Thời sự y học số 501 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG BỆNH TIM BẨM SINH : CUỘC CÁCH MẠNG NGOẠI KHOA
Những tiến bộ trong điều trị những dị dạng bẩm sinh của tim mang lại cho trẻ em bị bệnh một cuộc sống gần như bình thường.CARDIOLOGIE. Cứ một trăm trẻ em thì có một trẻ sinh ra đối với một dị dạng tim (malformation cardiaque), hoặc, ở Pháp, 7000 trường hợp mỗi năm. Nhưng, trong 30 năm, tiên lượng sống còn của chúng đã hoàn toàn đảo ngược : từ nay, 90% những trẻ em này trở nên những người trưởng thành.
Do nhiều yếu tố (multifactoriel), do nhiều gène (multigénique), căn bệnh này, chiếm 80% những bệnh lý tim của trẻ em, có những nguyên nhân còn không được biết rõ. Nhưng thuốc lá, rượu, bệnh béo phì ở người mẹ, rubéole, vài loại thuốc tạo điều kiện cho bệnh phát triển, trong khi sự sử dụng acide folique trong thời kỳ thai nghén có một tác dụng bảo vệ.
Tính chất, mức độ nghiêm trọng, tính phức tạp của những dị dạng này, riêng rẻ hay liên kết với những bất thường khác, là rất thay đổi. Chỉ một nửa trong số chúng là cần một điều trị, bằng phẫu thuật tim hai trường hợp trên ba, hay với thông tim (cathétérisme) bằng cách lên đến tận tim qua các huyết quản.
” Một trường hợp trên hai, đó là một lỗ (trou), một thông tim (communication) nhỏ hay lớn hơn giữa hai tâm thất (communication interventriculaire), hay giữa hai tâm nhĩ (communication interauriculaire). Những bệnh tim khác, những maladie cyanogène (cũng được gọi là “maladie bleue”, do da nhuộm màu xanh tím liên kết với sự thiếu oxygène trong máu động mạch), thường trầm trọng và đòi hỏi mổ tim sớm trẻ sơ sinh “, GS Damien Bonnet, cardiopédiatre thuộc bệnh viện Necker-Enfants malades, Paris, đã chỉ rõ như vậy. ” Đối với phần lớn những bệnh tim nặng của trẻ em, phải can thiệp nhanh. Những bệnh tim khác, được dung nạp tốt hơn bởi các trẻ nhỏ, đôi khi chỉ được phát hiện ở tuổi trưởng thành. Vài bệnh tim tiến triển : tim hoạt động tốt lúc ban đầu, rồi bất thường trầm trọng dần dần và được phát hiện ở trẻ lớn hơn.”
Phần lớn những dị dạng tim nặng xuất hiện rất sớm ở phôi thai và được phát hiện rất hiệu quả bằng siêu âm, được thực hiện một cách hệ thống vào tam cá nguyệt thứ hai của thai nghén. Chẩn đoán tiền sinh (diagnostic prénatal) cho phép, khi bệnh tim đặc biệt nghiêm trọng hay được kết với những bất thường khác, tiến về một gián đoạn thai nghén y khoa (IMG : interruption médicale de la grossesse). Nhưng mặc dầu một chẩn đoán tiền sinh phát hiện nhiều dị dạng tim bẩm sinh hơn trước đây nhiều, nhưng tỷ lệ IMG (15%) vẫn ổn định.
Chỉ khoảng 10 trung tâm ở Pháp có khả năng điều trị những dị dạng nghiêm trọng nhất. Nói chung sự sing được phát khởi, trong một khoa sản có một service de réanimation néonatale và một service de cardiologie médicale congénitale. Khi bệnh tim đe dọa trực tiếp đời sống của đứa bé, các thầy thuốc chuyên khoa tim hiện diện trong phòng sinh để có thể can thiệp tức thời, điều này đòi hỏi phỏng mổ có một tổ chức gần như quân sự. Trung tâm quy chiếu quốc gia đối với những dị dạng này, bệnh viện Necker, đảm bảo 280 sinh đẻ thuộc loại này mỗi năm, và 30% các trẻ được mổ là những trẻ sơ sinh dưới 1 tháng.
