Thời sự y học số 614 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I. THAY ĐỔI BỀ NGOÀI : PHẢI CHĂNG ĐÓ LÀ MỘT BỆNH NỘI TIẾT HIẾM ?

Một loạn năng của não thùy hay của các tuyến thượng thận có thể được biểu hiện về phương diện thể xác và khiến phải đi khám bệnh.
MALADIES RARES. Những kích thích tố được tiết nhiều hơn hay ít hơn ? Điều đó có thể đủ để gây nên những thay đổi về thể xác. Nhưng những thay đổi này rất thường được đổ lỗi cho mãn kinh, sự lão hóa…Thế mà, trong thời gian này, bệnh nội tiết tiến triển. Một sự lãng phí thật sự, trong khi chỉ cần lấy ra một tấm ảnh về mình cách nay vài năm và so sánh để nhận thức rằng có một sự lo lắng thật sự.
Thí dụ vấn đề có thể phát xuất từ một khối u của não thùy, hầu như luôn luôn hiền tính, một tuyến nhỏ nằm ở đáy não chỉ huy tất cả những tuyến khác. « đó là trường hợp trong bệnh to cực (acromégalie), liên kết với một sự tiết gia tăng của kích thích tố tăng trưởng (hormone de croissance), GS Thierry Brue, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết và coordinateur của Centre de référence des maladies rares của não thùy, ở Marseille. Đó là hiếm, ta thống kê 3 đến 5 trường hợp mới mỗi triệu dân và mỗi năm, nhưng một sự chậm chẩn đoán có thể làm mất đến 10 năm hy vọng sống. Tuy vậy, một dấu hiệu đơn giản có thể báo động : sự kiện đã phải nới rộng nhiều lần nhẫn cưới của mình và đã thay đổi cỡ giày khi trở thành người lớn.
Trong trường hợp tiết quá mức kích thích tố tăng trưởng ở tuổi trưởng thành trong khi xương không thể lớn nữa, không có chứng khổng lồ (gigantisme), như ở một người trẻ : thế vào đó, những đường nét và da dày lên, với một gương mặt to xù và những ụ trên trán, do đó thường có một thương tổn của hình ảnh của mình. Một cách song hành, những bàn chân và bàn tay gia tăng kích thước, không kể những triệu chứng khác : mồ hôi ban đêm, hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ, mệt, cao huyết áp, đái đường ở một bệnh nhân trên hai, gia tăng nguy cơ ung thư đại tràng. Sự khám phá thường được thực hiện sau 40 tuổi. « Vấn đề không phải do chẩn đoán, rất đơn giản, vì lẽ một định lượng kích thích tố (IGF1) và, nếu nó tăng quá cao, một IRM của não thùy cho thấy adénome (u) cũng đủ. Vấn đề thật sự, đó là nghĩ đến điều đó ! » GS Brue đã chỉ như vậy.

(ACROMEGALIE)

Cũng dè chừng trước một sự lên cân dạng vẻ hơi bất thường. Trong hội
chứng Cushing liên kết với một sự tăng tiết của cortisol, béo phì khu trú ở phần trên của cơ thể : mặt tròn, má đỏ, nhưng hõm trên xương đòn được lấp đầy, cổ dày, một ụ mỡ nhỏ xuất hiện ở đáy cổ và có một bụng lớn. Vì tan cơ, các cẳng chân dường như mảnh khảnh. Da trở nên mảnh và là chỗ của những vết rạn tím hay sẫm màu, với một khuynh hướng tạo những máu tụ.Tuy vậy, một sự chậm chẩn đoán hai năm là thường xảy ra, GS Jérome Bertherat, của centre de référence maladies rares de la surrénale, ở bệnh viện Cochin, Paris, đã ghi chú như vậy. «Não thùy chịu trách nhiệm sự tăng tiết này của cortisol trong 2/3 những trường hợp ; những tuyến thương thận bị liên hệ một trường hợp trên bốn. Còn 5-10% Cushing liên kết với một khối u, có thể nằm ở bất cứ đâu, thí dụ trong tụy tạng, phổi,..và do đó đôi khi khó phát hiện. Chẩn đoán dựa trên những thăm dò kích thích tố và chụp hình ảnh. Sự điều trị được thực hiện trong một centre de référence maladies rares », nhà chuyên gia đã nhấn mạnh như vậy.
Ngoài những thay đổi thể trọng, coi chừng những biến đổi của màu da. Ngoài sự thiếu máu cổ điển giải thích một sự xanh xao, một bệnh gan cho một nước da vàng…đó còn có thể là một bệnh nội tiết. «bệnh Addison thường nhất là tự miễn dịch, gây nên một sự giảm tiết cortisol bởi các tuyến thượng thận. Nó được thể hiện bởi một nước đồng thanh giả (faux bronzage), hay chứng đen da (mélanodermie), đến độ cho một da gần như đen. Nhưng thường, những dấu hiệu khác báo động trước đó, như rất mệt, ốm và những bất thường máu (thiếu sodium, thừa potassium). Sự điều trị tốt hơn được thực hiện từ một CRMR », GS Bertherat nói tiếp.
Sau cùng, nếu vài người có nhiều lông hơn những người khác, thường do một sự nhạy cảm lớn hơn đối với androgène vì những lý do gia đình hay chủng tộc (dân địa trung hải, thí dụ), nhưng cũng có những trường hợp trong đó sự mọc lông, rất quá mức, được giải thích bởi một sự thặng dư androgène. Trong nhiều thế kỷ những người đàn bà có râu nổi tiếng đã được phơi bày trong các hội chợ, trong khi đáng ra họ cần một điều trị để kềm hãm sự tiết bất thường này bởi các tuyến thượng thận (thường nhất do một bệnh di truyền, hiếm hơn do một u ung thư) hay bởi các buồng trứng của họ. Hội chứng các buồng trứng đa năng (syndrome des ovaires polykystiques) có thể gây nên quá nhiều lông trong một khung cảnh rối loạn chu kỳ kinh nguyệt và rối loạn khả năng sinh sản. Nếu không muốn có thai, chỉ cần làm các buồng trứng nghỉ ngơi bằng viên thuốc ngừa thai cũng đủ », BS Brue nói rõ như vậy. Vậy thật đáng tiếc phải sống với mặc cảm này mặc dầu có phương tiện chữa khỏi nó.
(LE FIGARO 29/8/2022)

II/ THƯỜNG XẢY RA, NHỮNG BỆNH LÝ GIÁP TRẠNG CŨNG PHẢI ĐƯỢC XÉT ĐẾN.

