này phải được đánh giá bởi vài nhà khoa học Hoa Kỳ. Hay đúng hơn phải được lấy làm thí dụ trong cuộc chiến đấu mà họ đang tiến hành hiện nay. Eric Topol, một trong những thầy thuốc được nễ vì ở Hoa Kỳ đã bực tức trong một cuộc tranh luận về Covid : ” 90 triệu dân Hoa Kỳ đã bị Covid-19. Trong cuộc tìm kiếm miễn dịch cộng đồng của chúng ta, họ phần lớn không được chú ý đến và người ta tiếp tục cho họ hai liều vaccin. Với tình trạng thiếu dự trữ hiện nay, điều đó đang được suy nghĩ lại.”

(LE MONDE 14 & 15/2/2021)

V. MỘT LIỀU DUY NHẤT CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ BỊ COVID

     Những người đã bị một nhiễm bởi Sars-CoV-2, được xác nhận bởi một test RT-PCR hay một test antigénique, dầu họ đã phát triển hay không một thể triệu chứng của Covid-19, phải được xem như được bảo vệ trong ít nhất 3 tháng bởi miễn đích sau nhiễm trùng (immunité post-infectieuse), Bộ y tế ở Pháp đã cho biết như vậy. Vì vậy, Bộ đã khuyến nghị rằng những người trước đây đã bị nhiễm bởi Covid-19 chỉ nhận một liều vaccin duy nhất. Liều duy nhất này có thể nói sẽ đóng vai trò của liều nhắc lại (dose de rappel), hoặc liều thứ hai (seconde dose). ” Tôi vui mừng rằng Conseil supérieur de santé (CSS) đã chấp nhận dự kiến một biện pháp tương tự trong đất nước chúng ta (Bỉ), Michel Goldman, giáo sư miễn dịch học ở ULB đã cho biết như vậy. Tôi hy vọng nhiều rằng Bỉ sẽ đi theo trong cũng chiều hướng : tất cả các liều mà ta có thể tiết kiệm để tốt để sử dụng nhằm tăng tốc chiến dịch tiêm chủng !”

      Hỏi : Có chính xác rằng nồng độ của các kháng thể được quan sát ở những người đã bị nhiễm bởi Sars-CoV-2, sau một liều, là cao hơn nồng đó kháng thể ở những người được chủng sau hai liều ? Và điều đó, ngay cả với những biến thể mới ?

      Đáp : Cao hơn rất nhiều. Từ 10 đến 20 lần cao hơn theo một nghiên cứu (của Krammer). Một bài báo khác, cũng khảo say nồng độ của các kháng thể trung hòa virus, xác nhận một đáp ứng phụ khác : các kháng thể được sản xuất với lượng cao hơn và nhanh chóng hơn, hoặc ngay ngày thứ bảy sau tiêm chủng. Điều đó có nghĩa rằng sự việc đã bị nhiễm có một hiệu quả tương tự (có thể nói là cao hơn) với hiệu quả của liều vaccin đầu tiên ở một người đã không từng bị nhiễm. Tác dụng cua nhiễm tự nhiên này lên đáp ứng đối với vaccin là do sự kích thích những tế bào lympho B mémoire, khiến sản xuất nhanh hơn nhưng nồng độ cao hơn của các kháng thể hiệu quả hơn. Một công trình nghiên cứu khác cho thấy rằng chỉ một liều ở những người trước đó đã bị nhiễm bởi Sars-CoV-2 làm xuất hiện những kháng thể hoạt động chống lại biến thể Nam Phi B.1351, là biến thể làm chúng ta lo ngại nhất hôm nay. Liều duy nhất này cũng làm xuất hiện những tế bào lympho T CD4 mémoire, rất có thể góp phần vào sự bảo vệ chống virus

      Hỏi : Điều đó có đúng dầu mức độ nghiêm trọng của căn bệnh ? Kể cả những người đã bị một thể không triệu chứng ?

