Cấp cứu nhi khoa số 25 – BS Nguyễn Văn Thịnh

NHỮNG BỆNH PHÁT BAN NHI ĐỒNG
(INFECTIOUS DISEASE ASSOCIATED WITH EXANTHEMS)

I. NHỮNG BIỂU HIỆN LÂM SÀNG.

1. NHỮNG NGOẠI BAN KHÔNG ĐẶC HIỆU DO VIRUS
Những nguyên nhân thông thường nhất cửa các ngoại ban không đặc hiệu do virus là các enterovirus (coxsackievirus, echovirus, enterovirus) và những virus đường hô hấp (adenovirus, rhinovirus, parainfluenza virus, respiratory syncytial virus, influenza virus). Hầu hết các ngoại ban mùa hè là do enterovirus trong khi các virus hô hấp nổi trội trong những tháng lạnh hơn. Ngoại ban không đặc hiệu do virus biểu hiện bằng những dát và sần đỏ (erythematous macules et papules), hóa trắng khi đè, được phân bố khuếch tán trên thân và các chi, đôi khi ở mặt. Những triệu chứng liên kết gồm sốt, đau đầu, những triệu chứng đường hô hấp trên và tiêu hóa, đau cơ, và mệt.
Coxsackie A 4 virus gây sốt và herpangina (những mụn nước và loét 1-5 mm của hầu sau). Một ngoại ban đỏ dát-sần (erythematous maculopapular exanthem) có thể phát triển sau khi bệnh nhân hạ nhiệt. Ở vài bệnh nhân, những thương tổn trở thành mụn nước, lan tràn đến các chi, và thoái biến thành màu nâu nâutrong 1 đến 2 tuần. Sốt và một ban đỏ bắt đầu ở mặt và cổ, rồi lan tràn đến thân và các chi, là đặc điểm của nhiễm virus Coxsackie A 9. Có thể có một
viêm màng não vô trùng (aseptic meningitis) liên kết. Virus Coxsackie A16 gây hand-foot-mouth syndrome, với sốt nhẹ, ăn mất ngon, khó ở, và đau miệng, được tiếp theo sau bởi nổi mụn nước trên bàn tay và/hay bàn chân liên kết với những thương tổn trong miệng giống herpangina. Ban liên kết với virus coxsackie B5thường dát-sần (maculopapular), nhưng đôi khi nó có thể là đốm xuất huyết (petechial). Có thể xảy ra đồng thời nhưng hiếm viêm màng não vô trùng (aseptis meningitis) hay viêm cơ tim.
Echovirus 9 và enterovirus 17 gây một bệnh sốt không đặc hiệu, có thể được liên kết với viêm màng não vô trùng. Ban của echovirus 9 thường dạng ban đào(rubelliform) hay đốm xuất huyết (petechial), trong khi ban liên kết với enterovirus 71 thay đổi từ ban đỏ dát-sần hay mụn nước.

2. BỆNH SỞI (MEASLE, RUBEOLA)

Mặc dầu sự tiêm chủng đã làm giảm nhiều tỷ lệ mắc bệnh sởi ở Hoa Kỳ, nhưng những cơn bộc phát tiếp tục xảy ra, chủ yếu trong mùa đông và mùa xuân. Sởi được truyền bởi tiếp xúc trực tiếp với những giọt nhỏ rất lây hay bởi truyền qua không khí, với thời gian tiềm phục từ 8 đến 12 ngày. Sởi được biểu hiện bởi 3 C : cough (ho), coryza (sổ mũi), và conjunctivitis (viêm kết mạc), thường được liên kết với một sốt cao (đến 40 độ C). Trong giai đoạn tiền chứng này, những đốm Koplik đặc hiệu xuất hiện. Chúng là những đốm trắng nhỏ (1-2 mm) với một nền đỏ trên niêm mạc miệng. Những đốm Koplik thường biến mất trong vòng 48 giờ sau khi xuất hiện ngoại ban, thường xuất hiện vào ngày thứ tư của bệnh. Những dát và sần đỏ không ngứa xuất hiện đầu tiên ở mặt và lan ra thân mình và các chi. Ban nhạt màu đi theo cùng thứ tự khi nó xuất hiện. Những biến chứng gồm có viêm phổi, viêm tai, viêm phế quản, viêm não, và viêm cơ tim.
Hiện nay hai loại sởi khác được công nhận, sởi bị biến đổi và sởi không điển hình. Sởi bị biến đổi (modified measle) xảy ra ở một bệnh nhân được tạo miễn dịch một phần, có một tiền chứng ngắn hơn, một phát ban ít nặng hơn, và có thể không có những đốm Koplik. Những sởi không điển hình (atypical measle) đôi khi đã được báo cáo trong số những bệnh nhân đã nhận thuốc chủng sống giảm độc lực (live attenuated vaccine). Sởi không điển hình được biểu hiện với sốt cao đột ngột, đau cơ, và ho. Trái với sởi điển hình , ban bắt đầu ở các chi 2 đến 5 ngày sau và lan hướng tâm. Viêm phổi thùy thường hiện diện.