Gây bệnh cho một người Pháp trên mười, những thương tổn của tuyến giáp thường gặp và được biết rõ hơn nhiều bệnh to cực (acromégalie), bệnh Cushing và bệnh Addison, nhưng điều đó không ngăn cản những chậm trễ trong chẩn đoán.
Thí dụ trong trường hợp giảm năng tuyến giáp, sự lên cân kèm theo một mệt nặng, rất thường được đổ lỗi cho một sự làm việc quá mức. Vậy đúng hơn chính một gương mặt và một thân thể phồng lên phải gợi lên những sự ngờ vuc. « Gương mặt màu vàng trắng, những sợi tóc trở nên mảnh và dễ vỡ hơn và đôi khi những lông mày mất đuôi của chúng…Những dấu hiệu có thể chỉ được quy cho sự lão hóa », GS Thierry Brue, thầy thuốc nội tiết và coordinateur du centre de référence des maladies rares của não thùy, ở Marseille đã ghi chú như vậy. Vì các phụ nữ thường bị bệnh hơn, nên nguy cơ đổ lỗi sự giảm năng tuyến giáp cho chứng mãn kinh của họ cũng là có thật. Tuy nhiên các thầy thuốc đa khoa có thói quen và thực hiện, khi có chút ít nghi ngờ, định lượng TSH, được tiết bởi não thùy để kích thích tuyến giáp sản xuất các kích thích tố. Nếu TSH bất thường, ta cũng cho định lượng các kích thích tố tuyến giáp. TSH quá tăng cao và những kích thích tố tuyến giáp sụt xuống khi tuyến không tiết đủ kích thích tố.

ĐỊNH LƯỢNG TSH
Sự điều trị giảm năng tuyến giáp không đặt vấn đề, nhưng, đối với nhiều người Pháp khó nhọc để tìm ra một thầy thuốc điều trị và phải nằm trên danh sách chờ đợi, có nguy cơ thật sự bỏ sót căn bệnh. « Ngược lại, không cần centre de référence : những điều trị để thay thế kích thích tố thiếu cho phép tìm lại sự quân bình », GS Thierry Brue đã đảm bảo như vậy.

Đôi khi chính một bướu giáp (goitre), và như thế một cục u trong cổ, làm lo ngại. Nhưng một bướu giáp không nhất thiết kèm theo một loạn năng của tuyến giáp, vậy của một sự tiết bất thường của các kích thích tố. Để đảm bảo điều đó, phải định lượng TSH và thực hiện một siêu âm để tìm kiếm những hòn giáp (nodule) nhỏ. Mọi hòn giáp bị nghi ngờ là ung thư (theo dạng vẻ siêu âm và, nếu cần, sau cytoponction) phải được mổ. « Chỉ một thiểu số người với một bướu giáp là cần ngoại khoa, G Brue đã nhấn mạnh như vậy. Nếu những hòn giáp chỉ ở một bên, một nửa tuyến giáp được lấy đi và nửa kia đảm bảo sự sản xuất của kích thích tố. Nhưng nếu các hòn giáp ở hai bên, toàn thể tuyến được lấy đi và phải dùng một thay thế của những kích thích tố tuyến giáp suốt đời.»

Khi tuyến giáp tiết quá nhiều kích thích tố, ta gọi là tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie), ta có thể quan sát một sự mất cân. Đôi khi cũng có một chứng lồi mắt (exophtalmie), với cái nhìn rất lồi (regard saillant), và những triệu chứng khác (hồi hộp, chảy mồ hôi, tính dễ bị kích thích). Điều trị dựa trên những antithyroidiens de synthèse trong 18 tháng trong cơn đầu tiên, Trong trường hợp tái phát, thường phải mổ để lấy đi tuyến giáp hay điều trị bằng iode phóng xạ và, sau đó, cho một điều trị thay thế kích thích tố suốt đời. Tuy vậy, điều đó không luôn luôn giải quyết vấn đề nhãn khoa, tiến triển độc lập với sự điều trị của tăng năng tuyến giáp
(LE FIGARO 29/8/2022)
Đọc thêm :
HYPOTHYROIDIE
– TSYH số 480 : bài số 9
 – TSYH số 357 : bài số 2 và 3
NODULE THYROIDIEN
 – TSYH số 601 : bài số 7
 – TSYH số 503
 – TSYH số 357 : bài sốg 1

III. MỆT, ĐAU BỤNG QUẶN, DA KHÔ…THẾ ĐÓ CÓ PHẢI LÀ TUYẾN GIÁP ?
Giảm năng tuyến giáp gây nên những triệu chứng ít đặc hiệu, đặc biệt ở những phụ nữ mãn kinh hay sau một thai nghén.

CONSEIL SANTE.
Tuyến giáp là một trong những cơ quan kín đáo, khi mọi chuyện tốt đẹp, không khiến người ta nói về nó. Nhưng sự loạn năng của tuyến giáp có thể có những hậu quả quan trọng, vì tuyến này kiểm soát nhiều tham số của cơ thể. Tần số tim, chuyển hóa, sự sinh nhiệt, chất lượng của đã và tóc, năng lực sinh sản, như động ruột tùy thuộc trực tiếp nồng độ của các kích thích tố tuyến giáp.

Với 1 đến 3% dân số bị liên hệ, giảm năng tuyến giáp là loạn năng của tuyến giáp thường gặp nhất. Trung bình nó xảy ra vào khoảng năm 60 tuổi và chủ yếu ở phụ nữ (1 người đàn ông đối với 10 phụ nữ). Nhưng, mặc dầu tần số xuất hiện của nó, vẫn không luôn luôn rõ ràng nghĩ đến bệnh lý này. Giảm năng tuyến giáp gây nên những triệu chứng không đặc hiệu lắm và ta tìm thấy chúng trong nhiều căn bệnh khác, GS Thierry Brue, trưởng khoa nội tiết ở hopital de la Conception, Marseille, đã giải thích như vậy.
Vài triệu chứng phải làm lo sợ: mệt, gia tăng suốt ngày mặc dầu một giấc ngủ thỏa mãn và được kèm theo bởi một sự ngủ gà không cưỡng lại được, đôi khi ngay buổi sáng; một trạng thái trầm cảm với một sự vô cảm và sự thiếu trương lực; khó tập trung, những rối loạn trí nhớ, một sự chậm lại của tần số tim, một sự gia tăng của cholestérol ; những crampe hay những cảm giác kiến bò, đau cơ; một sự sợ rét, không chảy mồ hôi ở nách; da khô và ngứa, tóc và móng tay dễ vỡ, những rối loạn ruột với một nhu động chậm và bón, một sự giảm thính lực, giọng nói trở nên khàn, giảm dục tính, kinh nguyệt dồi dào hơn.
« Nói chung, thầy thuốc tìm kiếm một cách hệ thống một giám năng tuyến giáp khi bệnh nhân kêu mệt mãn tính, GS Brue đã nói rõ như vậy. Nhưng vài người có một sự chậm chẩn đoán quan trọng bởi vì họ quy những triệu chứng của họ cho sự lão hóa và không nói về điều đó.» Tuy vậy chẩn đoán dựa trên một xét nghiệm máu đơn giản để định lượng TSH (hay thyréostimuline). Đó là khích thích tố được tiết bởi não thùy (một tuyến nằm ở đáy não) để kích thích tuyến giáp để tuyến này đến lượt chế tạo kích thích tố tuyến giáp.
Mặc dầu giảm năng tuyến giáp có thể phát ra ngay khi sinh (ở Pháp một trẻ sơ sinh trên khoảng 3500), ở người trưởng thành và trong những nước phát triển nó thường nhất do một rối loạn của hệ miễn dịch. Những phòng vệ miễn dịch không những chống lại những tác nhân bên ngoài, như những virus và những vi khuẩn, mà còn tấn công tuyến giáp và phá hủy nó, GS Thierry Brue đã giải thích như vậy. Khi nó được kèm theo bởi một bướu giáp (goitre), tình trạng viêm mãn tính tự miễn dịch của tuyến giáp được gọi là « maladie de Hashimoto », tên của thầy thuốc Nhật khám phá nó năm 1912.
Trong những vùng khác của thế giới (và ngày xưa ở Pháp), giảm năng tuyến giáp chủ yếu là do một sự thiếu hụt iode, một oligo-élément cần thiết cho sự chế tạo của những kích thích tố giáp trạng. Rất hiếm (5% những trường hợp), nguồn gốc của giảm năng tuyến giáp cũng có thể được tìm thấy ở đáy não, trong não thùy. Một u hiền tính của não thùy có thể gây nên một giảm năng tuyến giáp, GS Brue đã chỉ như vậy. Sau cùng, vài loại thuốc, như lithium (được kể đơn cho những rối loạn lưỡng cực), interféron (mà ta sử dụng để điều trị những viêm gan siêu vi trùng và xơ cứng rải rác), amiodarone (trong trường hợp rối loạn nhịp tim) hay những miễn dịch liệu pháp (được sử dụng chống vài ung thư) cũng có thể gây một giảm năng tuyến giáp.

ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ.
Một khi được chẩn đoán, bệnh khá thường không thể đảo ngược. Trừ một ngoại lệ : «thai nghén là một thử thách đối với tuyến giáp, bởi vì những nhu cầu về những kích thích tố giáp trạng gia tăng, GS Jean-Louis Wémeau đã chỉ như vậy. Thế mà trong thời kỳ thai nghén, giảm năng tuyến giáp có thể được làm dễ bởi một sự thiếu hụt iode, có thể được thêm vào đó là những cơ chế tự miễn dịch. Những phụ nữ có thai có một nhu cầu gia tăng về iode. Một cách lý tưởng, mọi phụ nữ phải được bổ sung bởi những complément alimentaire mang lại mỗi ngày 150 microgramme iodure, trước khi thụ thai, suốt trong thời kỳ thai nghén và trong thời kỳ cho bú, GS Wémeau đã khuyến nghị như vậy.
« Nếu giảm năng tuyến giap được xác nhận ở một phụ nữ có thai, một điều trị kích thích tố phải được thực hiện. Điều trị tốt đó là điều đặc biệt quan trọng, bởi vì đứa trẻ được sinh ra đời có thể có một sự chậm phát triển trí tuệ nếu ta đã không điều chỉnh một cách đúng đắn giảm năng tuyến giáp của người mẹ, GS Brue đã cảnh báo như vậy.

Một giảm năng tuyến giáp cũng có thể xảy ra sau khi sinh, ở 5 đến 10% những phụ nữ và đến 25% những phụ nữ bị một đái đường loại 1. Đó là một hiện tượng vẫn thường không được đánh giá đúng. Các phụ nữ bị mệt, có những rối loạn khí chất, đau bụng quặn, những rối loạn kinh nguyệt và dục tính, GS Wémeau đã mô tả như vậy. Họ cũng có thể phát triển một bướu giáp nhỏ. Những triệu chứng này rất thường được đổ lỗi cho sự sinh đẻ và sự thay đổi nhịp do sự đi đến của nhũ nhi. « Trong 90% những trường hợp, những vấn đề này sẽ được cải thiện một cách tự nhiên sau 6 hay 7 tháng. Nhưng, đối với 10% những trường hợp còn lại, điều đó có thể kéo dài. Thế mà, trong trường hợp này, điều đó biện minh cho sự đưa vào một điều trị, vị thầy thuốc đã nhấn mạnh như vậy ».
Thật vậy có một điều trị hiệu quả, mặc dầu nó đã là ở trung tâm của một cuộc tranh luận năm 2017 sau một thay đổi công thức. « Đó là một kích thích tố tổng hợp, lévothyroxine, chính xác như kích thích tố mà tuyến giáp chế tạo, GS Brue đã chỉ như vậy. Thuốc này nói chung được dung nạp tốt, nhưng chính không phải bởi vì TSH ở trên trị số chuẩn mà ta phải kê đơn nó, vị thầy thuốc nói rõ như vậy. Ta không điều trị một con số. Ta kê đơn thuốc khi bệnh nhân có những triệu chứng ». Và coi chừng những người bị những vấn đề tim ; đặc biệt nếu họ là người già : Nếu họ dùng một liều quá cao kích thích tố giáp trạng, họ có thể bị một nhồi máu cơ tim. Phải tăng liều rất từ từ. »
(LE FIGARO 10/10/2022)

IV. CÁI NHÌN LỒI : CÓ THỂ LÀ MỘT CẤP CỨU

Tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) có thể gây nên một sự lồi nhãn cầu.» Nó cho một cái nhìn lồi (regard saillant) và khô nhãn cầu, BS Laurent Benzacken, giám đốc của clinique ophtalmologique Belle Etoile à Roissy, đã giải thích như vậy. Sư đè ép có thể dẫn đến cả liệt mặt, một mắt lé (strabisme) và giảm thị lực. Đó là một cấp cứu Điều chỉnh tăng năng tuyến giáp không luôn luôn đủ. Phải dùng nước mắt nhân tạo, đôi khi những corticoide để giảm viêm, thậm chí một phẫu thuật. « Mổ nhằm xẻ những thành dưới và bên của ổ mắt, đi qua dưới mí mắt để tạo chỗ ở ngoại biên của mắt. Hậu phẫu đơn giản ».
(LE FIGARO 29/8/2022)

