Thời sự y học số 475 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG RỐI LOẠN CỦA TIẾNG NÓI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TỐT HƠN
Hiền tính hay nghiêm trọng, chứng khó phát âm (dysphonie) nhận một loạt các kỹ thuật để phục hồi tiếng nói một cách thỏa mãn.
3 đến 4 tuần : thời gian dưỡng bệnh và phục hồi chức năng sau một vi phẫu thuật các dây thanh âm.DÂY THANH ÂM. Không gì tầm thường hơn vỡ tiếng nói. Được sử dụng tồi hay quá sử dụng, tiếng nói bị biến đổi, mất âm sắc hay không ra khỏi họng được nữa. Khi sự sản sinh tiếng nói bị biến đổi, biến đổi âm sắc, tiếng khàn khàn, hơi thở, giọng mũi, hay chỉ cảm giác không thoải mái hay tiếng nói không hiệu quả, ta nói chứng khó phát âm (dysphonie). Những người dùng tiếng nói trong nghề nghiệp, các giáo viên, các người bán ở chợ, những diễn viên hài…, đặc biệt bị điều này. Nhưng mọi người đều có thể bị.
Phần lớn chứng khó phát âm không nghiêm trọng. Nhưng đôi khi chúng phát hiện một rối loạn trầm trọng hơn, vậy không được lơ là.” Mọi biến đổi âm sắc của tiếng nói, khi kéo dài hơn 2-3 tuần phải được khám thanh quản bởi một ORL”, BS Lise Cruvier-Buchman, ORL-phoniatre thuộc bệnh viện Georges-Pompidou, Paris, đã nhấn mạnh như vậy.Nói, đó là sử dụng một máy ba tầng (machine à 3 étages) trong đó thanh quản là phần trung gian. Khi mở, thanh quản cho phép thở, khi đóng nó bảo vệ phổi chống lại những lạc đường của thức ăn (fausses routes alimentaires). Nửa đóng nửa mở, thanh quản cho phép nói nhờ hai dây thanh âm (cordes vocales) căng lên trong phần trung tâm : không khí thở ra đi qua giữa hai nếp gấp của dây thanh âm (plis vocaux) và làm rung chúng. Khi đó các dây thanh âm mở ra và khép lại với tốc độ lớn, biến đổi năng lượng không khí thành năng lượng âm thanh (énergie acoustique). Năng lượng này khi đó được khuếch đại bởi những bộ phận cộng hưởng (hầu, xoang miệng và xoang mũi). Những bộ phận cộng hưởng này khi đó điều biến, cấu âm để sinh ra tiếng nói.
Một hành vi hay một tư thế không thích ứng đôi khi đủ để phá vỡ cân bằng giữa hơi thở, sự rung và sự cộng hưởng. Sự bất làm quá sức hay hành hạ tieng nói về lâu về dài có thể gây nên chứng khó phát âm do sự xuất hiện của những nốt nhỏ (nodule) trên dây thanh âm. ” Những thương tổn chức năng hiền tính này ngăn cản sự đóng đúng đắn của các dây thanh âm. Chúng điển hình cho một sự sử dụng mãn tính quá mức của dây thanh âm “, BS Cruvier-Buchman đã giải thích như vậy. Điều đó cũng hơi giống với những nốt rộp da (cloques) hay những vết chai (cors) ở bàn chân. ” Những nodule này là do một sự sử dụng tồi của tieng nói. Điều trị duy nhất, nếu chúng vẫn tồn tại, vậy đó là phục hồi chức năng (rééducation).