3. ERYTHEMA INFECTIOSUM :
Cũng được biết dưới tên bệnh thứ năm (fifth disease), nhiễm virus huyết (viremia) này được gây nên bởi parvovirus B19. Bệnh thường xảy ra nhất trong mùa xuân, chủ yếu gây bệnh những trẻ từ 4 đến 10 tuổi. Bệnh được truyền bởi những giọt nhỏ hô hấp (respiratory droplets), tiếp theo sau bởi một thời kỳ tiềm phục từ 6 đến 14 ngày. Vài bệnh nhân có một tiền chứng nhẹ gồm có đau đầu, sốt nhẹ, khó ở, viêm họng, đau khớp, và những triệu chứng tiêu hóa trước khi bắt đầu nổi ban. Sự nổi ban bắt đầu với sự xuất hiện đột ngột “má bị tát” (slapped cheeks) (những mảng đỏ trên má).

Sau đó ban lan ra ở thân mình và các chi, ở đây ban xuất hiện dưới dạng những vết dát và sần đỏ, trước khi phát triển thành một mẫu vẽ hình lưới giống ren (lacy reticular pattern). Đau khớp và viêm khớp có thể hiện diện trong 10% các bệnh nhân. Parvovirus có thể triệt tủy xương, vì vậy những bệnh nhân với các hồng cầu với thời gian sống ngắn ngủi (sickle cell disease, thalassemia, hereditary spherocytosis, pyruvate kinase deficiency) có nguy cơ bị một cơn bất sản (aplastic crisis) tạm thời. Nhiễm parvovirus trong khi có thai có thể gây phù thai nhau (fetal hydrops) và tử vong.

4. BAN ĐÀO TRẺ EM (ROSEOLA INFANTUM)
Roseola infantum hay Erythema subitum được nghĩ là được gây nên bởi herpes-virus-6 người, được truyền bởi các giọt nhỏ hô hấp (respiratory droplets). Roseola gây bệnh cho trẻ em từ 6 tháng đến 2 tuổi, với tỷ lệ mắc bệnh cao nhất vào tháng thứ 6 đến 7. Thường thường đó là một bệnh tự giới hạn, hiền tính, được đặc trưng bởi 3 đến 5 ngày sốt cao (39 đến 40,5 độ C), cao nhất vào ban đêm. Những triệu chứng khác hiếm nhưng có thể bao gồm những dấu hiệu hô hấp nhẹ, tính dễ bị kích thích, và khó ở. Sốt chấm dứt đột ngột, tiếp theo là nổi ban trong vòng 24 đến 48 giờ. Sự nổi ban được đặc trưng bởi những vết dát và sần nhỏ, hồng, hóa trắng khi đè. Ban hiếm khi ngứa và thường nhạt dần trong vòng 1 đến 2 ngày.