      Đáp :

      Hỏi : Ta có thể, trong khi theo phương pháp một liều duy nhất, đảm bảo rằng những người được chủng sẽ có một sự bảo vệ đủ ?

      Đáp : Dầu cho sơ đồ tiêm chủng là gì, ta không thể đảm bảo một sự bảo vệ 100%. Trong những nghiên cứu lâm sàng thuận lợi nhất, ta không vượt quá 95% và, với sự xuất hiện của những biến thể mới, ta sẽ gia tăng tỷ lệ những người sẽ không được bảo vệ chống lại những thể ít nghiêm trọng. Nhưng một cách hợp lý ta có thể hy vọng một hiệu quả rất tốt, khoảng 90%, để bảo vệ đối với những thể nặng khiến bệnh nhân phải nhập viện. Những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch vì một bệnh lý hay vì một điều trị là đối tượng của một quan tâm đặc biệt. Những bệnh nhân này phải tiếp tục nhận hai liều, như Bộ y tế Pháp đã khuyến nghị.

      Hỏi : Các hãng, vốn đã tiến hành những thử nghiệm với hai liều, họ có bảo đảm nếu ta chỉ tiêm một liều ?

      Đáp : Tôi nghĩ là không, nhưng điều đó không phải là một lý do để từ bỏ chiến lược này. Chúng ta tuyệt đối phải làm tất cả gì có thể được để tiêm chủng càng nhanh càng tốt tất cả những ai mong muốn điều đó. Chúng ta không kiểm soát sự sản xuất cũng như sự cung ứng các vaccin của các hãng chế tạo. Sự tối ưu hóa việc sử dụng các liều sẵn có là một trong những marge de manoeuvre duy nhất của chúng ta. Chiến lược một liều đối với những người đã bị Covid là một bộ phận. Hôm nay chiến lược này được sự ủng hộ bởi các équipe khoa học quốc tế hàng đầu và vừa được chuẩn nhận bởi Bộ Y Tế Pháp.

      Hỏi :  Chiến lược có giá trị đối với tất cả những vaccin hai liều hiện có ?

   Đáp : Phần lớn những dữ liệu hiện có đã có được với các vaccin à ARN messager (Pfitzer/BioNTech và Moderna)

     Hỏi : Nếu ta theo chiến lược này, điều đó có phải có nghĩa rằng trước hết phải trắc nghiệm, bằng PCR và/hay test sérologique, tất cả những người để biết statut sérologique của họ ?   

     Đáp : Vào giai đoạn này, không. Tiêu chuẩn phải là một Covid-19 được chứng thực bởi một test RT-PCR hay một test sérologique được xác nhận. Thật vậy, mặc dầu tỷ lệ các kháng thể đã giảm sau nhiễm corona, thậm chí mặc dầu những kháng thể lưu hành đã biến mất, trí nhớ miễn dịch vẫn hiện diện.

      Hỏi : Những ưu điểm của chiến dịch một liều này, ngoài tiết kiệm các liều và tăng tốc chiến dịch tiêm chủng ?

     Đáp : Thách thức hiện nay là tỏ ra hiệu năng để triển khai những vaccin càng nhanh càng tốt. Tôi nghĩ đến không những Israel, mà nhất là Vương quốc Anh, hôm nay vui mừng về Brexit khi đưa ra một chiến dịch hiệu quả hơn,  “giải thoát khỏi sự quan liêu châu Âu”. Ở chúng tôi, mọi người không được tiêm chủng mặc dầu người này mong muốn là một đồng minh mà ta có thể đánh mất trong cuộc chiến chống Covid-19. Mỗi ngày trôi qua mà không tối ưu hóa điều có thể như vậy làm chậm lại sự mềm dẻo các biện pháp gò bó đè nặng lên chúng ta. Cũng có thể rằng chiến lược này cho phép tránh được vài phản ứng viêm tạm thời khó chịu sau liều thứ hai, như vài công trình nghiên cứu đã cho thấy điều đó.