Thường gặp nhất trong số những dị dạng cấp cứu cực kỳ này là transposition des vaisseaux (chuyển gốc động mạch lớn), với động mạch chủ và động mạch phổi đảo ngược ở lối ra của tim, và những bất thường của những động mạch phổi. ” Những transposition des gros vaisseaux (chuyển gốc động mạch lớn), những hẹp động mạch chủ, những retour veineux pulmonaire bất thường và những hypoplasie (kém phát triển) của tim trái, được mổ lúc sinh, GS Pascal Vouhé, chirurgie cardiaque pédiatrique ở bệnh viện Necker, đã xác nhận như vậy. Những bất thường khác có thể chờ đợi, vài ngày hay vài tháng.”
Sự phát hiện đôi khi khó hơn đối với một dị đang khá đơn giản như thông liên thất (communication interventriculaire). Tiên lượng tốt, ta sửa chữa nó thường bằng thông tim (cathétérisme) ngay khi được phát hiện. Nhưng ” mặc dầu hiếm, vài dị dạng vẫn còn được chẩn đoán muộn, GS Bonnet đã lấy làm tiếc như vậy. Khó thở, dễ mệt, và nhất là không lên cân ở một trẻ nhỏ, mặc dầu được nuôi dưỡng tốt, phải báo động “.
Thường thường, ngoại khoa cho phép nhắm đến một hy vọng và chất lượng sống gần như bình thường, mặc dầu sự theo dõi phải tiếp tục suốt cuộc đời. ” Cách nay 35 năm, tỷ lệ tử vong ban đầu của phẫu thuật này là 20%. Hôm nay, tỷ lệ này là 1%, GS Vouhé đã giải thích như vậy. Những kết quả tốt này chủ yếu là do những tiến bộ của tuần hoàn ngoài cơ thể và của hồi sức hậu phẫu, và do những gián đoạn thai nghén có vấn đề sớm hơn, điều này có thể được biện minh nếu tương lai của đứa trẻ là thật sự đáng sợ.Những gián đoạn một thai nghén vì một chuyển gốc các động mạch lớn (transposition des gros vaisseaux) không còn được biện minh nữa vì từ nay ta biết điều trị bằng phẫu thuật một cách rất có hiệu quả những đứa trẻ này, mà sau đó chúng có một cuộc sống gần như bình thường.
(LE FIGARO 25/2/2019)

2/ CHỤP HÌNH ẢNH ĐÃ CHO PHÉP MỘT BƯỚC KHỔNG LỒ TRONG CHẨN ĐOÁNNhững tiến bộ của chụp hình ảnh đã cải thiện rất nhiều tiên lượng của những dị dạng bẩm sinh. Thật vậy, những dị dạng bẩm sinh được thành hình rất sớm và, như GS Jean-Nicolas Dacher, radiologue ở CHU de Rouen đã nhắc lại, ” chính siêu âm tim vào tam cá nguyệt thứ hai của thai nghén cho thấy nhiều chuyện nhất. Nhưng vài dị dạng như thông liên nhĩ (communication interauriculaire) không thấy được trước khi sinh do tuần hoàn mẹ-thai nhi trong thời kỳ thai nghén.”
Sau khi sinh, siêu âm tim (échocardiographie), cho phép khảo sát cơ thể học của tim, nhưng cũng, cùng với Doppler, những luồng máu (flux sanguin) và những thiếu sốt của chúng, vẫn là cơ sở của sự theo dõi. Nhưng khi trẻ càng lớn thì điều này sẽ càng ít góp phần hơn. ” Từ 20 năm nay đã xuất hiện những kỹ thuật chụp hình ảnh bổ sung, en coupe IRM và scanner, thích ứng với thăm dò tim và các huyết quản, có thể thực hiện ngay cả ở những trẻ rất nhỏ, mang lại những thông tin bổ sung. Scanner, cơ thể học hơn, cho phép thấy rõ những động mạch vành, rất nhỏ, những động mạch phổi, động mạch chủ và những hồi luu tĩnh mạch (retours veineux) bất thường”, thầy thuốc X quang đã giải thích như vậy.