5. BỆNH BAN ĐÀO (RUBELLA) (GERMAN MEASLES) (RUBÉOLE).
Trước khi có vaccin chống bệnh ban đào (rubella), tỷ lệ mắc bệnh cực đại của rubella ở những trẻ từ 5 đến 14 tuổi, nhưng giờ đây được thấy ở những trẻ lớn hơn không được tiêm chủng và ở người lớn. Sau một thời kỳ tiềm phục 14 đến 21 ngày, bệnh ban đào được biểu hiện bởi một nhiễm đường hô hấp trên. Ban của bệnh ban đào thay đổi, bắt đầu ở mặt và sau đó lan đến những vùng khác. Bệnh bắt đầu như những dát-sần (maculopapules), có thể trở thành những sần như đầu kim (pinpoint papules), tương tự với những sần được thấy trong bệnh tinh hồng nhiệt. Có thể có ngứa nhẹ và thường biến mất trong vòng 72 giờ. Những dát màu hồng (rose-colored macules) có thể phát triển trên khẩu cái mềm ngay trước khi nổi ban, và bệnh nhân có thể nổi hạch đau ở sau tai, sau cổ, và vùng chẩm. Bệnh nhân sẽ thải virus trong 7 ngày trước và sau khi ban xuất hiện. Bệnh hồng đào có thể gây nhiễm thai nhi nghiêm trọng nếu một phụ nữ có thai dễ bị bệnh.

6.THỦY ĐẬU.
Một thời là một bệnh trẻ em rất thông thường, thủy đậu giờ đây thường được thấy ít hơn nhờ tiêm chủng. Thủy đậu là một bệnh rất lây nhiễm với một thời gian tiềm phục từ 11 đến 21 ngày. Những triệu chứng gồm có sốt, khó ở, đau đầu, ăn mất ngon, và đau bụng.

Sau 24 đến 48 giờ, một ban ngứa dữ dội xuất hiện ở mặt, da đầu, hay thân mình và lan tràn ra ngoại biên. Ban bắt đầu như là những dát đỏ (erythematous macules), tiến triển thành những sần (papules) và sau đó thành những mụn nước (vesicles) chứa thanh dịch “giọt sương trên cánh hoa hồng”). Các mụn nước tự vỡ đi và phát triển thành những vảy cứng (crust) trước khi tan biến đi. Những nhóm thương tổn tiếp theo phát triển trong 4 đến 6 ngày, vì vậy sự hiện diện của những thương tổn ở những giai đoạn khác nhau đặc trưng cho bệnh thủy đậu. Bệnh nhân lây nhiễm từ lúc bắt đầu tiền chứng (khoảng 2 ngày trước khi phát ban) cho đến khi thủy đậu có vảy cứng, khoảng 7 đến 10 ngày. Những biến chứng gồm có bội nhiễm da bởi vi khuẩn (hiếm khi tiến triển thành necrotizing fasciitis), viêm phổi, giảm tiểu cầu (thrombocytopenia), viêm khớp, viêm gan, thất điều tiểu não, viêm não và viêm vi cầu thận. Virus tiềm ẩn ở hạch rễ sau trong nhiễm nguyên phát và tái hoạt hóa đưa đến herpes zoster (bệnh zona, shingles).

7. HERPES ZOSTER (BỆNH ZONA).
Bệnh zona được gây nên do sự tái kích hoạt của virus thủy đậu. Đau và nhạy cảm đau dọc theo một dermatome đi trước sự xuất hiện những thương tổn thủy đậu cổ điển, những thương tổn này hợp lại trong một hay ba dermatome liên tục. Đau, nhạy cảm đau, cũng như hạch khu trú tồn tại chừng nào những thương tổn da hiện diện (1-2 tuần).

8. HERPES SIMPLEX.
Viêm miệng-lợi răng nguyên phát đó herpes simplex (primary HSV gingivostomatitis) gây sốt, tình trạng dễ bị kích thích, và những thương tổn ở lợi răng và những niêm mạc của miệng.