(LA LIBRE BELGIQUE 16/2/2021)

VI/ NHỮNG KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG, MỘT ĐIỀU TRỊ ĐẦY HỨA HẸN NHƯNG TỐN KÉM

       Cơ quan dược phẩm châu Âu đã bắt đầu đánh giá những loại thuốc bắt chước những kháng thể tự nhiên của chúng ta. Đức đã đặt mua 200.000 liều

       Vaccin không phải là chân trời duy nhất trong cuộc chiến chống lại Covid-19. Nghiên cứu về những thuốc điều trị được tiếp tục, trong số chúng là những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux), nằm trong số tiến bước nhất. Cuối tháng giêng, Đức đã loan báo một đơn đặt hàng 200.000 liều của loại điều trị này, được đề nghị bởi hai tập đoàn dược phẩm Hoa Kỳ, Regeneron và Eli Lilly, với một số tiền 400 triệu euro, hoặc 2000 euro mỗi liều.

      Thật vậy, những điều trị bằng các kháng thể đơn dòng, hiện được sử dụng để điều trị những bệnh tự miễn dịch mãn tính hay vài ung thư, là cực kỳ đắc vì lẽ cách sản xuất tế nhị của chúng. Từ những kháng thể tự nhiên, những thuốc này được nhân lên một cách nhân tạo trong phòng thí nghiệm (in vitro), bởi những vi khuẩn hay những tế bào được chọn lọc do khả năng sản xuất một kháng thể đặc biệt, do đó có tên gọi của chúng.

      Nguyên tắc là cung cấp cho cơ thể những liều quan trọng của những thuốc này, bắt chước chức năng của các kháng thể mà cơ thể của chúng ta có thể chế tạo một cách tự nhiên để tự bảo vệ chống lại sự hiện diện của một virus. Về Covid-19, những thuốc điều trị được phát triển bởi các công ty Regeneron và Eli Lilly là những thuốc đạt đến giai đoạn III và đã cho thấy một tính hiệu quả lên sự giảm charge virale, ở một giai đoạn sớm, ở một người đã bị nhiễm bởi SARS-CoV-2.

      Hôm 11/2, những người hữu trách của thử nghiệm Anh Recovery đã loan báo rằng một kháng thể đơn dòng repositionné, nói chung được sử dụng chống lại viêm đa khớp dạng thấp, tocilizumab, làm giảm tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân nhập viện vì Covid-19. Hiệu quả được quan sát tương ứng cứu sống thêm một bệnh nhân so với những điều trị chuẩn mỗi khi ta điều trị 25 bệnh nhân với loại thuốc này.

      Ở Pháp, vào mùa xuân, sự loan báo những kết quả đã được đánh giá là sớm, vì một số lượng không đủ những bệnh nhân đã được chiêu mộ ở giai đoạn này trong thử nghiệm Corimuno. Những dữ liệu được bổ sung, công bố vào tháng 10/2020, đã xác nhận một sự giới hạn mức độ trầm trọng và sự chuyển vào phòng hồi sức. Những dữ liệu của Recovery, chưa được công bố trong một tạp chí khoa học, gợi ý rằng tocilizumab có thể được sử dụng phối hợp với một corticoide, dexaméthasone, với hiệu quả làm giảm 1/3 tỷ lệ tử vong của những bệnh nhân cần oxygène, và gần một nửa đối với những bệnh nhân được hỗ trợ hô hấp cơ học.