Tuy nhiên trước hết cần thực hiện một chẩn đoán đúng, không lẫn lộn nhiễm trùng (infection) với thương tổn (lésion). ” Đôi khi ta điều trị một cách vô ích bằng những thuốc không hiệu quả, vì không khám đúng đắn thanh quản.” TMH hay thầy thuốc ngữ âm (phoniatre) có những dụng cụ, naso-fibroscope hay laryngoscope, cho phép nhìn thấy thanh quản, sự đóng của các dây thanh âm hay phân tích sóng niêm mạc phủ chúng, và chỉ rung trên phần cứng của dây thanh âm (dây chằng và cơ thanh âm), mà nó được phân cách bởi một khoảng cho phép sự rung này.” Vậy ta không mổ những nodule này, chúng sẽ biến mất với sự phục hồi chức năng, thầy thuốc ngữ âm nói như vậy. Ngoại trừ, hiếm, khi chúng đề kháng với sự phục hồi chức năng này. Đôi khi thăm khám sẽ phát hiện một thương tổn khác, nguồn gốc của chừng khó phát âm. Như một polype, hiền tính, xuất hiện đột ngột trên một dây thanh âm, đôi khi sau một tiếng kêu dữ dội hay một cơn ho mạnh. Hay một kyste, cũng hiền tính. ” Phù Reinke, khá thường gặp, được liên kết trực tiếp với sự sử dụng thuốc lá. Phù này được tạo thành trong khoảng giữa cơ thanh âm và niêm mạc, mà nó làm rối loạn sự rung, tạo một chứng khó phát âm dai dẳng. Một mệnh lệnh : hãy ngừng thuốc lá.”
Polype, kyste, phù Reinke hay những thương tổn hiếm hơn đôi khi phải được lấy đi bằng vi phẫu thuật để tái lập tieng nói một cách thỏa mãn. Thương tổn được lấy đi luôn luôn được phân tích để kiểm tra sự hiền tính của nó. Nhưng, S Cruvier-Buchman nhấn mạnh, ” những can thiệp này không bao giờ được thực hiện cấp cứu. Phải luôn luôn dùng thời gian để đánh giá đúng enjeu fonctionnel. Hãy bắt đầu, nếu có thể, sự phục hồi chức năng tiếng nói (rééducation vocale) trước can thiệp, được theo sau bởi một nghỉ ngơi hoàn toàn tiếng nói vài ngày, rồi 3-4 tuần dưỡng bệnh và phục hồi chức năng. Vậy phẫu thuật phải luôn được hoạch định “. Điều mà GS Antoine Giovanni, thầy thuốc ngoại TMH-ngữ âm (CHU Timone, Marseille), tóm tắt như thế này : ” Một khi xua đuổi mối lo sợ về một ung thư thanh quản, hiếm nhưng một chừng khó phát âm dai dẳng có thể là một dấu hiệu báo trước, vai trò của thầy thuốc ngữ âm, đó là nói điều mà ông ta có thể làm để cải thiện tiếng nói. Nhưng điều đó cũng hơi giống với ngoại khoa thẩm mỹ của tiếng nói. Vậy chính bệnh nhân, sau khi được đả thông, sẽ quyết định.
Vì lẽ rằng, ngay cả được thực hiện trong règles de l’art, phẫu thuật các dây thanh âm không phải là không có nguy cơ ” Ngay cả khi ta lấy đi một thương tổn tầm thương, vết thương có thể lành sẹo xấu và tiếng nói vẫn bị hỏng dài lâu.” Thế mà chất lượng của sự hóa sẹo là rất không thể dự kiến. Như thế ta tránh tái can thiệp trên một dây thanh âm bị thương tổn khi đã can thiệp trước đây trên thanh quản.
Nguyên nhân khả dĩ khác của chứng khó phát âm, liệt của một dây thanh âm do thương tổn dây thần kinh quặt ngược phân bố thần kinh đến nó. Những trường hợp tái phân bố thần kinh, được thực hiện nhất là bởi GS Jean-Paul Marie (CHU Rouen) khiến dự kiến những kết quả tốt trong điều trị những bại liệt này và mở ra những triển vọng đối với phẫu thuật thanh quản.