Herpes sinh dục, được đặc trưng bởi những mụn nước, thường xảy ra nhất ở các thiếu niên. Hãy xét đến lạm dụng tình dục nếu herpes sinh dục được thấy ở trẻ trước tuổi dậy thì. Sự tái kích hoạt virus tiềm tàng gây “cold sores” (loét lạnh), những mụn nước đơn độc hay tập hợp ở vùng quanh miệng nhưng không ở trong miệng, hay như những thương tổn ở vùng sinh dục ngoài. Neonatal HSV có thể được biểu hiện bởi một nhiễm khu trú hay toàn thân, xuất hiện vào bất cứ khi nào từ ngày sinh cho đến 4-6 tuần sau khi sinh

9. NHIỄM NÃO MÔ CẦU HUYẾT (MENINGOCOCCEMIA).
Neissseria meningitides là một nhị cầu khuẩn gram âm, được mang ở đường hô hấp trên bởi 25% những thiếu niên. Bệnh xảy ra thường hơn vào mùađông và đầu xuân, và đa số các trường hợp được thấy ở những trẻ <2 tuổi. Bệnh có thể tiến triển cực nhanh, với một sự thay đổi về mức độ nghiêm trọng từ bacteremia tự tan biến đến viêm màng não, đến sốc nhiễm khuẩn và hôn mê

Ban thường được biểu hiện bởi những chấm (petechiae) và ban xuất huyết(purpura) không biến đi lúc đè (nonblanching), được mô tả một cách cổ điển như là những ban xuất huyết xám không đối xứng có thể sờ thấy của các chi. Tuy nhiên, những thương tổn dát-sần, bóng nước, và mụn mủ cũng có thể xảy ra.

10. TINH HỒNG NHIỆT (SCARLET FEVER).
Tinh hồng nhiệt được gây nên bởi liên cầu khuẩn beta dung huyết nhóm A. Sau một thời kỳ tiềm phục 1 đến 7 ngày, bệnh được biểu hiện bởi sốt, mửa, đau đầu, và viêm họng. Các amidan sung huyết và phù và có thể được phủ bởi những dịch rỉ ; có thể có những đốm xuất huyết vòm miệng ; và lưỡi có thể có hình dạng của một quả dâu tây. Ban thường đỏ, lốm đốm, hoặc sần mịn (finely papular), với cơ cấu của giấy nhám (sandpaper). Ban xuất hiện ở nách, bẹn, và cổ trước tiên và lan rộng trong vòng 24 giờ. Thường có sự nổi bật ở những nếp gấp (Pastia’s line) và nhạt quanh miệng (circumoral pallor). Sự tróc vảy bắt đầu ở mặt vào cuối tuần đầu và tiếp tục trên thân mình và sau đó đến các bàn tay và bàn chân.

II. CHẨN ĐOÁN
Xác định sự tiếp xúc, mùa, và kiến thức về thời kỳ tiềm phục là quan trọng trong chẩn đoán những bệnh nhân với một phát ban. Hãy hỏi về sự tiếp xúc với một bệnh tương tự cũng như tiền sử về tiêm chủng và sự dùng thuốc. Hình dáng, sự tiến triển, và sự phân bố của ban có thể rất hữu ích, cũng thư thời gian trôi qua giữa lúc tiếp xúc và bệnh hiện nay.
Tuổi của đứa trẻ và mùa của năm có thể mang lại những chìa khóa hữu ích trong xác định chẩn đoán. Vài bệnh xảy ra thường hơn trong những nhóm tuổi đặc biệt. Roseola infantum (exanthem subitum) (ban đào đột ngột) chủ yếu xảy ở những trẻ 6 đến 36 tháng, erythema infectiosum ở những trẻ 2 đến 12 tuổi, và tinh hồng nhiệt (scarlet fever) ở những trẻ tuổi đi học. Vài bệnh có sự ưa thích mùa hơn, như sốt tinh hồng nhiệt, có khuynh hướng được thấy vào cuối đông và đầu xuân, và enterovirus, xuất hiện thường nhất trong mùa hè và thu.
Thời gian trôi qua giữa lúc sốt khởi đầu và ban xuất hiện mang lại một đầu mối quan trọng cho chẩn đoán. Ban trong rubella (rubéole) xảy ra đồng thời với sốt. Một bệnh nhân với tinh hồng nhiệt (scarlatine) nói chung sốt trong 12 đến 24 giờ trước khi ban khởi phát, trong khi một bệnh nhân với roseola infantum sốt từ 3 đến 5 ngày và sau đó hạ sốt trước khi phát ban. Mặc dầu những liên hệ này không tuyệt đối, chúng là chuẩn và do đó có giá trị trong xác định chẩn đoán.