 NHỮNG BỆNH NHÂN CÓ NGUY CƠ NHẤT    

      Cocktail de Regeneron luôn luôn đang được đánh giá trong thử nghiệm Recovery. Phối hợp của các kháng thể đơn dòng casirivimab và imdevimab, được gọi là “REGN-CoV2”, Phối hợp này đã được nói nhiều vào tháng 10/2020, vì lẽ nó đã được dùng cho Donald Trump, khi đó là tổng thống của Hoa Kỳ, trong những ngày đầu sau khi ông được chẩn đoán Covid-19. Trong khung cảnh của khủng hoảng y tế, những thuốc này, vào tháng 11, ở Hoa Kỳ, đã được FDA cho phép khẩn cấp như điều trị thí nghiệm. Mới gần đây hơn, ngày 26/1, công ty Lilly đã thông báo về những kết quả của một thử nghiệm mới giai đoạn III, cho thấy những kết quả tốt của phối hợp kháng thể thứ nhất với một kháng thể thứ hai, etesevimab, như thế cũng đề nghị một cocktail hai kháng thể. Công ty này cũng đã thông báo về khả năng sử dụng bamlanivimab để phòng ngừa.

      Ở châu Âu, để triển khai những kháng thể đơn dòng này trong một chỉ định Covid, một đơn xin thương mãi hóa phải được các công ty dược phẩm đệ trình lên Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMA). Hôm ½, EMA đã loan báo là đã bắt đầu rolling review (đánh giá dần dần) phối hợp ” REGN-CoV2″, được đồng phát triển bởi Roche và Regeneron. Đơn đặt hàng của Đức nhằm đúng vào cocktail này, cũng như bamlanivimab của công ty Eli Lilly.

     ” Chúng ta đã vượt một giai đoạn trong nghiên cứu, trước hết tập trung vào những thuốc cũ mà ta cố repositionner lên Covid-19, Brigitte Autran, phụ trách groupe anticorps monoclonaux của réseau REACTing, đã lấy làm hoan hỉ. Chúng ta đã đi vào trong một giai đoạn, trong đó ta nghiên cứu những thuốc mới nhắm một cách đặc hiệu virus.

     Trong những thí nghiệm đến giai đoạn III, những thuốc này được truyền tĩnh mạch cho những bệnh nhân yếu ớt trong 7 ngày đầu sau một trắc nghiệm dương tính. Thật vậy, giá đắc của thuốc khiến cần nhắm vào những người có nguy cơ nhất, thí dụ những người bị suy giảm miễn dịch vì một ung thư, chứ không phải toàn thể những người có trắc nghiệm dương tính. Ngoài ra ” các kháng thể đơn dòng không được cho trong bất cứ trường hợp nào ở những người đã ở giai đoạn nghiêm trọng của bệnh”.

     Vào luc này, những thuoc điều trị tiêm truyền này buộc phải có một logistique tương đối nặng. Ngay cả trong điều trị ngoại trú, một hay hai giờ truyền tĩnh mạch cần hiện diện nửa ngày ở bệnh viện đối với những bệnh nhân mà giai đoạn sớm của bệnh không cần một nhập viện. Những nghiên cứu về công thức thuốc có thể đưa đến những mũi tiêm nhanh hơn, thí dụ dưới da.

4 NGHIÊN CỨU Ở PHÁP

     ” Pháp sẽ tăng tốc những công trình nghiên cứu về những điều trị dựa trên những kháng thể đơn dòng, chúng có thể cho phép tránh cho bệnh nhân bị coronavirus không phát triển một thế nặng của bệnh, ít lâu sau khi chẩn đoán, Gabriel Attal, phát ngôn viên của chính phủ đã loan báo như vậy, Ở Pháp, 4 nghiên cứu về chủ đề này sẽ được bắt đầu.”

      “ Những kháng thể đơn dòng mang lại một hứa hẹn lớn về tính hiệu quả, nhất là ở những người có tính miễn dịch bị giảm, và một một tác động lớn bổ sung cho các vaccin”. “ Thách thức là làm cho các kháng thể đơn dòng có thể được tiếp cận ở quy mô lớn,” Nhưng vì giá thuốc rất cao nên điều này khó có thể đạt được,

(LE MONDE 14 & 15/2/2021)

https://www.francetvinfo.fr/sante/maladie/coronavirus/covid-19-que-sont-les-anticorps-monoclonaux-et-polyclonaux_4312461.html