V. NHỮNG TRUNG TÂM THAM KHẢO ĐỂ ĐIỀU TRỊ NHỮNG BỆNH NỘI TIẾT HIẾM.

Khi có chút ít nghi ngờ về một nguyên nhân nội tiết giải thích những thay đổi bề ngoài, khuyến nghị nên nói điều đó với thầy thuốc gia đình của mình và/hay một thầy thuốc nội tiết. Nếu chẩn đoán bệnh to cực (acromégalie), hội chứng Cushing hay bệnh Addison được gợi lên, khi đó tốt nhất là hướng về một centre de compétence (régional), thuộc một trung tâm tham khảo những bệnh hiếm (CRMR : centre de référence maladies rares) như CRMR Hypo, được điều phối bởi GS Thierry Brue đối với bệnh bệnh to cực ở Marseille, và CRMR des surrénales (đối với bệnh Cushing), được điều phối bởi GS Jerome Bertherat ở Paris. Đó là sự đảm bảo của một điều trị nhiều chuyên khoa và, nếu cần phải mổ, sự bảo đảm có các thầy thuốc ngoại khoa rất chuyên mon.
Về bệnh to cực, «khoảng 99% những adénome của não thùy có thể mổ được bằng đường endonasale, nghĩa là qua mũi, bởi vì não thùy nằm trong selle turcique, ở mái của sinus sau cùng, GS Henry Dufour, neurochirurgien hypophysaire expert ở centre de référence de Marseille. Can thiệp ngoại khoa diễn ra dưới gây mê tổng quát, adénome có thể được lấy đi toàn bộ, với điều kiện nó đã không đi vào những cấu trúc lân cận khác.Trung bình can thiệp kéo dài một giờ và nhập viện vài ngày để đảm bảo rằng phẫu thuật đã không gây nên một sự thiếu hụt kích thích tố cần phải điều chỉnh không chậm trễ bởi một điều trị.
TÍNH CHẤT ĐA NGÀNH
Nếu mổ không chữa lành bệnh to cực, những thuốc bằng đường tiêm được kê đơn để kềm hãm kích thích tố tăng trưởng (hormone de croisssance) hay phong bế tác dụng của nó. Hiếm hơn, một xạ trị được đề nghi : khi adénome đã không có thể được lấy đi hoàn toàn, trong trường hợp chống chỉ định can thiệp hay mổ lại (hiếm). «Chỉ còn phải kiểm tra đều đặn nồng độ của kích thích tố tăng trưởng và những kích thích tố phụ thuộc não thùy (giáp trạng, sinh dục, cortisol…), trường hợp sự tiết của chúng bị rối loạn », GS Brue đã chỉ như vậy. Còn lại 5% những bệnh nhân dung nạp kém điều trị của họ và không thể dùng liều tối ưu cho họ. «Họ giữ một thặng dư nhỏ kích thích tố tăng trưởng, nhưng bệnh của họ ít tiến triển », nhà chuyên gia đảm bảo như vậy.
Trong hội chứng Cushing cũng được điều trị ở centre de référence, giải phẫu khối u được đề nghị mỗi khi có thể được. « Sau đó, một sự giảm tạm thời của sự tiết của cortisol có thể kéo dài trong một hay hai năm và được bù bởi một điều trị. Khi không thể mổ, các thuốc được kê đơn. Sự theo dõi là suốt đời, bởi vì một sự tái phát vẫn có thể xảy ra », GS Jérome Bertherat (bệnh viện Cochin, Paris) đã nói như vậy. Trong bệnh Addison, một điều trị nội khoa cho phép điều chỉnh ít hay nhiều sự thiếu hụt. Mặc dầu hiếm, hai bệnh này nhận một điều trị tối ưu.

Sau cùng, tính chất đa ngành (pluridisciplinarité) mà CRMR mang lại « cũng cho phép điều chỉnh những surrisque như bệnh đái đường, những vấn đề tim, ung thư đại tràng đối với bệnh to cực, thí dụ », GS Brue đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 29/8/2022)

VI. HẸP VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ : MỘT ĐIỀU TRỊ BẰNG SIÊU ÂM

Hỏi : Hẹp van động mạch chủ là do gì ?
GS Emmanuel Messas. Đó là thương tổn thường gặp nhất của các van tim. Bệnh xảy ra ở 5% những người trên 65 tuổi và 10% những người trên 70 tuổi. Hẹp van động mạch chủ do sự canxi hóa của van động mạch chủ (cửa ra của tim), không còn mở một cách bình thường, thậm chí không động dậy và tạo một chướng ngại cho sự phóng máu bởi tâm thất trái vào động mạch chủ. Bệnh không ai để ý trong thời gian lâu cho đến khi xuất hiện những dấu hiệu báo động : khó thở lúc gắng sức, đau ngực, ngất. Nguy cơ không điều trị lúc hai hay ba năm là chết đột ngột, suy tim và tử vong do mệt tim.

Hỏi : Hẹp van động mạch chủ canxi hóa (RAC : rétrécissement aortique calcifié) hiện nay được điều trị như thế nào ?
GS Emmanuel Messas.
1. Bằng chirurgie à coeur ouvert để đặt một van cơ học hay sinh học (nguồn gốc động vật).
 – Ưu điểm : thay van à coeur ouvert đề nghị một sữa chữa chức năng tối ưu
 – Những bất lợi : van cơ học buộc phải điều trị chống đông (nguy cơ xuất huyết gia tăng với tuổi) ; van sinh học không buộc điều trị chống đông, nhưng nó thoái hóa sau 10 hay15 năm, buộc phải mổ lại.
2. Bằng TAVI (Transcatheter Aortic Valve Implantation). Bước tiến cách mạng này được hiệu chính cách nay 20 năm bởi GS Alain Cribier (CHU Rouen) cho phép đặt một van sinh học qua đường nội huyết quản (không mở ngực). Nó được ưa thích hơn khi có một nguy cơ giải phẫu. Động tác vẫn xâm nhập và có thể gây những biến chứng huyết quản hay cần đặt một pacemaker.

Hỏi : Nguyên tắc của phương pháp mới của ông là gì ?
GS Emmanuel Messas.
1. Nó cho phép để van nguyên thủy tại chỗ với vòng bám (anneau d’insertion) của nó.

Hỏi : Nguyên tắc của phương pháp mới của ông là gì ?
GS Emmanuel Messas.
1. Nó cho phép để van nguyên thủy tại chỗ với vòng bám (anneau d’insertion) của nó.2. Làm mềm đi những lá canxi hóa và cứng của van để chúng tái chuyển động và mở lỗ động mạch chủ (mà diện tích bình thường là 2,5 cm2 nhưng dưới 1 cm2 trong RAC serré). Để đạt được điều đó chúng tôi sử dụng những siêu âm năng lượng cao và tần số cao, được phát ra một cách gián đoạn, điều này đảm bảo một tác dụng (được gọi là effet de cavitation), nhắm vào van, không phát nhiệt và để những mô chung quanh nguyên vẹn.
3. Tác động bằng đường ngoài xuyên qua ngực một cách không xâm nhập và dưới sự kiểm soát của siêu âm.
4. Cho phép một điều trị lặp lại nhiều lần nếu cần thiết. Công nghệ mới này (cộng tác với Viện Langevin và Unité de physique pour la médecine, Inserm, Paris) hiệu chính những logiciel thích ứng, một robot (cánh tay điều khiển sự bắn) và những trắc nghiệm ở động vật. Như thế chúng tôi đã có thể kiểm tra rằng hệ thống của chúng tôi (Valvosoft, thiết bị thí nghiệm được phát triển bởi Cardiawave), không là nguồn của những emboles gazeux hay calciques có thể di tản lên não cũng như là nguồn nhiệt có hại tại chỗ.