IMPRESSION 3 D
” IRM, cơ năng hơn, cho phép thấy điều không được phân biệt rõ bằng siêu âm, như thất phải, rất có liên quan trọng vài dị dạng tim, hay do những thể tích, những tốc độ luồng máu, định lượng những hẹp (rétrécissement), định rõ những hồi lưu ở van tim (reflux valvulaire)…Một kỹ thuật mới, IRM de flux 4 D, cho phép thấy bằng vidéo với codage informatique en couleur tất cả những flux cardiaque, những chuyển động của chúng, những turbulences…Đặc biệt hữu ích trong phân tích những dị dạng bẩm sinh này…”
Từ ít lâu nay, phát xuất từ một imagerie scanner rất chính xác, ta cũng thành công điều biến tim theo 3 chiều, thậm chí làm một impression 3D một tim dị dạng. ” Điều đó có thể hữu ích cho thầy thuốc ngoại khoa bằng cách cho phép hoạch định can thiệp của mình còn chính xác hơn nữa.”
(LE FIGARO 25/2/2019)

3/ DỊ DẠNG TIM : CÁC TRẺ EM CŨNG NHƯ NHỮNG BỆNH NHÂN KHÁC, NHƯNG PHẢI THEO DÕI.
Phần lớn những trẻ em được mổ một dị dạng tim có một cuộc sống bình thường. Đến độ đôi khi ta đã xem chúng, hơi nhanh, như được chữa lành. ” Nhìn toàn bộ, chúng khỏe mạnh, đó là những trẻ như những trẻ khác, cần chơi thể thao, có một đời sống vệ sinh tốt, không nên quá bảo vệ chúng. Thí dụ có rất ít chống chỉ định thể thao ngoài môn lặn dưới biển (plongée sous-marine) “, GS Bonnet đã nhấn mạnh như vậy. Tuy vậy, chúng không được chữa lành, chúng sẽ không bao giờ như vậy, và suốt cuộc đời chúng phải được theo dõi bởi một thầy thuốc chuyên khoa tim, chuyên về những bệnh bẩm sinh, bởi vì chúng không tránh được những biến chứng.
THỜI KỲ THIẾU NIÊN : TUỔI CRITIQUE
Một sự gián đoạn theo dõi thường được liên kết với một tình trạng sức khỏe ít tốt hơn. “Thí dụ, những công trình nghiên cứu đã cho thấy một tỷ lệ tử vong cao hơn của những bệnh nhân có một tétralogie de Fallop, khi những bệnh nhân này không được theo dõi một cách đều đặn bởi một trung tâm chuyên môn”, BS Magalie Ladouceur, cardiologue congénitaliste thuộc Bệnh viện châu Âu George-Pompidou (Paris) đã giải thích như vậy. ” Mỗi trong những dị dạng bẩm sinh này đòi hỏi một sự theo dõi đặc thù. Những thời kỳ thiếu niên và sự bước vào tuổi trưởng thành là những période critique, bởi vì chúng cảm thấy en forme, và không muốn bị quấy rầy bởi căn bệnh…” Những consultation d’éducation thérapeutique dành cho cha mẹ và các trẻ em được thành lập trong những trung tâm của réseau M3C để giúp họ hiểu sự cần thiết của sự theo dõi này và theo kèm họ trong suốt quá trình của đời sống cá nhân, nghề nghiệp, hay trong trường hợp thai nghén.
Trong số những biến chứng muộn, ” những rối loạn nhịp, nhất là do những sẹo tim, là những biến chứng thường gặp nhất và xuất hiện khoảng 40 tuổi. Trong trường hợp những hồi hộp dai dẳng, phải khám cấp cứu bởi vì điều đó có thể trở nặng nhanh chóng “, thầy thuốc chuyên khoa tim đã xác nhận như vậy. Biến chứng khác, suy tim xảy ra ở 20% những bệnh nhân trưởng thành. ” Khó phát hiện và phòng ngừa, biến chứng này được điều trị bởi cùng những thuốc như những suy tim khác, mà ta không biết chúng có cùng tính hiệu quả hay không.”
KHÓ KHĂN HỌC ĐƯỜNG
Hiện hữu vài công trình nghiên cứu quốc tế về tương lai của những đứa trẻ này, nhưng người ta không biết rõ điều đó ” bởi vì trước đây chúng không sống sót lâu như thế”, BS Ladoiuceur nhấn mạnh như vậy.