Hình dạng, sự tiến triển, và sự phân bố của ban cũng có thể rất hữu ích trong việc xác định chẩn đoán. Những ban dát-sần là thường gặp nhất và thường được liên kết với những nhiễm enterovirus. Những ngoại ban mụn nước (vesicular exanthem) hiện diện hoặc như là những thường tổn đơn độc hay khu trú (herpes simplex, herpes zoster), những thương tổn toàn thân (thủy đậu), hoặc theo một phân bố ngoại biên (hand-foot-mouth disease).
Những dấu hiệu vật lý thích đáng gồm dạng vẻ của bệnh nhân và sự hiện diện của nổi hạch vùng hay toàn thân, viêm kết mạc, gan to, hay rối loạn tiêu hóa. Những trẻ em với vẻ mặt rất nhiễm độc có thể có nhiễm não mô cầu huyết (meningococcemia), Rocky Mountain spotted fever, Kawasaki disease, hay sởi.

Nổi hạch đặc biệt quan trọng trong việc xét đến chẩn đoán của rubella (nổi hạch sau tai và dưới chẩm) và infectious mononucleosis (nổi hạch toàn thân với gan và lách to). Những đốm Koplik trên niêm mạc miệng có thể xác nhận bệnh sởi trước khi xuất hiện ngoại ban ở một trẻ bị sốt.
Chẩn đoán phân biệt của những bệnh này gồm nhiều trong số những bệnh nhiễm trùng với sốt và phát ban. Giai đoạn đầu tiên của erythema infectiosum giống với tinh hồng nhiệt, nhưng bệnh nhân có vẻ khỏe mạnh và không có bằng cớ của nhiễm liên cầu khuẩn. Nhiễm trùng có thể được xác nhận, nếu cần , bởi kháng thể đặc hiệu B-19 huyết thanh. Một bệnh giống roseola infantum đã được gán cho enterovirus. Nhiều trẻ em với sốt tiền chứng của roseola được cho kháng sinh, vì vậy ban đôi khi được chẩn đoán như là một dị ứng thuốc hay amoxicillin rash.
Sởi có thể bị lẫn lộn với scarlet fever (không có ho và sổ mũi), bệnh Kawasaki (viêm miệng, ban không lan xuống thân thể), và rubella (rubéole) (tiền chứng và thời gian nổi ban ngắn hơn, bệnh nhân có vẻ ít bị bệnh hơn). Những đốm Koplik không được thấy trong những bệnh này. Chẩn đoán có thể được xác nhận bởi phân lập virus từ những chất tiết mũi-họng, kết mạc, máu, và nước tiểu trong giai đoạn sốt hay bằng cách so sánh những huyết thanh cấp tính và hồi phục. Vài phòng xét nghiệm có thể phát hiện kháng thể IgM đặc hiệu bệnh sởi với một mẫu nghiệm huyết thanh duy nhất. Chẩn đoán của rubella có thể được xác nhận bởi kháng thể đặc hiệu IgM hay virus được phân lập từ các chất tiết mũi, throat swab (miếng gạc họng), máu, nước tiểu hay dịch não tủy.

Thủy đậu có một hình dạng điển hình. Tuy nhiên những ban nhẹ có thể bị lẫn lộn với choc lo bong nuoc (bullous impetigo) và những vết cắn côn trùng, mặc đưa những thương tổn này nổi lên thành tung cum hay trai qua một loạt giai đoạn. Benh zona có thể giống với một viêm da tiếp xúc (contact dermatitis), trong đó ngứa thường hơn đau

Ban của nhiễm não mô cầu huyết (meningococcemia) có thể bị lẫn lộn với ban của những nguyên nhân khác của bacterial sepsis, những nhiễm virus, idiopathic thrombocytopenic purpura, và Rocky Mountain spotted fever. Lấy mẫu nghiệm một thương tổn da và nhuộm Gram có thể phát hiện nhị cầu khuẩn nội bào gram âm đặc hiệu. Chẩn đoán được xác nhận bởi một cấy máu dương tính.