(LE FIGARO 8/2/2016)

2/ TƯƠNG LAI ĐIỀU TRỊ CỦA DYSPHONIE : CÁC TẾ BÀO GỐC VÀ GHÉP THẦN KINH
Mặc dầu ta nên chạm càng ít càng tốt các dây thanh âm để hạn chế nguy cơ gây sẹo, nhưng đôi khi cần phải làm như vậy trong vài thương tổn. Khi đó những vết sẹo để lại đôi khi ngăn cản sự phục hồi một giọng nói bình thường. ” Mô sợi sẹo (tissu fibreux cicatriciel) làm rối loạn cấu trúc rất đặc biệt của lớp nông của dây thanh âm, ngăn cản nó trượt trên một bình diện sâu và rung một cách đúng đắn. Một phẫu thuật bóc (décollememnt chirurgical) có nguy cơ làm trầm trọng sự việc, và sự tiêm vào cortisone để làm giảm xơ hóa (fibrose) ít hiệu quả trên các vết sẹo cũ “, GS Antoine Giovanni đã giải thích như vậy.
Triễn vọng mới : sử dụng những tế bào gốc hay những yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance) mà chúng chế tạo để làm tái tạo toàn bộ mô của các dây thanh âm. ” Ta không thể chấp nhận nguy cơ tiêm những tế bào gốc của phòng thí nghiệm vào trong những dây thanh âm ở người vi chung có thể bị thoái biến. Vậy những hy vọng được hướng về những yếu tố tăng trưởng được chế tạo bởi những tế bào này, được thu hoi trong môi trường cấy của chúng. Một thử nghiệm đầu tiên đã không cho những kết quả có sức thuyết phục, một thử nghiệm khác đang được tiến hành ở Thụy Điển.” Khả năng khác để tránh mối nguy cơ : sử dụng những tế bào gốc của chính bệnh nhân. Đó là con đường mà chúng tôi nghiên cứu, bằng cách trích từ mô mỡ của các bệnh nhân một phần cô đặc các tế bào gốc và những yếu tố tăng trưởng. Phần cô đặc này sẽ được tiêm vào trong dây thanh âm “. Một giai đoạn đầu tiên của thử nghiệm lâm sàng sẽ bắt đầu.
TÁI PHÂN BỐ THẦN KINH CÁC DÂY THANH ÂM.
Vài chứng khó phát âm là đó bại liệt của một dây thanh âm sau chấn thương hay sau khi cắt đoạn dây thần kinh quặt ngược phân bố thần kinh dây thanh âm. Biến chứng này xảy ra trong 4% trường hợp cắt bỏ tuyến giáp, đôi khí trong phẫu thuật ngực. ” Khoảng 1/3 những trường hợp khó phát âm này có thể được cải thiện bằng ngoại khoa, bằng cách làm khít lại dây thanh âm bị thương tổn với dây thanh âm kia, hay bằng cách gia tăng thể tích của nó, để chúng có thể đóng lại “, GS Jean-Paul Marie đã giải thích như vậy.
Phương pháp khác, tái phân bố thần kinh (réinnervation) các dây thanh âm, mà ông đã góp phần phát triển. “Trong vài trường hợp liệt thanh quản một bên (paralysie laryngée unilatérale), trước hết phải giảm nguy cơ thức ăn lạc đường (fausse route alimentaire) đe dọa phổi. Có thể giảm di chứng khó phát âm bằng cách tái phân bố thần kinh dây thanh âm bằng một ghép dây thần kinh thanh quản trên một dây thần kinh của cổ, để mang lại cho nó trường lúc cần thiết để đóng, mà không tìm cách làm xê dịch nó.” Trong những trường hợp liệt đóng hai bên, các dây thanh âm phải có thể xa ra để cho phép thở đồng thời sít lại để cho phép nói. ” Chúng tôi sử dụng một rễ của dây thần kinh hoành để tái phân bố thần kinh một cách chọn lọc đến các cơ đối kháng đóng và mở các dây thanh âm ở hai bên thanh quản “. Khoảng 50 bệnh nhân đã nhận được phẫu thuật ghép này. Sự phục hồi đòi hỏi 6 đến 9 tháng. Kỹ thuật này sẽ có thể được mở rộng cho những chỉ định khác.