Hỏi : Những kết quả mà ông có được ở người là gì ?
GS Emmanuel Messas. Bilan của một nghiên cứu nhiều trung tâm ở 40 bệnh nhân quá nguy cơ để nhận những trị liệu thông thường bởi vì rất già, có hẹp van động mạch chủ nặng và những bệnh nền, là như sau : gia tăng trung bình 20% diện tích van động mạch chủ, đủ để cải thiện một cách đáng kể chất lượng sống của những bệnh nhân. Không có tử vong trong khi mổ hay sau khi mổ có thể quy cho kỹ thuật. Không một nghẽn tác động mạch não (embolie cérébrale) nào có thể phát hiện bởi chụp hình ảnh (IRM được thực hiện trước và sau mổ). Siêu âm tim đã có thể khách quan hóa sự gia tăng của diện tích mở (surface d’ouverture) của van, được gây nên bởi sự phân thành từng mảnh nhỏ calcium trong những lá van cũng như sự gia tăng của tính di động của chúng. Ở 12 tháng, những kết quả này vẫn tồn tại mà không có sự xuất hiện của những biến chứng tim mạch

Hỏi : Giai đoạn sắp đến ?
GS Emmanuel Messas. Một nghiên cứu mới trong 10 trung tâm (ở Pháp, ở Hòa Lan và ở Đức) để có được một marquage CE. Nó chỉ đưa vào những bệnh nhân yếu ớt, nhưng những chỉ định tương lai sẽ là điều trị những bệnh nhân trước những giai đoạn tiến triển (sự canxi hóa khởi đầu) để kềm hãm quá trình, đẩy lùi giờ mổ hay Tavi (cũng như những tái can thiệp có nguy cơ), thậm chí dừng nó lại.
(PARIS MATCH 14-20/7/2022)

VII. COVID-19 : PHẢI CHĂNG LÀN SÓNG THỨ TÁM CÓ THỂ LÀ LÀN SÓNG CUỐI ?
Những lây nhiễm tăng cao trở lại nhưng dịch bệnh dường như đi vào trong một giai đoạn mới, giai đoạn của một bệnh mùa (maladie saisonnière) như cúm.

EPIDEMIE. Mùa thu đến và, với nó, nguy cơ thấy hiện ra một làn sóng Covid-19 mới được định rõ. Làn sóng thứ tám ở Pháp. Thật vậy, từ hơn một tuần nay, những lây nhiễm tăng cao trở lại, vượt quá 22.000 trường hợp mỗi ngày, trong khi 7/9 ta đã chỉ đếm được 16.000. Và tuy vậy, Tedros Adhanom Ghebreyesus, ông chủ của OMS đã tỏ ra rất lạc quan vào tuần này, lúc loan báo rằng « thế giới đã không bao giờ ở trong một tinh thế tốt như vậy để chấm dứt đại dịch …số những trường hợp tử vong mỗi tuần đã giảm xuống ở mức thấp nhất từ tháng ba 2020.» Một sự cải thiện cũng liên quan nước Pháp. Ta đếm được khoảng 30 tử vong mỗi ngày, trong khi chúng là một trăm vào giữa tháng bảy. Ngoài ra, những dữ liệu bệnh viện, hiện nay, còn xa mới nguy ngập với dưới 40 nhập viện ICU mỗi ngày.

Sự bùng phát trở lại hiện nay thật ra không đáng ngạc nhiên. Trái với điều mà ta đã có thể quan sát từ tháng mười hai, nó không liên kết với sự xuất hiện của một biến thể mới, mà do sự tựu trường sau kỳ nghỉ hè và do đó sự gia tăng của những tiếp xúc. Ở Pháp, gần như toàn bộ của những lây nhiễm luôn luôn được liên kết với biến thể Omicron BA-5, đã xuất hiện vào đầu tháng sáu. Khi đó sự đi đến của biến thể này đã gây nên một sự bùng phát trở lại đầu tiên. Một tình huống nhắc lại tình huống của năm vừa qua, khi đó biến thể Delta đã gây nên hai làn sóng liên tiếp, một khá giới hạn vào tháng bảy và một quan trọng hơn, vào mùa thu, trước khi Omicron xuất hiện vào tháng mười hai và thống trị tất cả.
Theo phần lớn các chuyên gia, mức tiêm chủng rất cao, cũng như sự kế tiếp nhau của những làn sóng dịch trước mang lại một miễn dịch cộng đồng manh chống lại những thể nặng. « Có một sự đa dạng lớn về lịch sử miễn dịch học, điều này làm cho khó xác định những kịch bản ở ba hay bốn tuần, như chúng ta có thể làm điều đó cho đến bây giờ, Mircea Sofonea, maitre de conférence về dịch tễ học ở Đại học Montpellier đã giải thích như vậy. Ta tiến về một giai đoạn endémique của bệnh. Có vẻ điều thiết yếu là thiết đặt một hệ theo dõi thích ứng để phản ứng, và để tránh một làn sóng mới lại trở nên không thể kiểm soát được. Ta thành công kềm chế cúm, bởi vì ta biết tính chu kỳ của nó, đó là yếu tố mà ta thiếu với Covid ».

« Thời kỳ là rất đặc biệt, Vincent Enouf, phó giám đốc của Centre national de référence des virus des infections respiratoires của Viện Pasteur Paris, đã nói như vậy. Ta biết rằng từ nay ta sống với Sars-CoV-2. Từ nay những làn sóng dịch sẽ tiếp nối nhau, nhưng ta không biết gì hết về tính mùa của chúng và cách mà virus này sẽ chung sống với những tác nhân gây bệnh theo mùa khác như cúm, hay VRS (chịu trách nhiệm bronchiolite). Phải chăng sẽ có những làn sóng kế tiếp nhau với những virus mùa đông khác nhau ? Ta chẳng biết. Vào lúc này, cúm và VRS nối tiếp nhau, và ta không biết liệu Sars-CoV-2 có sẽ biến đổi nhịp độ này hay không, hoặc làn sóng Covid có sẽ được xếp chồng với những làn sóng khác. »
Sau đó ? Hai kịch bản rồi rõ ra, nhưng không thể biết kịch bản nào buộc phải nhận mình. Sars-CoV-2 có thể hành xử hơi giống như rhinovirus mà chống lại chúng không có vaccin. Những virus này gây nhiễm đều đặn, nhưng không nhất thiết bảo vệ chúng ta chống lại một tái nhiễm. Khả năng khác, và vào lúc này đó là kịch bản khả tín nhất, sự thiết đặt những chiến dịch tiêm chủng đều đặn, như đối với cúm, với những vaccin thích ứng với những biến thể gần đây nhất. Những huyết thanh được hiệu chính một cách đặc hiệu chống những biến thể Omicron sẽ sẵn sàng sử dụng trong những tuần đến. « Dầu thế nào đi nữa, trong tức thời, tốt hơn vẫn là tiêm chủng những người có nguy cơ, Vincent Enouf đã đánh giá như vậy. Sau đó phải thích ứng chính sách xét nghiệm của chúng ta. Tôi nghĩ rằng xét nghiệm hệ thống không còn cần thiết nữa và rằng sự theo dõi lại phải qua sự giám định các mẫu nghiệm được lấy bởi hệ các thầy thuốc đa khoa và nhi khoa (réseau Sentinelles) và các mẫu nghiệm được lấy bởi các phòng xét nghiệm bệnh viện và thành phố. » Về mang khẩu trang, phần lớn các chuyên gia khuyến nghị nó với tính cách cá nhân, không những chỉ để bảo vệ chống Covid, mà con để chống những virus khác. Đối với nhiều chuyên gia, đó là một thói quen cần phải duy trì sau đại dịch, phản xạ áp dụng những biện pháp bảo vệ những người khác khi ta có mũi chảy hay đau họng.
Một kịch bản có thể phủ nhận những dự đoán lạc quan nhất : kịch bản của sự xuất hiện của một biến thể không biết là lần thứ mấy, ra ngoài lignée hiện nay, và thoát sự bảo vệ của hệ miễn dịch. Nếu biến thể BA-5 vẫn chiếm đa số gần như khắp nơi trên thế giới, một biến thể khác hoành hành ở Ấn Độ, biến thể BA.2.75. Phải chanh biến thể này sẽ gây nên một làn sóng quan trọng hơn nếu nó đến châu Âu ? Ta còn thiếu yếu tố về những khả năng của tái nhiễm, nhưng dường như rằng những biến thể này thay thế nhau với những hậu quả tương tự. Biến thể có tầm quan trọng sắp đến đã chưa được khám phá, cũng như có vẻ ít có khả năng rằng chúng làm thất bại hoàn toàn những phòng vệ miễn dịch có được trong hai năm qua.« Vấn đề là ở Pháp chúng ta không có những phương tiện để đảm bảo một sự theo dõi, Mircea Safonea đã lấy làm tiếc như vậy. Đại dịch có lẽ ở sau chúng ta, nếu ta nói về những nhập viện, nhưng đó chưa phải là như vậy nếu ta nhìn sự lưu hành của virus, hay ngày cả những Covid long. Và tuy vậy, những dự án nghiên cứu để đảm bảo mọi sự theo dõi dịch tễ học mới không được tài trợ. Chúng ta sang trang nhưng đã không giữ được bài học về chương mà chúng ta vừa kết thúc.
(LE FIGARO 16/9/2022)

