Cấp cứu bệnh ngoài da số 1 – BS Nguyễn Văn Thịnh

GHẺ VÀ CHẤY RẬN
(SCABIES AND PEDICULOSIS)

Michael Blaivas
Department of Emergency Medicine
Medical College of Georgia

I. GHẺ NGƯỜI (HUMAN SCABIES)
1. LÂM SÀNG
Ghẻ người là một nhiễm ký sinh trùng của da bởi Sarcoptes scabiei huminis. Ghẻ có thể xảy ra ở bất cứ người nào và được truyền do tiếp xúc vật ly gần, qua khăn trải giường (bed linens) và quần áo. Những mạt ghẻ (scabetic mites) đào trong tầng sừng, với thời gian từ khi bị nhiễm cho đến khi có những triệu chứng lâm sàng là 3 đến 4 tuần. Các ban rất ngứa. Các bàn tay, bàn chân, khuỷu tay, đầu gối, rốn, bẹn, và bộ phận sinh dục có thể bị thương tổn. Những vết trầy da và những sần ngứa (pruritic papules) có thể là những dấu hiệu duy nhất có thể thấy được. Ghẻ có vẩy cứng (incrusted or crusted scabies), hay dày sừng (hyperkeratotic scabies), hay ghẻ Na Uy (norwegian scabies) là một biến thể xảy ra ở những người suy giảm miễn dịch, những người già và những người bị bệnh tâm thần. Ghẻ này phát triển trên bàn tay và bàn chân, với các móng tay thường bị ảnh hưởng.
2. CHẨN ĐOÁN VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Chẩn đoán dựa trên nghi ngờ cao về mặt lâm sàng và positive scabies prepararation.
Chẩn đoán phân biệt gồm những nốt đốt khác, rận (body lice), chấm quá màn (atopic dermatitis), trầy da do loạn thần kinh (neurotic excoriations), và những hoang tưởng bệnh ký sinh trùng.
3. ĐIỀU TRỊ Ở KHOA CẤP CỨU
a. Thuốc diệt ghẻ dùng tại chỗ (topical scabicides) được bôi từ cổ xuống bàn chân
– treatment of choice : 5% permethrin (Elimite) cream được bôi từ cổ xuống và được rửa sạch 8-12 giờ sau. 30 g thường đủ đối với một người trưởng thành trung bình.
– Lindane 1% lotion hay cream (Kwell) có hiệu quả như permethrin
– Lindane không còn được xem là first-line treatment bởi vì đề kháng. Nó bị chống chỉ định đối với thai nghén, trẻ em, và động kinh
– Điều trị tại chỗ với kem hexachlorophane hay benzyl benzoate sẽ giết được mạt
– Lindane độc thần kinh ở nhũ nhi, trẻ em và phụ nữ có thai
– precipitated sulfur 5% hay 10% petrolatum ointment được khuyến nghị ở nhũ nhi dưới 2 tháng và những phụ nữ có thai hay cho con bú
– Tất cả những người trong gia đình và những tiếp xúc tình dục phải được điều trị
– Cần nói cho bệnh nhân biết rằng rằng các triệu chúng có thể được gây nên bởi một phản ứng dị ứng với ký sinh trung và bệnh nhân có thể vẫn bị ngứa trong 4 tuần sau khi điều trị đã giết chết ký sinh trùng và trứng nhưng trước khi chúng bị loại bỏ hoàn toàn khỏi bề mặt của da.
b. Mặc dầu không được chính thức chấp thuận bởi EDA để sử dụng tong bệnh ghẻ, ivermectin 0,2 mg/kg với một liều uống duy nhất đã có hiệu quả.
c. Antihistamine thuốc uống và corticosteroids dùng ngoài da giúp làm thuyên giảm các triệu chứng
d. Cho kháng sinh đối với nhiễm trùng vi khuẩn thứ phát (cephalexin).
4. VÀI PHOTO VỀ BỆNH GHẺGHẺ NGÓN TAY: Các đường rãnh (sillons) của các mặt bên của các ngón tay.
Sarcopte sinh bệnh, “Acarus Scabiei” variété hominis, chỉ nằm trong các rãnh. Những rãnh mà ta thấy trên đây là đặc biệt quan trọng. Sự phân bố của các thương tổn là đặc biệt : những sần ngứa và chợt (papules prurigineuses et excoriées) nằm giữa và trên các ngón tay, trên các bàn tay, trên các khuỷu tay, trên những nếp gấp trước của nách, trên các mamelon của phụ nữ, trên dương vật và bao tinh hoàn ở đàn ông, trên mông và mắc cá chân. Mặt luôn luôn được tha miễn ngoại trừ ở trẻ sơ sinh. Phải biết rằng những rãnh có thể rất hiếm, và rằng phải tìm kiếm chúng một cách cận thận trong những vị trí khả dĩ. Chúng thường dễ phát hiện bằng sờ hơn là nhìn.
Chẩn đoán được xác nhận bởi khảo sát chất nạo từ một sần (papule) hay một rãnh nguyên vẹn trong một giọt dung dịch KOH 10-30% mà ta đặt trên một lame để tìm sarcopte hay những trứng của nó rồi xem kính hiển vi với độ phóng đại thấp. Vợ hoặc chồng hay những người thân trong gia đình của bệnh nhân gần như chắc chắn bị nhiễm và một tiền sử ngứa ở một người nào đó thân cận có thể có một giá trị chẩn đoán lớn. Nếu cả một gia đình đến khám, tốt nhất là bắt đầu khám các trẻ em vì nói chung chúng có nhiều rãnh hơn. Tất cả những ai sống cùng với bệnh nhân phải được điều trị ngay cả một vài dường như không bị nhiễm ký sinh trùng.GHẺ BÀN TAY CHÀM HÓA : Những thương tổn chàm hóa (lésions eczématisées) của các bàn tay.
Một eczéma dưới dạng những mảng bị nứt và và bị sướt ở các bàn tay và nhất là giữa các ngón tay phải gợi lên một bệnh ghẻ. Nói chung, những người khác trong gia đình đều bị ngứa. Nếu chẩn đoán không được thực hiện, phản ứng chàm có thể lan rộng và trở nên nghiêm trọng hơn.GHẺ DƯƠNG VẬT : Những sần (papules) và những rãnh (sillons), ở trên dương vật và bìu dái, là đỏ và sưng hơn những sần và rãnh ở bàn tay. Chúng là những dấu hiệu đặc hiệu
SARCOPTE (MẠT) VÀ TRỨNG : sự phát hiện ngay cả chỉ một ký sinh trùng hay một trứng trong chất nạo từ da khám dưới kính hiển vi xác nhận chẩn đoán.