(LE FIGARO 8/2/2016)

3/ NHÀ GIÁO, NGHỀ CÓ NGUY CƠ GÂY DYSPHONIE
Khi tiếng nói là một công cụ làm việc, nguy cơ hành hạ nó gia tăng. Điều đó đúng ở những nhà giáo. Theo một cuộc điều tra năm 2013 của MGEN và Giáo dục quốc gia, 13% nhà giáo bị handicap vocal từ trung bình đến nặng, 16% không có khả năng lên lớp ít nhất một lần trong năm, và 23% đã khám một professionnel de santé vì cùng lý do. Những yếu tố chính liên kết với những rối loạn này là phái nữ (vì những đặc điểm cơ thể học của dây thanh âm), một đòi hỏi tâm lý mạnh và sự việc đối mặt với những hung bạo tâm lý. Mối liên hệ giữa stress lúc làm việc và những vấn đề tiếng nói ở nhà giáo đã được tìm thấy bởi phần lớn các công trình nghiên cứu. Những rối loạn này gia tăng với tuổi tác. Những nhà giáo liên hệ cũng là những người ít thỏa mãn nhất về cuộc sống nghề nghiệp và chất lượng sống của họ.
Những kết quả này xác nhận những kết quả đã được báo cáo năm 2006 bởi expertise de l’Inserm về những rối loạn tiếng nói ở các nhà giáo. Đối với Corinne Loie, orthophoniste, cựu ca sĩ nhạc trữ tình, ngày xưa đã từng gặp một vấn đề như vậy, ” thái độ thuần y khoa của những rối loạn tiếng nói này không đủ. Phải xét chúng một cách toàn bộ hơn, hệ thống hơn ” Ta có thể làm nhạy cảm người nào đó về sự hoạt động của tiếng nói, về sự cân bằng âm thanh cần thiết để tránh sự cưỡng thúc, và về vệ sinh đời sống cần thiết để gìn giữ sức khỏe của dây thanh âm.” Những atelier pratique cho phép cảm thấy tốt hơn travail vocal và phân tích nguồn gốc của những loạn năng : ” Mục tiêu, đó cũng là làm cho các nhà giáo suy nghĩ về thực hành nghề nghiệp của mình, đôi khi khiến họ thay đổi chiến lược sư phạm bằng cách đa dạng hóa những dạng tương tác với các học sinh, để tiết kiệm tiếng nói của mình.”
(LE FIGARO 8/2/2016)

4/ UNG THƯ THANH QUẢN
Trong ung thư thanh quản, sự gìn giữ giọng nói có thể nằm ở bình diện thứ hai nếu sự sống còn của bệnh nhân đòi hỏi điều đó. ” Từ những năm 1980, nước Pháp đã phát triển những kỹ thuật cắt bỏ một phần thanh quản. Khi ta mổ một ung thư, nếu ta có thể bảo tồn một phần của thanh quản và các dây thanh âm, và một độ hẹp đủ của chúng, ta có thể có được một giọng nói thật sự đúng đắn”, GS Antoine Giovanni đã giải thích như vậy. ” Ngay cả khi phải lấy đi hai dây thanh âm và để lại tại chỗ chỉ một chỗ hẹp, ta có thể tái tạo một loại thanh quản thô sơ.” Khi sự cắt bỏ hoàn toàn thanh quản không thể tránh được, bệnh nhân phải học sử dụng tiếng nói thực quản (voix oesophagien). Nhưng thường bệnh nhân lại còn bị khó chịu hơn bởi lỗ mở khí quản (trou de trachéotomie), cần thiết để ăn uống và thở. Từ đó lợi ích của những công trình nghiên cứu về thanh quản nhân tạo, như công trình được phát triển bởi kíp của GS Christian Debry (CHU Strasbourg), mà mục tiêu đầu tiên là tái lập hô hấp và nuốt sinh lý.
