Thời sự y học số 611 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I. NHỮNG DỊ ỨNG NẶNG : CUỘC CÁCH MẠNG CỦA CÁC KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG
Các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) rất hiệu quả chống lại hen phế quản hay chứng mày đay nặng, tuy vậy quá ít được biết đến bởi các thầy thuốc không chuyên khoa.

ASTHME. « Sự đi đến của những kháng thể đơn dòng (anticorps anticlonaux) đã cách mạng hóa sự điều trị bệnh hen phế quản, GS Cindy Barnig, pneumologue ở CHU de Besançon đã kể lại như vậy. Chúng tôi đã có thể đề nghị những giải pháp cho những bệnh nhân, bị đồng thời bệnh hen phế quản và những liều rất cao corticoide, cần thiết để chịu được điều đó.
Mặc dầu cực kỳ đắt, tuy nhiên những điều trị này được dành cho những bệnh nhân có căn bệnh rất nặng và không kiểm soát được bởi những thuốc thông thường, hay những bệnh nhân không chịu được những điều trị này. Mặc dầu những kháng thể đơn dòng không cho phép chữa lành họ, nhưng chúng cho phép nhiều bệnh nhân tìm thấy lại một chất lượng sống có thể chấp nhận được, nhất là chỉ cần tiêm chúng mỗi 15 ngày hay mỗi tháng. Vài bệnh nhân giải thích với chúng tôi rằng họ đã tìm thấy lại một cuộc sống tương tự với cuộc sống mà họ đã có trước khi bị bệnh !», GS Pascal Demoly, trưởng service de pneumologie, allergologie et oncologie thoracique ở CHU de Montpellier, đã lấy làm vui sướng.

Cuộc cách mạng kháng thể không phải bắt đầu từ hôm qua : ngay 2006, omalizumab đã có thể được sử dụng ở Pháp để điều trị hen phế quản dị ứng nặng (asthme sévère allergique), kể cả ở trẻ em từ 6 tuổi. Những kháng thể đơn dòng là những phân tử được tách riêng và tái sản xuất ở phòng thí nghiệm, được sử dụng vì năng lực gắn một cách đặc hiệu vào những phân tử đích mà chúng ngăn chặn hoạt tính. Những biothérapie này ban đầu được phát triển chống lại những cytokine (những phân tử có nhiệm vụ phát một tín hiệu đến những tế bào viêm) của những bệnh lý viêm, như viêm đa khớp dạng thấp hay bệnh Crohn. Rồi sự thành công của những điều trị này đã khiến các nhà nghiên cứu quan tâm đến tất cả những bệnh lý có một thành phần viêm, và nhất là cascade allergique có thể dẫn đến hen phế quản. Omalizumab gắn vào những immunoglobuline E (IgE), một lớp các kháng thể mà sự sản xuất bùng lên ở những bệnh nhân trước sự hiện diện của một hay nhiều dị ứng nguyên. Omalizumab ngăn cản IgE gắn vào những mastocyte, những tế bào miễn dịch khác. khi đó mastocyte không còn có thể phóng thích histamine chịu trách nhiệm những triệu chứng của một số lớn các dị ứng, và nhất là sự co thắt của các phế quản được quan sát trong hen phế quản.
Những kháng thể đơn dòng khác đã đến thêm vào sự tiến bộ đầu tiên này, đặc biệt đối với những thể hen phế quản, trong đó thành phần dị ứng ít quan trọng hơn. Và sự đi đến của những liệu pháp mới này, mà những cơ chế không luôn luôn được làm sáng tỏ, duy trì một vòng nghiên cứu mà những kết quả được quan sát cho phép hiểu rõ hơn sinh bệnh lý phức tạp của những bệnh dị ứng và dự kiến những đích điều trị mới hay những chỉ định mới. Nhiều bệnh nhân thất bại điều trị nhận đều đặn những loại thuốc này, khi một trong những đích của chúng được nhận diện trong những bệnh khác.
Sau hen phế quản, những chỉ định của omalizumab được mở rộng đến những bệnh khác có thành phần dị ứng, như urticaire chronique hay polypose nasosinusienne.
3 kháng thể đơn dòng khác, nhắm vào những quá trình viêm khác, đã đến thêm vào, cho phép điều trị những bệnh lý được đặc trưng bởi một nồng độ tăng cao của éosinophile (những tế bào máu tham gia vào miễn dịch) và nhất là những asthme à éosinophiles đôi khi không có thành phần dị ứng.
Vài bệnh nhân cũng đã thấy biến mất tất cả những triệu chứng dermatite atopique nặng của họ, đặc biệt invalidant, nhờ dupilumab, được thương mãi hóa năm 2018 cũng chống hen phế quản nặng.
 Một kháng thể đơn dòng khác, tézépélumab, chẳng bao lâu đến trên thị trường Pháp : nó nhắm vào những alarmine, những phân tử « tín hiệu » khác của miễn dịch liên quan trong hen phế quản loại 2, ít gặp hơn nhưng đối với nó ít có những điều trị thỏa mãn.
«Mỗi loại thuốc mới mở ra những triễn vọng mới, nhất là, trong những bệnh lý của chúng ta, những biothérapie có rất ít những tác dụng phụ, GS Christophe Delacourt, phụ trách service de pneumo-allergologie pédiatrique của bệnh viện Necker-Enfants malades de Paris, đã lấy làm phấn khởi. Điều đó càng quan trọng đối với chúng ta khi những thử nghiệm điều trị hiếm khi được thực hiện đặc biệt dành cho trẻ em.» Đối với những bệnh nhân đáp ứng tốt nhất với điều trị, các biothérapie cho phép ngay cả không cần những thuốc khác khi chúng phải được dùng ít nhất một lần mỗi ngày với những tác dụng phụ nghiêm trọng, đặc biệt đối với những corticoide bằng đường miệng.
Tuy nhiên còn phải có những tiến bộ trong việc nhận diện những bệnh nhân hội đủ điều kiện đối với những điều trị này. Cần phải nhắc lại rằng bệnh hen phế quản còn gây khoảng 900 tử vong mỗi năm ở Pháp, đôi khi bởi vì những điều trị thông thường, phải được sử dụng ngay cả khi những triệu chứng hen phế quản biến mất, có những tác dụng phụ đáng kể không được mong muốn, điều này không làm dễ sự tuân thủ nghiêm túc mặc dầu cần thiết. Và số những trường hợp tử vong, được ổn định từ đầu những năm 2000, dường như tăng nhẹ, nhất là bởi vì hen phế quản nặng kém được chẩn đoán. « Đôi khi parcours de santé là rất phức tạp trước khi gặp mặt một thầy thuốc biết đánh giá tốt mức độ nghiêm trọng của hen phế quản và hướng bệnh nhân về sự điều trị tốt nhất, GS Alain Didier, pneumologue ở CHU de Toulouse, đã nhắc lại như vậy. Nhiều thầy thuốc đa khoa không biết những điều trị mới này, bởi vì họ không thể kê đơn chúng, và những laboratoire không có quyền nói về điều đó ».
(LE FIGARO 4/7/2022)