Để định đặc điểm tốt hơn những bệnh lý này, công trình nghiên cứu Epicard đã theo dõi tất cả các trẻ em của Paris sinh giữa 2005 và 2008 với một dị dạng tim. ” Những kết quả sau 8 năm, mặc dầu chưa công bố, đã cho thấy rằng những dị dạng tim này thường được xử trí và sửa chữa tốt, BS Babak Khoshnood, nhà nghiên cứu ở Inserm và người phụ trách công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Chúng đã không có ảnh hưởng mạnh lên sự phát triển thần kinh của những đứa trẻ này. Nhưng chúng có những khó khăn kín đáo hơn trong sự chú ý và những chức năng thực hành để hoàn thành vài công tác, hay đúng hơn vài thành phần của những công tác neuro-cognitive. Với những ảnh hưởng lên bình diện học đường cần phải phát hiện.
(LE FIGARO 24/2/2019)

4/ UNG THƯ THỰC QUẢN : PHÒNG NGỪA BẰNG BỌT BIỂN (EPONGE)
Thực quản Barrett là một tình trạng cơ thể học, trong đó niêm mạc của phần dưới thực quản (bas oesophage) bị ăn mòn bởi một hồi lưu dạ dày (reflux gastrique) và được thay thế bởi một niêm mạc loại ruột (muqueuse de type intestinal). Trong 10 đến 15% những trường hợp, điều đó có thể gây ung thư. Nội soi tiêu hóa với sinh thiết niêm mạc cho phép chẩn đoán nhưng cũng có thể bỏ lỡ nó. Nhất là, nhiều bệnh nhân không làm thăm dò này. Những thầy thuốc của bệnh viện Johns Hopkins, Baltimore (Hoa Kỳ), đã hiệu chính một hệ thống tài tình, EsophaCap : bệnh nhân nuốt vào một bọt biển (éponge) trong một capsule de gélatine, được nối với một sợi dây. Sau một phút trong dạ dày, gélatine tan đi, bọt biển mở ra. Bằng cách kéo lên sợi dây, ta thu hồi bọt biển, khi đó nó ngoáy một cách nhẹ nhàng những tế bào của thực quản. Lợi ích : một chẩn đoán không cần nội soi, có thể sớm, vào giai đoạn mà sự cắt bỏ niêm mạc bất thường bằng radiofréquence có thể thực hiện, điều này loại bỏ nguy cơ ung thư.
(PARIS MATCH 4/4-10/4/2019)
Đọc thêm : TSYH số 396, bài số 8

5/ NGỦ NGON : TẤT CẢ NHỮNG GIẢI PHÁP
Damien Léger, trưởng Centre du sommeil et de la vigilance, Hotel-Dieu, Université Paris Descartes, giải thích những lý do của mất ngủ và làm sao xử trí nó.
Hỏi : Những cơ chế sinh lý nào điều hòa giấc ngủ và sự thức tỉnh.
Damien Léger : Chính trong hypothalamus là nơi của những trung tâm neurone kiểm soát giấc ngủ và sự thức tỉnh, đặc biệt đồng hồ sinh học (horloge biologique), có nhiệm vụ điều hòa nhịp ngày đêm (rythme circadien) (trong 24 giờ) của cơ thể, chính chúng được điều biến bởi sự luân phiên ngày-đêm.Hỏi : Ông có thể nhắc lại những giai đoạn của giấc ngủ bình thường và vai trò của chúng ?
Damien Léger : Có 5 đến 6 giai đoạn. Mỗi giai đoạn khoảng 90 phút. Mỗi chu kỳ bắt đầu bằng một giấc ngủ nhẹ và chậm (un sommeil lent léger), được tiếp theo bởi một giấc ngủ chậm và sau (un sommeil lent profond) và chấm dứt bởi giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal), được đánh dấu bởi những cử động nhãn cầu nhanh và một hoạt động mạnh vô ý thức của não. Giấc ngủ chậm và sâu cho phép sửa chữa, nạp lại năng lượng và chuyển hóa của các tế bào qua tác dụng của những kích thích tố khác nhau. Giấc ngủ nghịch lý, giấc ngủ của những giấc mơ, giữ cân bằng trạng thái tâm thần và củng cố trí nhớ.Hỏi : Giấc ngủ xấu có phải là một rối loạn thường gặp ở Pháp ?
Damien Léger : Gần 10% những người Pháp bị chứng mất ngủ nặng, 8% ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnée du sommeil), 25% những người trưởng thành bị nợ ngủ (dette de sommeil)
Hỏi : Những nguyên nhân và những yếu tố làm dễ ?