” Đến nay, chúng tôi đã mổ 6 bệnh nhân, với một sự tiến bộ hằng định của những kết quả. Tiếng nói đã được cải thiện nhiều và nhiên hậu chúng sẽ có thể cho nó một âm sắc. ”
(LE FIGARO 8/2/2016)

5/ BỆNH SỐT RÉT BIẾN ĐỔI MÙI CỦA DA.
INFECTIOLOGIE. Những người bị bệnh sốt rét phát ra một mùi lôi kéo muỗi mang ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, như thế giúp bệnh lan tràn. Một kip những nhà nghiên cứu quốc tế đã chứng thực rằng da của những trẻ em Kenya bị bệnh sốt rét, tiết nhiều chất aldéhyde , những phân tử có mùi, hơn những trẻ em lành mạnh. Những hợp chất hóa học này được phát hiện một cách đặc hiệu bởi những antenne của muỗi.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2018)

6/ KHÔNG CÓ SINH NEURONE Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH ?
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ gợi ý rằng sự sản xuất của các tế bào thần kinh (neurone) dừng lại sau 18 tuổi.
NEUROLOGIE. Nếu thông tin này được xác nhận, nó sẽ gây nên một địa chấn thật sự trong công đồng các chuyên gia về não bộ. Bởi vì nó đặt lại vấn đề một ý tưởng được chấp nhận từ 20 năm nay : ngay người trưởng thành, não tiếp tục tạo các neurone. Song, trong một bài báo vang lừng được công bố trong tạp chí Anh Nature, một kip của đại học Californie ở San Francisco (USCF, Hoa Kỳ), được chỉ đạo bởi Arturo Alvarez Buylla, hôm nay lại xác nhận điều ngược lại. các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm những neurone trẻ trong các mô não của 59 người (từ thai nhi đến 77 tuổi). Theo những dữ kiện của họ, có được với những marqueurs à anticorps, có 1618 mỗi mllimètre vuông lúc sinh ra đời, chỉ 12 lúc 7 tuổi, 2 lúc 13 tuổi và không còn một neurone nào sau 18 tuổi ! Thế thì nói gi về nuung “bằng cớ” khoa học được mang lại từ quan sát về sự sinh neurone ở người trưởng thành bởi Peter Eriksson (Sahlgrenska University Hospital, Thụy Điển) và Fred H.Gage (Salk Institute, Californie, Hoa Kỳ) năm 1998 ? Làm sao nhìn kỹ 700 neurone mới mỗi ngày được hạch toán năm 2013 bởi kíp của Jonas Frisen, của Viện Karolinska (Thụy Điển) ? ” Vì sự sinh neurone (neurogenèse) là hiếm, nên các nhà nghiên cứu có thể đã không nhìn một cách chăm chú “, Jonas Frisen đã tưởng tượng như thế. Đối với ông ” phải rất thận trọng khi ta rút những kết luận từ những dữ kiện âm “.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2018)

7/ MỘT NỐT RUỒI NHÂN TẠO PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ.
ONCOLOGIE. Một thiết bị sẫm màu khi nó phát hiện một tăng canxi huyết (hypercalcémie), thường thấy ở nhiều ung thư, đã được trắc nghiệm thành công trên chuột và heo, ở Trường bách khoa liên bang Zurich (Thụy Sĩ). Patch dưới da này chứa những tế bào sản xuất mélanine và trở nên sẫm màu theo cách của một nốt ruồi. Patch này mở đường cho những điều trị sớm.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2018)

8/ HỦI : TẠI SAO TA KHÔNG THẤY SỰ CÁO CHUNG CỦA CĂN BỆNH NÀY ?