VIII.TA CÓ PHẢI SỢ MỘT «TWINDÉMIE» CỦA CÚM VA COVID ?

Covid-19 mặc dầu mờ nhạt trong thời gian qua, nhưng không gì đảm bảo rằng nó sẽ không trổi dậy lại vào mùa thu hay mùa đông này, có lẽ dưới dạng của một biến thể độc lực hơn. Mặc dầu SARS-CoV-2 đã thắng thế hơn influenza hai mùa qua, nhưng ta cũng có thể tự hỏi về sự tái xuất hiện một ngày nào đó của một dịch cúm thật sự. Thậm chí, tệ hại hơn, sự cùng hiện hữu của cả hai. Ta có phải sợ một kịch bản như thế ?

Trong khi sự tiêm chủng với booster thứ hai đối với Covid vừa bắt đầu và vài tuần trước khi khởi động sự tiêm chủng chống cúm, những hãng dược phẩm sôi sục và đưa các nhà khoa học lên mặt trận, lý luận rằng sự tiêm chủng chống cúm là thiết yếu để tránh một «twindémie», một dịch kép cúm và Covid-19. Twindémie nghĩa là gì ?

1. Phải chăng ở Bỉ quá ít người được tiêm chủng chống cúm ?
Để đảm bảo một sự bảo vệ thích đáng của những cá nhân và của những nhôm nguy cơ, OMS và Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật châu Âu khuyến nghị một tỷ lệ tiêm phủ 75% đối với cúm. Ở châu Âu, ta ước tính rằng trung bình, chỉ 39% những người 65 tuổi và hơn được tiêm chủng chống cúm. Và mặc dầu Bỉ ghi nhận một tỷ lệ tiêm phủ trên mức trung bình này, hoặc 59% những đối tượng nguy cơ, tình hình vẫn chưa tối ưu.

2. Ta đã thấy gì ở Úc và có phải sợ kịch bản tương tự ở Bỉ ?
Trong khi mùa thu bắt đầu ở Bỉ, Úc đã ra khỏi mùa đông sau khi đã trải nghiệm một cao điểm quan trọng của những trường hợp Covid-19 và cúm, mà các chuyên gia gọi là «twindémie». Ngay cả người ta nói là « mùa cúm tệ hại nhất từ năm năm nay ». Đồng thời, số những trường hợp Covid-19 đã tăng cao nhưng không phải vì vậy mà những nhập viện theo cùng tỷ lệ. Kịch bản Úc phải chăng có thể xảy ra ở Bỉ ? « Tiên đoán một cách chính xác vào lúc nào sẽ bắt đầu mùa cúm sắp đến, chủng virus thống trị và mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh là không thể, Marc Van Ranst, giáo sư virus học và dịch tễ học ở KU Leuven đã nói như vậy. Hoạt động cúm trong nam bán cầu cho một indication về điều phải chờ đợi trong bắc bán cầu. Những dữ liệu không làm an lòng lắm bởi vì, lần đầu tiên từ khi bắt đầu đại dịch, cúm không những trở lại, mà mùa cúm ở Úc đã đặc biệt độc lực. Ngoài ra, số những trường hợp Covid-19 đã gia tăng ở Úc, điều này đã làm cho «twindémie» của cúm và coronavirus, nghĩa là nhiễm kep, trở nên một nguy cơ tiềm năng.»

3. Phải chăng có nhiều nguy cơ hơn ta chứng kiến một dịch cúm vào mùa này ?
Ta biết rằng, một cách định kỳ, những dịch bệnh trở lại. Ta cũng biết rằng những mùa cúm vừa qua đã có một tỷ lệ nhiễm thấp do những biện pháp được thực hiện trong đại dịch (mang khẩu trang, khoảng cách xã hội…), điều này đã hạn chế nhiều sự tiếp xúc của hệ miễn dịch của chúng ta với cúm. Vậy thế thì, không, không phải là không có thể rằng cúm sẽ hoành hoành mạnh vào mùa đông này. Mối nguy hiểm càng gây quan ngại khi, «năm nay lần đầu tiên từ 2019 được đặc trưng bởi sự không có mọi biện pháp khoảng cách xã hội », BS Yves Van Laethem, thầy thuốc chuyên khoa nhiễm trùng ở CHU Saint-Pierre đã nếu nhận xét như vậy.

4. Vì những lý do nào ta phải sợ một « twindémie» ?
Điều mà ta sợ hơn hết, đó là mot sự kề nhau của dịch cúm và dịch coronavirus, điều này dẫn đến một sự quá tải của hệ y tế. Sau đó, như nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ, không được loại bỏ một sự gia tăng tiềm năng của những biến chứng đối với những người mắc hai nhiễm cùng lúc.

«Influenza thử thách một các đáng kể những hệ y tế vào mùa đông, BS Aurore Giraud, phó chủ tịch của Société scientifique de médecine générale đã giải thích như vậy. Sau hai năm đại dịch và những biện pháp y tế, năng lực miễn dịch của dân chúng, và đặc biệt của những người trên 65 tuổi, bị suy yếu. Trong khi có một nguy cơ phải đối mặt với một đe dọa kép, sự tiêm chủng hàng năm chống cúm là phương tiện tốt nhất chống bệnh và những biến chứng của nó.