Damien Léger : Chủ yếu đó là những yếu tố môi trường : những tiếng động, nhiệt độ quá cao, ô nhiễm ánh sáng (pollution lumineuse), stress, nhịp đời sống không đều. Hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ (syndrome d’apnées du sommeil) là một nguyên nhân thường gặp khác, được làm dễ bởi vài bẩm chất cơ thể học (prédispositions anatomiques) : nghẽn tắc mũi, lưỡi dày, cằm nhỏ, nhưng cũng bởi tăng thể trọng và béo phì. Nợ ngủ (dette de sommeil) bị gây nên bởi làm việc ban đêm hay làm việc với giờ giấc chênh lệch (horaires décalés), những hành trình dài trong ngày, sử dụng écran vào ban đêm và quá khuya. Nợ ngủ và những ngừng thở ngắn lúc ngủ có thể là một nguyên nhân ngủ gà ban ngày (somnolence diurne).
Hỏi : Những thăm dò có hữu ích không ?Damien Léger : Polygraphie respiratoire phân tích, nhờ những capteur mũi- miệng, số những ngừng hô hấp (pauses respiratoires) hơn 10 giây và hậu quả của chúng lên tỷ lệ oxygène trong máu (capteur ở ngón tay). Cũng hiện hữu một application sur portable để biết thời gian ngủ và thời gian rống (iSommeil). Thăm dò quy chiếu vẫn là polysomographie (PSG), cho phép phân tích định lượng và định tính và giúp chẩn đoán nguyên nhân của rối loạn. PSG có thể được thực hiện ngoại trú (những điện cực và enregistreur được đặt ở bệnh viện, còn ghi được làm tại nhà) hay ở centre du sommeil đối với những trường hợp phức tạp. Khoảng một trăm trung tâm được ghi vào danh mục trên site của Société française de recherche và médecine du sommeil.
Hỏi : Những điều trị và phòng ngừa nào là khả dĩ ?
Damien Léger : Những thuốc ngủ loại benzodiazépines không thể được kê đơn quá 28 ngày. Nghiên cứu hướng về những loại thuốc ngủ mới đối kháng với orexine (kích thích tố chu đạo của sự thức tỉnh). Điều trị quy chiếu của mất ngủ mãn tính nhờ đến thérapie cognitive et comportementale. Điều trị apnée nhờ đến một respirateur à pression positive continue. Về phòng ngừa, ta khuyến nghị theo những nhịp ngủ và dậy đều đặn, chú ý môi trường của căn phòng của mình (tiếng động, ánh sáng, nhiệt độ lý tưởng 18 độ C, bộ đồ giường (literie) dưới 10 năm và có kích thước lớn), thực hành một hoạt động thể thao đều đặn, ưu tiên một chế độ ăn uống dựa trên glucide và không có rượu vào buổi tối. Ngủ trưa (sieste) (không hơn 15-20 phút) là một cách tốt để chống lại nợ ngủ, nhưng tốt nhất là ngủ ít nhất 7 giờ mới 24 giờ trong tuần và 8 đến 9 giờ vào cuối tuần.
(PARIS MATCH 28/2-6/3/2019)
Đọc thêm : TSYH số 434, bài số 10
TSYH số 190, bài số 2
TSYH số 189, bài số 4

6/ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ CÓ LỢI CHO NÃO BỘ.
Những bằng cớ tích luỹ về những lợi ích của một hoạt động vật lý đều đặn đối với não bộ. Một công trình nghiên cứu của Phần Lan vừa cho thấy, ở 10 cặp anh em sinh đôi nam trưởng thành, rằng những người anh sinh đôi, là những người thể thao nhất, có nhiều chất xám (neurone, synapse) hơn những người em sinh đôi, trong hai cấu trúc chủ chốt : striatum (kiểm soát những cử động) và vỏ não trước trán (cortex préfrontal) (vùng cụ thể hóa tư duy và ra quyết định). Một công trình nghiên cứu khác của Thụy Điển, đã phân tích những dữ kiện của 925 người đã sống sót sau một tai biến mạch máu não : xác suất có một mức độ phế tật thấp tăng gấp đôi ở những người, trước tai nạn, đã có một hoạt động vật lý đều đặn, ngay cả nhẹ (tương đương với ít nhất 30 phút đi bộ mỗi ngày), so với những người không hoạt động (sédentaire). Ở những người hoạt động nhất, tác dụng phòng ngừa này còn được tăng cường.