Nếu xác nhận chẩn đoán của một enterococcus là cần thiết, virus có thể được phân lập từ họng và trực tràng. PCR có thể sử dụng để nhận diện virus trong huyết thanh

III. XỬ TRÍ
Không có điều trị đặc hiệu đối với nhiều trong số những bệnh này.Trị liệu phần lớn là làm an lòng và điều trị hỗ trợ. Điều trị sốt với acetaminophen (15 mg/kg mỗi 4 giờ) hay ibuprophen (10 mg/kg mỗi 6 giờ). Đánh giá tình trạng cấp nước (hydration state) và cho dịch bằng đường tĩnh mạch nếu thích đáng. Nói chung, xét nghiệm máu và cấy là không cần thiết trừ phi bệnh nhân có vẻ ốm nặng.

1. BỆNH SỞI
Điều trị hỗ trợ. Nhập viện một bệnh nhân với viêm phổi (để điều trị kháng sinh), và thực hiện chọc dò tủy sống nếu đứa bé trong trạng thái mơ màng (lethargy), tình trạng dễ bị kích thích quá mức, hay cứng cổ. Hãy báo cho các nhân viên y tế cộng đồng về bất cứ trường hợp sởi nào để những biện pháp y tế cộng đồng có thể được thiết đặt. Vitamin A làm giảm tỷ lệ bệnh và tử vong của sởi ở những trẻ em bị thiếu vitamine A : hãy cho vitamin A (50.000 đơn vị/ngày) ở những trẻ 6 tháng đến 2 năm được nhập viên với những biến chứng của sởi.

2. BỆNH BAN ĐÀO (RUBELLA).
Điều trị hỗ trợ. Nếu rubella được nghi ngờ, chuyển ngay người có thai đến thầy thuốc phụ khoa để đo nồng độ.

3. THỦY ĐẬU.
Điều trị ngứa với antihistamines h(diphenhydramine 5 mg/kg/ngày chia thành 4 lần hay hydroxyzine 2mg/kg/ngày chia thành 3 lần) và tắm yến mạch (oatmel baths). Đừng sử dụng aspirine bởi vì nó được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị hội chứng Reye. Acyclovir bằng đường miệng không được khuyến nghị một cách thường quy ở những trẻ lành mạnh bị thủy đậu. Những chỉ định khả dĩ gồm một trẻ tiếp xúc trên 12 tuổi không có một bệnh sử varicella, một trẻ với những bệnh mãn tính ở da hay phổi, một bệnh nhân nhận điều trị kéo dài với salicylate, và một bệnh nhân nhận glucocorticoids, gồm những liều ngắn, đoạn hồi hay dưới dạng khí dung. Cho 80 mg/kg/ngày chia thành 4 lần trong 5 ngày (3200 mg/ngày tối đa)

Hãy gây miễn dịch sau phơi nhiễm ở một bệnh nhân dễ bị, trong vòng 72 giờ và có thể đến 120 giờ sau phơi nhiễm virus thủy đậu. Một trẻ sơ sinh có mẹ phát triển thủy đậu trong vòng 5 ngày sau khi sinh hay đến 48 giờ sau khi sinh, một bệnh nhân với viêm phổi thủy đậu, hay một bệnh nhân suy giảm miễn dịch với zoster, có một nguy cơ nghiệm trọng bị nhiễm tràn ngập. Nhập viện những bệnh nhân này và khám một chuyên gia bệnh nhiễm trùng để điều trị chống virus.