Đọc thêm : 

      – TSYH số 556 : bài số 8

      – TSYH số 547 : bài số 3

      – TSYH số 546 : bài số 5, 6, 7, 8

VII/ AINS TRONG KHUNG CẢNH COVID : HÃY DỪNG NHỮNG ĐỊNH KIẾN

     Vào lúc đầu của cuộc khủng hoảng y tế, vì nguyên tắc thận trọng trong một khung cảnh mà những kiến thức khoa học không đầy đủ, các AINS, trong đó Ibuprofène, đã bị khuyên không được dùng trong trường hợp nhiễm Covid-19. Kết quả của một công trình phân tích những nghiên cứu mới đây, được thực hiện bởi một nhóm nhiều chuyên khoa của các chuyên viên của bệnh viện và thành phố, được hỗ trợ bởi GlaxoSmithKline Santé Grand Public, hôm nay tiết lộ rằng AINS không phải là một yếu tố gia trọng của nhiễm Covid-19.

    Những lo ngại về sự sử dụng ibuprofène trong khung cảnh dịch bệnh Covid-19 có lẽ hiện nay không còn có căn cứ nữa và ý kiến của giới hữu trách y tế Pháp sẽ phải được đánh giá lại dưới ánh sáng của littérature scientifique mới đây “, BS Laurent Grange, Rhumatologue ở CHU de Grenoble Alpes, đã xác nhận như vậy. Ông thuộc vào board pluridisciplinaire d’experts, đã họp vào tháng 12 và tháng giêng vừa qua để bàn về sự sử dụng AINS trong việc điều trị sốt dung nạp kém và đau trong khung cảnh đại dịch.

    Thật vậy từ phân tích văn liệu khoa học mới đây về chủ đề (40 án bản quốc tế), người ta kết luận rằng không một mối liên hệ nào được xác lập giữa việc sử dụng AINS (ibuprofène, naproxène) và nhiễm Covid-19. Cũng như không được chứng thực rằng một sự tiếp xúc với ibuprofène được liên kết với những hậu quả nghiêm trọng và tử vong do Covid-19. Những tổ chức y tế-khoa học, trong đó có OMS và EMA (cơ quan dược phẩm châu Âu) đã đi đến cùng kết luận.

AINS CÓ VAI TRÒ TRONG ARSENAL THÉRAPEUTIQUE TRONG THỜI KỲ COVID.

       ” Ibuprofène là một loại thuốc rất hữu ích ở những người bị hư khớp (arthrose), kinh nguyệt đau, migraine “, Yorick Berger, dược sĩ ở Paris, thành viên của groupe pluridisciplinaire d’expert đã nhắc lại như vậy. Thật thế chúng bằng paracétamol (đã đuoc khuyến nghị như thuốc thay thế AINS trong thời kỳ dịch bệnh này) phải được thực hiện một cách thận trọng. ” Thay thế AINS bằng paracétamol để làm giảm đau và sốt dung nạp kém, đó là quên rằng paracétamol dùng quá mức sẽ đưa đến một nguy cơ quá liều cho bệnh nhân “, Yorick Berger đã nhấn mạnh như vậy. Những nghiên cứu đã cho thấy rằng khuyến khích bệnh nhân điều trị các triệu chứng duy nhất với paracétamol có thể khiến họ sử dụng những liều cao hơn.  ” Chính vì vậy, phải tiếp tục dùng AINS một cách hợp lý nếu có một chỉ định (sốt kém chịu được và/hoặc đau) “, BS Laurent Grange đã chỉ như vậy.

    Những chống chỉ định (nguy cơ tim mạch, cao huyết áp, suy thận, loét dạ dày hoạt động…) và những thận trọng thường dùng cũng giống với lệ thường :           ” Nên sử dụng AINS liều thấp nhất có thể được, trong ít ngày có thể được, ba ngày đối với sốt, năm ngày đối với đau “, BS Laurent Grange đã nhắc lại như vậy. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại sau ba ngày, nên đi khám thầy thuốc.