(PARIS MATCH 20-25/12/2018)

7/ BỆNH THỐNG PHONG (GOUTTE) : PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ
GS Pascal Richette, trưởng service de rhumatologie, bệnh viện Lariboisière, Paris, giải thích làm sao phòng ngừa và điều trị bệnh thống phong (goutte).
Hỏi : Hôm nay ta xác định nó như thế nào ?
GS Pascal Richette : Bệnh thống phong là một phong thấp viêm (rhumatisme inflammatoire) thường gặp nhất. Bệnh này được liên kết với sự gia tăng trong nhiều năm nồng độ acide urique trong máu (uricémie) (bình thường acide urique hòa tan trong máu). Vượt quá một ngưỡng nào đó, acide urique kết tủa dưới dạng những tinh thể. Theo dòng thời gian, những tinh thể này lắng đọng gần như khắp nơi trong cơ thể, nhất là trong các khớp, nhưng cũng trong thận và những đường bài tiết.
Hỏi : Tần số, những yếu tố tạo thuận và nguyên nhân ?
GS Pascal Richette : Bệnh thống phong liên hệ 1% những người trưởng thành (450.000 người ở Pháp, thường hơn ở đàn ông), có một tố bẩm di truyền thừa hưởng từ cha mẹ. Bệnh thống phong thường được biết : 40% những người bị bệnh thống phong có những tiền sử gia đình. Thêm vào là một sự tiêu thụ cao những thức ăn giàu purine (thịt, lòng, cá mỡ, fruits de mer, bia, rượu nặng , nhưng rượu vang thì không). Bệnh thống phong xuất hiện giữa 20 và 30 tuổi. Người bị bệnh thống phong là một người sống khỏe, hơi tăng thể trọng và thường có những bệnh tim mạch liên kết. Bệnh thống phong xuất hiện bởi vì thận không thải acide urique thặng dư. Sau đó, suy thận là một yếu tố làm trầm trọng quan trọng. Cũng vậy nhưng thuốc lợi tiểu phong bế về phương diện hóa học sự bài tiết này.
Hỏi : Bệnh thống phong được biểu hiện như thế nào ?
GS Pascal Richette : Bởi những cơn viêm cấp tính rất đau (hàm ý sự phóng thích của một protéine được gọi là interleukine 1) xảy ra một cách chọn lọc ở các khớp, nhất là khớp của ngón cái ở một bên duy nhất. Một nét đặc thù cho các cơn đầu tiên là chữa lành trong 8 đến 10 ngày không có một biến chứng nào. Nếu không làm gì hết, các cơn cấp tính lập lại, lan rộng đến những khớp khác (mắc cá, đầu gối) và phá hủy dần dần sụn của chúng. Trong những thể nặng, những tinh thể cũng lắng đọng dưới da (có thể sờ thấy sau tai, cùi chõ và ở bàn tay).
Hỏi : Nhưng xét nghiệm phụ hữu ích là gì ?
GS Pascal Richette : Sự phát hiện những tinh thể, bằng chọc hoạt dịch (liquide synovial) trong một khớp hay bằng siêu âm hay scanner cho thấy các tinh thể ở bề mặt của các sụn, xác nhận chẩn đoán. Một nồng độ acide urique trong máu (uricémie) bình thường (nồng độ dưới 60 mg/l) và sự vắng mặt của cơn cấp tính làm cho chẩn đoán bệnh thống phong ít có khả năng. Một uricémie bình thường trong một cơn cấp tính không phải là một tiêu chuẩn có tính thuyết phục bởi vì đó không phải là lúc thích hợp để định lượng nó. Khi không có những yếu tố di truyền, một hyperuricémie không bị goutte là thường gặp (25% toàn dân).
Hỏi : Bệnh tiến triển như thế nào và những biến chứng nếu không được điều trị ?
GS Pascal Richette : Bệnh thống phong không được lơ là : điều trị không đúng, bệnh liên kết với một tỷ lệ tử vong gia tăng và một chất lượng sống bị biến đổi bởi những tổn hại khớp gây nên. Bệnh thống phong cũng làm trầm trọng một suy thận có trước.
Hỏi : Điều trị và phòng ngừa bệnh thống phong ?