Professeur Francis Chaise
Chirurgien orthopédiste spécialisé
dans le traitement des séquelles
de la lèpre sur les membres.

Một trường hợp mới mỗi 2 phút trên thế giới : trái với những định kiến, căn bệnh lau doi này không bi trừ triệt : OMS, đã từng décrété năm 2005 rằng bệnh hủi không còn là một vấn đề y tế cộng cộng nữa xét vì sự giảm tỷ lệ lưu hành của căn bệnh, nhưng tháng tư năm 2016, đã tiết lộ một chiến lược thế giới chống lại bệnh hủi 2016-2020. Thế mà hơn 210.000 trường hợp mới vẫn còn được thống kê vào năm này (nguồn : OMS), trong đó gần 20% trẻ em dưới 15 tuổi và 20 đến 30% với những tàn tật nặng.Trên thế giới ta còn đếm được gần 3 triệu người bệnh hủi với những tàn tật hay những cắt cụt. Nhưng toàn bộ những con số này che dấu một thực tế tương phản hơn nhiều : vẫn còn hiện hữu những vùng rất endémique, một mình chiếm hơn một nửa các trường hợp.
Được gây nên bởi một mycobéctérie rất đặc biệt (trực khuẩn được mô tả bởi người Na Uy Hansen năm 1873), được truyền bằng đường hô hấp, bệnh hủi là một bệnh nhiễm trùng để lại vết tích (maladie infectieuse stigmatisante), được biết từ thời Thượng Cổ.
Bệnh hủi trước hết tấn công vào da rồi các dây thần kinh và cuối cùng, nếu không được điều trị kịp thời, gây nên những bại liệt và những cắt cụt của các chi cũng như những thương tổn nhãn cầu có thể dẫn đến mù lòa. Sự truyền bệnh được thực hiện bằng nước miếng và có thể bằng những tiếp xúc qua da, liên tiếp và kéo dài.
CAN THIỆP NGOẠI KHOA
Trực khuẩn Hansen, hôm nay được biết rõ hơn, chịu trách nhiệm một căn bệnh vẫn khó kiểm soát : vì tiến triển của bệnh cực kỳ chậm, thời gian ủ bệnh có thể kéo dài đến 20 năm, thời kỳ trong đó bệnh nhân có khả năng gây nhiễm. Điều trị, dựa trên một protocole được khuyến nghị bởi OMS, được biết dưới thuật ngữ PCT (polychimiothérapie). Mặc dầu điều đó, những phản ứng miễn dịch mạnh mẽ có thể xảy ra vào bất cứ giai đoạn nào của bệnh. Sự phá hủy nhanh của các dây thần kinh ngoại biên khi đó gây nên những bài liệt cảm giác và vận động của mắt, bàn tay và bàn chân, với những hậu quả rất tàn phế, sources d’exclusion : những tàn tật, những cụt chị…Tuy nhiên một can thiệp ngoại khoa thường có thể được thực hiện để giải phóng dây thần kinh bị đè ép. Vậy sự điều tra phát hiện căn bệnh là một enjeu quan trọng.
Ordre de Malte France phát triển những partenariat với các Bộ Y Tế của các nước liên hệ và tham gia tích cực vào những chương trình quốc gia chống lại bệnh hủi để xác định những chiến lược thích ứng với mỗi nước, với văn hóa và những tín ngưỡng của nước đó. Những équipe được huy động trên thực địa từ hơn 20 năm nay ở châu Phi và hơn 30 năm ở châu Á : phát hiện sớm, điều trị và phòng ngừa những tàn tật, chirurgie de réhabilitation, bảo vệ các chi và mặt, và những dự án hội nhập xã hội và chống lại những phân biệt đối xử. Sự đào tạo nhân viên y tế vẫn là một yếu tố chủ yếu trong sự chống lại bệnh hủi.