(LE FIGARO 1/3/2021)

VIII/ COI CHỪNG PHẤN HOA ! NÓ GIA TĂNG TỶ LỆ NHIỄM COVID

     CORONAVIRUS. Những nồng độ tăng cao của phấn hoa (pollen) trong không khí, đặc trưng của mùa xuân, có nguy cơ gia tăng số lượng những nhiễm do Sars-CoV-2, theo một nghiên cứu quốc tế. Nguyên nhân : những hạt phấn hoa làm giảm cường độ của đáp ứng miễn dịch.

     Những ngày đẹp trời trở lại. Nhưng sự trở lại của mùa xuân có thể không phải là một tin vui trong khung cảnh hiện nay. Thật vậy một nồng độ gia tăng của các hạt phấn hoa trong không khí không những có thể mang lại những điều phiền thường lệ mà nó cũng còn có thể gây nên một số lượng quan trọng hơn những lây nhiễm do Sars-CoV-2.

     Để kiểm tra giả thuyết này, một équipe quốc tế, được điều khiển bởi những nhà nghiên cứu ở Munich, đã thu thập từ 1/1 đến 8/4/2020 nhiều dữ liệu trong 130 địa phương được phân bố trong 31 nước trên 5 lục địa : những nồng độ phấn hoa trong không khí, những điều kiện khí tượng (độ ẩm, nhiệt độ), số lượng những nhiễm coronavirus nhưng cũng mật độ dân chúng của mỗi vùng nghiên cứu và những biện pháp phong tỏa địa phương. Sự thu thập những dữ liệu đã phải ngừng lại vào tháng tư vì những biện pháp phong tỏa.

    Sự phân tích ngang và dọc của các dữ liệu cho thấy rằng phấn hoa lơ lửng trong không khí, đôi khi hiệp đồng với độ ẩm và nhiệt độ, giải thích trung bình 44% sự biến thiên của những tỷ lệ nhiễm corona. Những tỷ lệ này tăng cao sau những nồng độ phấn hoa tăng cao hơn nhất là trong 4 ngày trước đó.

    Một cách chính xác hơn, khi không có những biện pháp phong tỏa, những tỷ lệ nhiễm tăng 4% đối với mỗi gia tăng 100 hạt phấn hoa cho mỗi mètre cube không khí, sự gia tăng này có thể lên đến 20% với những nồng độ 500 hạt phấn hoa đối với mètre cube không khí như chúng đã có thể được ghi nhận trong vài thành phố ở Đức. Tuy nhiên, trong những vùng mà sự phong tỏa được áp dụng, tỷ lệ nhiễm coronavirus trung bình hai lần ít cao hơn ở những nồng độ phấn hoa tương tự.

     Các nhà nghiên cứu giải thích rằng khi một virus đi vào trong cơ thể, các tế bào bị nhiễm nói chung gởi những protéine messagère, những interféron antiviral, để yêu cầu hệ miễn dịch tăng cường những phòng vệ chống virus. 

Ngoài ra, một phản ứng viêm thích hợp được kích hoạt để chống lại kẻ xâm lược. Cũng như vậy với Sars-CoV-2.

     Nhưng khi những nồng độ phấn hoa trong không khí tăng cao, các hạt phấn hoa được hít vào cùng lúc với những hạt virus. Chúng làm rối loạn những tín hiệu, và những interféron được sinh ra ít hơn. Phản ứng viêm có lợi chính nó cũng bị ảnh hưởng. Do đó, những ngày phấn hoa có nồng độ mạnh, điều đó có thể dẫn đến một sự gia tăng số lượng những bệnh hô hấp. Điều đó cũng đúng đối với Covid-19. 