 Mặc dầu dường như rằng vaccin Covid luôn luôn ưu tiên, nhưng điều mấu chốt là có một chính sách phòng ngừa rõ ràng chống cúm để đảm bảo rằng những người 65 tuổi và hơn cũng được bảo vệ một cách đúng đắn mỗi năm. Cúm gây nhiều tổn hại hơn người ta tưởng. Nó có thể gây những biến chứng nghiêm trọng, gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và viêm phổi, dầu ta ở trong tình trạng sức khoẻ tốt. »

5. Nguy hiểm chủ yếu có phải là hai dịch bệnh hoành hành đồng thời ?
« Hiện nay, dĩ nhiên chúng ta không biết chúng ta sẽ như thế nào với Covid vào tháng giêng, tháng hai và tháng ba, đó là những tháng thuận lợi hơn cho một dịch cúm, BS Van Laethem đã nói với chúng ta như vậy. Không ai có thể chứng nhận bất cứ điều gì về vấn đề đó. Nhưng, một cách cổ điển, ta chứng kiến một cách logic cao điểm cúm sắp đến muộn hơn cao điểm tiềm năng của Covid, có thể được dự kiến giữa tháng mười. Mặc dầu tôi nghĩ rằng đó đúng hơn là một làn sóng nhỏ…Trái lại, nếu có một đỉnh Covid khác, thí dụ vào đầu năm, điều đó có khả năng tạo vấn đề hơn, mặc dầu tôi không nghĩ rằng điều đó sẽ làm quá tải những bệnh viện của chúng ta. »

6. Ai phải tiêm chủng cúm và khi nào ?
Ở Bỉ, ta ước tính rằng trung bình 500.000 người mỗi năm bị ảnh hưởng bởi cúm. Một trường hợp cúm trên 10 cần một nhập viện. « Sau hai năm khủng hoảng y tế, một sự lưu hành hạn chế của cúm và nguy cơ của một làn sóng mới của coronavirus, điều chủ yếu đối với những người trên 65 tuổi là phải tiêm chủng, để bảo vệ mình và tránh một quá tải mới đối với nhân viên điều trị và một sự thiếu giường bệnh viện », theo Marc Van Ranst

Ta có thể nói rằng tiêm chủng chống cúm hơn bao giờ hết được khuyến nghị ở những người yeu ot, là những người mà ta đề nghị một booster thứ hai doi voi covid, Yves Van Laethem đã xác nhận như vậy. Đó là những người trên 65 tuổi, những người có những bệnh mãn tính, những người trên 50 tuổi có những yếu tố bệnh nền, những phụ nữ có thai, nhân viên y tế…Không ai biết nhưng mọi người ước định rằng thật sự chúng ta đã không đối diện với virus của cúm trong hai năm và do đó rất có khả năng rằng miễn dịch của chúng ta đã không nhận những nhiễm tự nhiên thông thường của cúm. Nếu đó không phải là những người đã được tiêm chủng. Vấn đề khác là vấn để sự thích đáng của những vaccin với những chủng đang lưu hành.

Timing tốt để tiêm chủng nằm giữa tháng mười và đầu tháng mười một, cần biết rằng mùa cúm nói chung xuất hiện giữa tháng mười một và tháng ba và rằng thuốc chủng mang lại một bảo vệ tối ưu sau 10 đến 15 ngày.

7.Ta có thể tiêm chủng hai vaccin cùng lúc ?
Vâng, ta có thể tiêm hai vaccin cùng ngày, không có một chống chỉ định nào, vả lại đó là điều đã được đề nghị năm vừa rồi. « Một ở cánh tay trái, một ở cánh tay phải. Tuy nhiên, tiêm chủng bây giờ chống Covid và trong một tháng chống cúm có vẻ thích đáng hơn», theo BS Van Laethem.
(LA LIBRE BELGIQUE 21/9/2022)

IX. CÚM : VACCIN VẪN RẤT THÍCH ĐÁNG
Các chuyên gia sợ nhiều trường hợp nặng hơn do một sự giảm của miễn dịch nhóm.

SANTÉ PUBLIQUE. Kể từ thứ ba 19/10, những người có nguy cơ bị cúm thể nặng (trên 65 tuổi, những phụ nữ có thai, những người với một chứng béo phì nặng hay có những bệnh nền như bệnh đái đường…) được mời như mỗi năm đi tiêm chủng ở một thầy thuốc, y tá, dược sĩ hay một nữ hộ sinh, với sự xuất trình một giấy mời mà Assurance-maladie gởi cho họ.

Mặc dầu OMS khuyến nghị một tỷ lệ tiêm phủ 75% ở những người dễ bị thương tổn, tỷ lệ tiêm chủng chống cúm ở Pháp chỉ gần 50% từ 10 năm, một mức rất không đủ, nhà dịch tễ học Sibylle Bernard-Stoecklin đã viết như vậy trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire de Santé publique France. Ngoài sự không ưa thích kinh diễn này, từ nay phải thỏa hiệp với chiến dịch tiêm chủng nhắc lại chống Covid được diễn ra song hành, và nhìn chung nhắm vào cùng những đối tượng (những người trên 60 tuổi hay với những bệnh nền). Để tối đa hóa những cơ may mà những người được nhắm đến nhận hai tiêm chủng bảo vệ, giới hữu trách y tế khuyến nghị thực hiện những mũi tiêm cùng ngày.
Hiện nay, cúm được thu tóm vào vài trường hợp lẻ tẻ ở Pháp, và không thể tiên đoán dịch bệnh sẽ ở quy mô naào vào mùa đông này. Dịch bệnh đặc biết đã xảy ra trễ năm qua, với một đỉnh dịch đạt được vào đầu tháng tư ở Pháp métropolitaine, và những virus được phát hiện cho đến tháng sau, điều chưa bao giờ thấy. Vả lại có thể rằng lịch trình chênh lệch do sự đua tranh của virus cúm với Sars-CoV-2, rất hiện diện từ tháng 11/2021 đến tháng hai 2022, Vincent Enouf, phó của Centre national de référence des infections respiratoires, ở Viện Pasteur, đã chỉ như vậy. Thế còn năm nay thì sao ? « Ta đã phát hiện những virus của cúm ở Pháp nhưng không biết đó có phải là bởi vì hệ theo dõi được cải thiện nhờ đại dịch hay đó là bởi vì đã có nhiều virus cúm », GS Bruno Lina, giám đốc của centre référence sur les virus grippaux đã nhấn mạnh như vậy.

Nhiều chuyên gia lo ngại cho mùa đông này bởi vì họ dự kiến rằng miễn dịch nhóm đã thụt lùi so với thời kỳ trước Covid. « Hai năm qua, virus cúm đã lưu hành khá ít, do đó sự tái kích thích miễn dịch bởi bệnh cúm hay nhiễm không triệu chúng đã không xảy ra. Vậy có một nguy cơ rằng virus sẽ lưu hành nhiều hơn, và do đó, ảnh hưởng nhiều hơn những người yếu ớt. Nhưng điều đó sẽ được đuổi kịp bởi sự tiêm chủng », Bruno Lina đã giải thích như vậy.