Tình hình của Congo minh họa một cách hoàn hảo tính đặc biệt của bệnh hủi. Nhiều trường hợp đã được chẩn đoán trong vùng xa xôi nhất của đất nước, rừng nhiệt đới, ở đó cư dân bản địa của la Lihouala sống. Đơn độc, thiếu về sinh và sự chung đụng đã tạo điều kiện cho sự phát triển và gia tăng của căn bệnh. Trong vùng này, ở đây cư dân sống trong tình trạng rất nghèo nàn và thiếu sự tiếp cận y tế, Ordre de Malte France, cộng tác với Cơ quan phát triển Pháp, đã phát động vào năm 2017 một chương trình ” hỗ trợ cư dân bản địa của Likouala”. Dạy cho một lượng lớn nhất và đặc biệt nhân viên y tế tại chỗ phát hiện bệnh ngay những dấu hiệu đầu tiên đã trở nên một enjeu quan trọng.
Nhiều tiến bộ, được ủng hộ boi Ordre de Malte France, đã được thực hiện từ một chục năm qua : hiệu chính một vaccin đang được chuẩn nhận, giải mã génome của một vi khuẩn, nghiên cứu protocole điều trị hệ thống bằng các kháng sinh những người đã bị tiếp xúc bởi một nạn nhân của bệnh hủi, tìm kiếm một cách hệ thống những dấu hiệu lâm sàng của bệnh ở những bệnh nhân trong những người thân cận của một người bệnh được biết…những bức tranh được dựng lên vẫn làm lo lắng.
Bằng sự tiếp tục cung hiến quỹ và những phương tiện người, phát triển không ngừng những đồng vận mới với các Nhà nuoc, hỗ trợ những chương trình quốc gia chống lại bệnh hủi, đi sát hơn những cư dân cách biệt, không phải là không tưởng khi ước mơ trừ triệt vĩnh viễn căn bệnh có của sự nghèo nàn này. Sự bổ nhiệm bởi Liên Hiệp Quoc vào tháng 11 năm 2017 một báo cáo viên đặc biệt nhằm loại bỏ sự đối xử phân biệt những người bị bệnh hủi và những thành viên của gia đình của họ được ghi trong logique này, trong đó mọi người có một vài trò.
(LE FIGARO 15/1/2018)

10/ MÔ KẼ (INTERSTITIUM) LÀ CƠ QUAN LỚN NHẤT CỦA CON NGƯỜI.HISTOLOGIE. ” Interstitium ” : đó là cơ quan được đặt tên như vậy có thể chính thức trở thành cơ quan thứ 80 và lớn nhất của cơ thể người. Đó là một lớp mô đầy một chất dịch chạy khắp toàn bộ cơ thể. Các nhà nghiên cứu đã thành công quan sát nó ở bệnh viện Mount Sinai Beth Israel, ở New York (Hoa Kỳ), trong khi nó đã vẫn không nhìn thấy cho đến nay vì những kỹ thuật hiển vi được sử dụng. Khám phá này phát hiện rằng lớp mô mà ta nghĩ là đặc, trên thực tế là một tập hợp các ngăn được nối kết với nhau, đầy dịch, được nâng đó bởi một mạng protéine chắc (collagène) và uốn được (élastine)
Interstitium có thể đóng vai trò của một amortisseur, bảo vệ các cơ quan mà nó bao quanh. Nhưng không phải là tất cả. ” Khoang kẽ (espace interstitiel) là nguồn bạch huyết chủ yếu” của cơ thể, các nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy, nghĩa là dịch, sinh tử cho sự hoạt động của những tế bào miễn dịch, mà sự tuần hoàn song song với tuần hoàn máu. ” Xa lộ dịch chuyển động” (autoroute de fluide en mouvement) này cũng có thể giúp ung thư lan tràn toàn cơ thể.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/7/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 475 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 486 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s