VZIG được khuyến nghị nếu phơi nhiễm đáng kể (5 đến 60 phút mặt đối mặt , ở trong cùng gia dinh) xảy ra ở một bệnh nhân suy giảm miễn dịch không có một bệnh sử thủy đậu, những phụ nữ mang thai nhạy cảm, và những trẻ sơ sinh mà mẹ phát triển thủy đậu trong vòng 5 ngày sau khi sinh. Cho VZIG, 1 lọ (125 U) tiêm mông đối với mỗi 10 kg trọng lượng cơ thể (tối đa 5 lọ, tối thiểu 1 lọ) trong vòng 96 giờ sau khi phơi nhiễm (tốt hơn trong vòng 48 giờ).
Nếu một bệnh nhân với thủy đậu được nhập viện, hãy áp dụng những biện pháp thận trọng đường khí và tiếp xúc trong tối thiểu 5 ngày sau khi ban khởi phát và kéo dài chừng nào ban vẫn mụn nước.

4. HERPES ZOSTER.
Điều trị có tính chất hỗ trợ và gồm có điều trị giảm đau đối với những thương tổn gây đau này (ibuprofen, 10 mg/kg mỗi liều hay acetaminophen với codeine (1mg/kg/liều). Hãy khám thầy thuốc nhi khoa chuyển bệnh nhiễm trùng để xác định sự cần thiết điều trị.

5. HERPES SIMPLEX.
Điều trị herpes nguyên phát và tái phát. Khám một thầy thuốc nhãn khoa nếu có thương tổn mắt. Điều trị nghi nhiễm HSV ở trẻ sơ sinh với acyclovir TM (60 mg/kg/ngày chia ba lần mỗi ngày trong 21 ngày).

6. NHIỄM NÃO MÔ CẦU HUYẾT (MENINGOCOCCEMIA)
Nếu nhiễm não mô cầu huyết (meningococcemia) bị nghi ngờ, hãy thực hiện ngay cấy máu và bắt đầu điều trị kháng sinh với IV cefotaxime (200 mg/kg/ngày được chia thành mỗi 6 giờ) hay ceftriaxone (100 mg/kg/ngày được chia mỗi 12 giờ). Hãy thực hiện chọc dò tủy sống nếu có những dấu hiệu màng não hay tri giác bị biến đổi. Nếu nhiễm não mô cầu huyết được xác nhận, điều trị với penicillin tĩnh mạch (250.000 U/kg/ngày chia thành 6 liều) hay cefotaxime. Cho rifampin dự phòng (10mg/kg hai lần mỗi ngày, tối đa 600 mg, trong hai ngày, IM ceftriaxone (< 12 tuổi : 125 mg ; > 12 tuổi : 250 mg), hay ciprofloxacin (500mg một lần) ở những người trong gia đình, ở trung tâm điều trị ban ngày, và tiếp xúc vườn trẻ, những người tiếp xúc trực tiếp với những chất tiết của bệnh nhân (hôn, dùng chung bàn chãi răng, đồ dùng ăn), và bất cứ nhân viên y tế đã tiếp xúc gần với những chất tiết của bệnh nhân (hồi sức miệng-miệng không được bảo vệ, nội thông, hút).

7. TINH HỒNG NHIỆT :
Điều trị giống với viêm hầu do liên cầu khuẩn

IV. FOLLOW-UP
 – Bệnh nhân có thai ở tam cá nguyệt thứ ba tiếp xúc với thủy đậu : follow up sản khoa tức khắc
 – Bệnh nhân có thai trong tam ca nguyệt đầu tiên tiếp xúc với rubella hay parvovirus : follow up sản khoa trong vòng 2 đến 3 ngày
 – Herpes Zoster : 2 đến 3 ngày

V. NHỮNG CHỈ ĐỊNH NHẬP VIỆN
 – Viêm phổi hay viêm não do sởi
 – Thủy đậu hay nghi HSV ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch và trẻ sơ sinh
 – Nghi nhiễm não mô cầu huyết (meningococcemia)
 – Mất nước đòi hỏi điều trị dịch bằng đường tĩnh mạch
 – Suy kiệt hô hấp

Reference : Clinical Manual of Emergency Pediatrics, by Ellen F. Crain and Jeffrey C. Gershel

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(16/10/2022)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu nhi khoa, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Cấp cứu nhi khoa số 25 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu nhi khoa số 31 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s