     Vì lẽ không thể tránh hoàn toàn sự tiếp xúc với phấn hoa, Claudia Traidl-Hoffmann, đồng tác giả của công trình nghiên cứu, khuyên những người có nguy cơ cao theo dõi những dự báo phấn hoa trong những tháng đến. Ngoài ra bà nói rõ rằng “sự mang một khẩu trang lọc các hạt mịn khi những nồng độ phấn hoa vào mùa xuân tăng cao có thể ngăn cản đồng thời virus và phấn hoa đi vào trong những đường hô hấp”.

(LE JOURNAL DU MÉDECIN 18/3/2021)

IX/ BIẾN THỂ ANH KHÔNG NHỮNG LÂY NHIỄM HƠN MÀ CÒN GÂY CHẾT HƠN !

      COVID-19. Theo một nghiên cứu của Anh, có một xác suất cao rằng nguy cơ tử vong được gia tăng bởi một nhiễm bởi biến thể Anh của Covid-19 so với những chủng trước của Sars-CoV-2.

      Được khám phá ở Kent, vào tháng chín 2020, một biến thể mới của Sars-CoV-2, được gọi là “biến thể gây lo ngại” (variant préoccupant) (VOC-202012/1) và từ nay cũng được gọi B.1.1.7, đã lan tràn khắp Vương quốc Anh năm qua trước khi lan tràn xuyên khắp thế giới.

      Cho đến nay những công trình khoa học đã cho thấy rằng B.1.1.7, nguyên nhân của sự đưa vào những quy tắc phong tỏa mới khắp nước Anh từ tháng giêng, khuếch tán nhanh hơn và dễ dàng hơn nhiều.

      Một nghiên cứu mới, được thực hiện bởi các nhà dịch tễ học của các đại học Exeter và Bristol, tiết lộ rằng biến thể này, mà sự xuất hiện ở Anh đã trùng hợp với một tỷ lệ chiếm giường ở các bệnh viện quan trọng hơn, không những lây nhiễm hơn những virus khác đang lưu hành mà còn gây chết hơn.

       Để thực hiện nghiên cứu này, các nhà khoa học đã dựa trên những dữ liệu của 54.906 cặp những người tham dự trên 30 tuổi và được trắc nghiệm dương tính đối với Sars-CoV-2 ngoài bệnh viện, từ 1/10/2020 đến 29/1/2021. Mỗi người trong số họ được theo dõi ít nhất trong 14 ngày sau kết quả dương tính đầu tiên, và hơn 85% những trường hợp đã được theo dõi trong 28 ngày.

      Những người tham dự được xếp đôi theo tuổi, giới tính, tôn giáo, nguồn gốc chủng tộc, vị trí địa lý và thời điểm thứ test. Một nửa đã bị nhiễm bởi B.1.1.7, nửa kia bởi những chủng lưu hành trước đây.

      Các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng tỷ lệ tử vong vào ngày 28 trong số những người mang biến thể Anh cao hơn một cách đáng kể tỷ lệ tử vong của nhóm kia : 227 người bị chết trong nhóm biến thể Anh và 141 trong nhóm kia. Vậy biến thể Anh gây chết 64% cao hơn. Nói một cách khác, trong nhóm người có nguy cơ tương đối thấp này, điều đó thế hiện một sự gia tăng từ 2,5 đến 4,1 tử vong đối với 1000 trường hợp được phát hiện.

     Kết luận, đối với các tác giả xác suất rằng nguy cơ tử vong gia tăng bởi nhiễm VOC-202012/01 là cao. ” Điều này, cặp với sự lan tràn nhanh của nó, khiến B.1.1.7 trở thành một mối đe dọa cần phải được xem trọng ” Robert Challen, tác giả đầu tiên của nghiên cứu đã cảnh báo như vậy.

(LE JOURNAL DU MÉDECIN 18/3/2021)

Đọc thêm :

     – TSYH số 568 : bài số 3 và 4

     – TSYH số 566 : bài số 4

     – TSYH số 565 : bài số 1 và 2

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

(9/4/2021)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 571 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 573 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s