GIẢM NHỮNG TRIỆU CHỨNG

Thế mà điều này, dầu cho tính hiệu quả của vaccin thế nào. Tính hiệu quả này là « vừa phải » năm qua, 36% theo BEH (tính hiệu quả được định nghĩa như là khả năng tránh một khám y khoa trong trường hợp bị nhiễm).« Mặc dầu điều đó, tác động lên dân chúng vẫn quan trọng, vaccin cứu những mạng người », Vincent Enouf đã nhấn mạnh như vậy, ông nhắc lại rằng bệnh trung bình gây 9000 tử vong mỗi năm. Và đối với những người không có nguy cơ, điều đó cho phép giảm những triệu chứng và do đó vẫn hoạt động, trong khi một cúm không vaccin làm anh liệt giường, ông đã nói như vậy.
Những nhà virus học cùng phàn nàn về sự lơi lỏng toàn thể những động tác barrière : mang khẩu tarng và/hay tự cách ly nếu ta cảm thấy bị bệnh, rửa tay, làm thông khí…« Chúng cũng góp phần bảo vệ những người yếu ớt nhất đứng trước bệnh cúm », Vincent Enouf đã nhấn mạnh như vậy. Cần ghi chú : vaccin chống cúm được dành cho những người dễ bị thương tổn ứng viên cho đến 15/11, rồi có thể tiếp cận cho tất cả. Các dược sĩ và y tá có thể tiêm chủng không toa kể từ 16 tuổi.
(LE FIGARO 19/10/2022)
Đọc thêm : TSYH số 388

X. BỆNH ĐẬU MÙA KHỈ : PHẢI SỢ GÌ, PHẢI LÀM GÌ ?
Trước hết được giới hạn ở vài trường hợp ở châu Âu, nói chung hiền tính và có một vaccin, nó không làm sợ hãi. Tuy vậy khả năng làm hại là lớn.

1. Bệnh đậu mùa khỉ đến từ đâu, nó đi đâu ?
Bệnh này là do một virus tương cận với virus của đậu mùa người (variole humaine), được khám phá vào năm 1958 ở một macaque, từ đó cótên gọi của nó. Thật ra, những động vật gặm nhấm là réservoir của virus này, từ đó những động vật khác bị lây nhiễm. Chính vào năm 1970 mà những trường hợp đầu tiên ở người, rất riêng biệt, được báo cáo ở Cọng hòa dân chủ Congo. Trong một thời gian lâu, dạng đậu mùa này vẫn được giới hạn ở các rừng của trung tâm của châu Phi xích đạo. Dịch bệnh đáng kể đầu tiên ở người đã xuất hiện vào năm 2017 ở Nigeria (500 trường hợp nghi ngờ, 200 trường hợp được xác nhận, 3% tử vong). Ngày 8/6/2000, OMS đã thống kê 1000 trường hợp được xác nhận trong 29 nước, và, ngày 22/7, 16.000 trường hợp trong 78 nước, khiến tổng giám đốc của OMS tuyển bố nhiễm đậu mùa khỉ là« cap cứu y tế thế giới. Cuối tháng tám, tình hình như sau : 22363 trường hợp ở châu Âu, trong đó 3421 ở Pháp, và 19962 ở Hoa Kỳ ! Tình hình là nghiêm trọng, mặc dầu ta không nói là đại dịch với lý do chỉ một population cible dường như bị đe dọa chứ không phải toàn dân ? Nhưng nguy cơ hiện hữu.

2. Cách truyền.
Sự truyền từ động vật qua người được thực hiện bởi tiếp xúc trực tiếp, bởi những chất tiết hô hấp hay tiếp xúc gián tiếp (sự tiêu thụ). Sự truyền giữa người theo sơ đồ này với những khác nhau nhỏ. Một nghiên cứu được thực hiện trong 16 nước và được công bố vào tháng bảy đã cho thấy rằng cách lây nhiễm chính là một giao hợp trong 95% những trường hợp. Sự truyền gián tiếp ở người là sự tiếp xúc với một bề mặt bị nhiễm hay với những hạt virus được mang bởi không khí (được phóng vào không khí, thí dụ khi thay drap giường), điều mà những phân tích trong môi trường bệnh viện đã chứng tỏ. Bệnh đậu mùa khỉ không dễ lây như những nhiễm trùng khác : phải tiếp xúc sát với một người bị nhiễm (mặt đối mặt, da đối da, miệng với miệng), trong một môi trường bị nhiễm hay gần một động vật bị bệnh để virus có thể lan truyền.

3. Những triệu chứng và nhóm nguy cơ
Thời gian tiem phục biến thiên từ 4 đến 20 ngày, thường hơn từ bảy đến 14 ngày. Sốt, sưng hạch bạch huyết và đau cơ đi trước những thương tổn da và niêm mạc, ban đầu nằm ở nơi nhiễm truyền (sinh dục, quanh hậu môn, quanh miệng) trước khi lan tràn đến những nơi khác. Những người đàn ông đồng tính luyến ái chiếm đa số những người bị nhiễm, nhưng những phụ nữ cũng bị ảnh hưởng (1,4% của toàn bộ, bị lây nhiễm bởi những người đàn ông dị tính, những giọt hô hấp trong hộ gia đình…) cũng như những trẻ em. Sự khuếch tán của virus ngoài quần thể đích làm quan ngại những chuyên gia.

4. Thái độ xử trí
Không có một thuốc trị bệnh nào hiện hữu. Điều trị thuần triệu chứng (những thuốc chống đau, những thuốc hạ nhiệt). Những biểu hiện biến đi một cách ngẫu nhiên trong vài tuần…trừ những trường hợp hiếm hoi (những người suy giảm miễn dịch). Cọ rửa những thương tổn da với nước muối hay một thuốc sát trùng phòng ngừa sự bội nhiễm. Để không lây nhiễm những người khác, phải phù chúng hoặc nếu không để hở với khí trời. Rửa tay và tẩy uế các thiết bị vệ sinh là cấp thiết trong gia đình. Chẩn đoán bệnh trước hết là lâm sàng. Vaccin (Imvanex) có thể được cho bằng đường dưới da hay, tốt hơn, bằng đường trong da (hiệu quả bằng và 5 lần tiết kiệm hơn). Cần hai mũi tiêm cách nhau 35 ngày. Nó hiệu quả 85%, như bởi phản ứng chéo vaccin đối với đậu mùa người. Nó chống lại những thể nặng nhưng không phải luôn luôn. Không có chỉ định tiêm chủng cho tất cả mọi người, chỉ một quần thể đích (population cible) : những người đàn ông đồng tính, những người hoạt động mãi dâm (ở Pháp chiếm khoảng 300.000 người) và những người tiếp xúc với những người bị nhiễm, nhất là nếu họ là những người suy giảm miễn dịch. Sự tiêm chủng những người có thai được chủ trương ở Hoa Kỳ, nhưng không bởi giới hữu trách châu Âu. Theo BS BenjamiThái độ xử trín Davido, thầy thuốc chuyên khoa bệnh nhiễm trùng ở bệnh viện Garches, chỉ 10% quần thể đích đã được tiêm chủng ở Pháp ; những nơi tiêm chủng (hiệu thuốc, trung tâm) bị quá tải bởi vì quá ít, và những thủ tục hành chánh quá nặng nề. Ông chủ trương gia tốc chiến dịch tiêm chủng bởi vì bệnh lan rộng.
(PARIS MATCH 15-21/9/2022)
 Đọc thêm :
– TSYH số 610 : bài số 1-7
– TSYH số 607 : bài số 1, 2

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/11/2022)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s