GS Pascal Richette : Điều trị cơn dựa trên colchicine liều thấp (1,5mg/ngày), được cho trong 3-5 ngày, dung nạp tốt hơnnhững liều mạnh được kê đơn trước ây. Hãy cho các thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) (naproxène). Từ vài năm nay, ta cũng có những chất ức chế interleukine 1, rất hiệu quả trong những thể nặng. Những thuốc hạ nồng độ acide urique trong máu (hypo-uricémiant) (allopurinol, fébuxostat), chỉ được kê đơn sau một cơn cấp tính đầu tiên hay thứ hai và không bao giờ trước đó, hòa tan các tinh thể và chữa lành tất cả bệnh nhân. Về phòng ngừa ta tránh tăng thể trọng và tiêu thụ quá mức purine. Ta dùng những thức ăn có lợi (đồ sữa gầy, café) và ta thực hành một hoạt động vật lý đều đặn.
(PARIS MATCH 21/2-27/2/2019)
Đọc thêm : TSYH số 363, bài số 4, 5 và 6

8/ KHỚP GIẢ (PROTHESE ARTICULAIRE) : TUỔI THỌ TĂNG CAO
Trong hai công trình nghiên cứu được công bố trong “The Lancet” cho thấy rằng tuổi thọ (durée de vie) của các khớp giả gối và háng (prothèses de genou et de la hanche) đã tiến bộ rõ rệt. Theo những dữ kiện liên quan đến 299.291 khớp giả hoàn toàn của đầu gối (PTG : prothèse totale du genou), phát xuất từ những registre của Úc và Phần lan, 93% vẫn hoạt động 15 năm sau khi đặt và 82% sau 25 năm ! Những dữ kiện liên quan đến 215.676 khớp háng giả (prothèse de la hanche), phát xuất từ cùng những registre, tiết lộ rằng hơn 89% còn hoạt động lúc 15 năm, 70% lúc 20 năm và 58% lúc 25 năm. Những vật liệu của các prothèse, như polyéthylène heutement réticulé, hôm nay rất bền đối với sự ăn mòn. Sự kiểm tra việc đặt đúng vị trí của các implant khi mổ, đóng một vai trò chủ chốt trong tuổi thọ của chúng, được thực hiện nghiêm túc hơn và sẽ còn được cải thiện trong tương lai với sự xuất hiện của những prothèse sur mesure, thích ứng với cơ thể học của bệnh nhân.
(PARIS MATCH 28/3-3/4/2019)

9/ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ CÓ HẠI HƠN THUỐC LÁ ?Một công trình nghiên cứu của Đức, xét đến sự tương tác của các khí trời (gaz atmosphérique) với những hợp chất hóa học phát xuất từ những hoạt động của con người, vừa đánh giá rằng số trường hợp tử vong đó ô nhiễm trên thế giới rất cao hơn những ước tính hiện nay và giết nhiều hơn thuốc lá. Số tử vong do ô nhiễm vượt quá 800.000 trường hợp mỗi năm ở Liên Hiệp châu âu !
(PARIS MATCH 28/3-3/4/2019)

10/ ECRAN : CHÚ Ý ÁNH SÁNG XANHCó ánh sáng tốt và ánh sáng xấu. Cả hai nằm trong phổ (spectre) phát ra bởi ánh nắng mặt trời và bởi những écran của chúng ta (ordinateur, télévision, portable, ampoule Led), bao gồm giữa những độ dài sóng từ 300 đến 500 nm (nanomètre). Ánh sáng tốt, được gọi là bleu turquoise (khoảng 490 nm), điều hòa sự sản xuất mélatonine (kích thích tố của giấc ngủ), những nhịp ngày đêm (rythme circadien) của chúng ta, tinh thần (moral) của chúng ta và làm dễ sự thức tỉnh. Ánh sáng xấu (ánh sáng của các écran, từ 415 đến 455 nm), xanh tím (bleu-violet), có năng lượng cao hơn, trong trường hợp tiếp xúc kéo dài sẽ có hại đối với thủy tinh thể và võng mạc, thậm chí là một yếu tố nguy cơ của đục thủy tinh thể và thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) ! Ngoài ra, buổi chiều, do ức chế mélatonine, nó ngăn trở sự thiu ngủ (endormissement) và chất lượng của giấc ngủ. Những giải pháp quang học nảy nở trên thị trường để phong bế ánh sáng xanh có hại (lunettes, filtres d’écrans). Không có một bằng cớ nào về tính hiệu quả của chúng ở động vật hay người.
(PARIS MATCH 14/3-20/3/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/4/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s