II BỆNH CHẤY RẬN (PEDICULOSIS)
1. LÂM SÀNG
Pediculosis capitis (chấy hay chí) là một nhiễm ký sinh trùng của tóc và da đầu bởi con chí pediculosis capitis và thường xảy ra nhất ở các trẻ em tuổi học đường và những người attending day care. Nhiễm ký sinh trùng thường xảy ra ở dân da trắng hơn da đen. Chấy được truyền qua tiếp xúc cá nhân gần, quần áo, khăn trải giường. Ngứa có thể nhẹ hay dữ dội. Chỗ sầy da có thể thấy được ở phia sau cổ và vùng chẩm.
Pediculus corporis (body lice, rận) thường ít được thấy hơn. Nó xảy ra trong những điều kiện đông đúc với vệ sinh kém. Bệnh nhân thường không cảm thấy bị cắn, nhưng những sần mày đay (urticarial papules) đỏ được để lại. Những vùng không được che phủ bởi quần áo không bị ảnh hưởng.
Phthirus pubis là rận vùng mu (pubic lice) và được truyền theo đường sinh dục.
2. CHẨN ĐOÁN VÀ CHẦN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Chẩn đoán chấy (pediculosis capitis) được thực hiện bằng cách nhìn những con chấy (hay chí) và trứng chấy (dính chặt vào thân tóc) khi khám vật lý. Chẩn đoán rận (body and pubic lice) được thực hiện lúc khám.
3. XỬ TRÍ
Permethrin 1% nước rửa (rinse) là first-line therapy đối với chấy và rận. Thuốc phải được đặt vào da đầu trong 10 phút. Rửa bằng đúng dịch nhấm (vinegar solution) 50% và sau đó chải tóc có thể lấy đi các trứng chí. Tất cả những người tiếp xúc phải được khám và điều trị nếu cần.
4. VÀI PHOTO VỀ BỆNH CHẤY RẬNCHÍ DA ĐẦU (PÉDICULOSE DU CUIR CHEVELU)
Có thể khó tìm thấy những con chấy sống nhưng bằng cớ của sự nhiễm ký sinh trùng được cung cấp bởi sự hiện diện của các trứng chấy (lentes), gắn chặt vào các sợi tóc, có một dạng lốm đốm (aspect moucheté), nhất là gần các lỗ tai. Bệnh nhân kêu ngứa ở gáy và phần trên của lưng. Phần còn lại của gia đình hay những người thân cận nói chung bị nhiễm và phải được điều trị.RẬN LIÊN KẾT VỚI VIÊM DA/ECZÉMA.
Bệnh nhân này bị chàm mãn tính (eczéma chronique) rất lan rộng, với những vết trầy (excoriations). Chẩn đoán rận (pédiculose du corps) được xác nhận bởi sự khám phá các con rận và trứng trong những đường may của quần áo của bệnh nhân này (xem hình dưới). Ghẻ cũng có thể gây nên một exzéma lan rộng (xem hình trên trong phần nói về ghẻ)RẬN THÂN MÌNH (PÉDICULOSE DU CORPS)
Rận (poux du corps) ẩn mình và đẻ trứng trong những đường may và những nếp gấp của quần áo, ở đây phải tìm kiếm chúng một cách cẩn thận để có thể chẩn đoán. Trên thân của bệnh nhân này nổi ban chàm (éruption eczémateuse) không đặc hiệu, ngứa, bị chầy và nông (xem hình trên). Vì những con rận hiếm khi được thấy trên da, do đó phải luôn luôn nghĩ đến một khả năng nhiễm ký sinh trùng này và khám những đường may của quần áo của bệnh nhân khi ta không tìm thấy lời giải thích cho triệu chứng ngứa này.RẬN VÙNG MU. RẬN VÀ TRỨNG RẬN TRÊN LÔNG MU
Ký sinh trung có những móng vuốt mạnh cho phép nó bám chặt vào đây của các lông mu.
Bệnh nhân này đến khám vì bị ngứa ở vùng trên mu. Những con rận này có thể không được nhận thấy khi khám sơ sài và phải khám một cách cẩn thận các lông vùng mu và những vùng lân cận bằng một kính lúp nếu ta không muốn bị lầm.
Con rận vùng mu (pou du pubis hay pubic louse) giống một con cua với những càng cơ ngắn. Rệp có 6 chân với những móng vuốt phát triển cho phép bám chặt vào các sợi lông trong vùng bị nhiễm.
Reference :
– Emergency Medicine Manual
– Atlas en couleurs de Dermatologie

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(5/3/2021)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu bệnh ngoài da, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s