CHÚ THÍCH
– Omalizumab (XOLAIR) là một kháng thể đơn dòng được sử dụng trong hen phế quản. Đó là một anticorps monoclonal humanisé biosynthétique anti-IgE. Nó gây nên một sự giảm của nồng độ IgE tự do
 – Omalizumab được chỉ định trong hen phế quản và những thể nặng của urticaire spontané chronique.
 – Đối với hen phế quản, omalizumab là điều trị duy trì ở những bệnh nhân từ 6 tuổi bị hen phế quản dị ứng nặng kéo dài với hypersensibilité Ig-E dépendante. Ở những bệnh nhân này hen phế quản nặng kéo dài với những cơn bộc phát thường xảy ra, mặc dầu một điều trị bởi những liều cao corticostéroide inhalé và beta2-mimétique có tác dụng kéo dài. Ta bắt đaa bằng một thời kỳ thử 4 tháng ; sau đó điều trị có thể kéo dài trong trường hợp hiệu quả thuận lợi
– Đối với những thể nặng của urticaire choronique ở người lớn và những thiếu niên từ 12 tuổi : trong trường hợp đáp ứng không đủ với một điều trị bằng antihistaminique H1

II. GIẢI CẢM ỨNG (DÉSENSIBILISATION) VÀ SINH LIỆU PHÁP (BIOTHÉRAPIE)

Và nếu các kháng thể đơn dòng cho phép mở một con đường hướng về sự chữa lành những bệnh lý dị ứng ? Thật vật, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến sự sử dụng những sinh liệu pháp (biothérapie) này như một chiếc cầu nhỏ hướng về miễn dịch liệu pháp (hay giải cảm ứng) cho những bệnh nhân không thể tiếp cận được điều đó vào lúc này. Miễn dịch liệu pháp nhằm cho một bệnh nhân dị ứng chịu những liều tăng dần của dị ứng nguyên mà bệnh nhân nhạy cảm. Như thế cơ thể quen với sự hiện diện của nó và không phát khởi nữa phản ứng cấp cứu không kiểm soát được, và tiềm năng nguy hiểm, đứng trước kẻ lạ này, bị nhận thức làm như là một mối đe dọa quan trọng.
Phương pháp này được sử dụng từ hơn một thế kỷ bởi nhiều allergologue, một cách thường nghiệm ít hay nhiều với những thành công và những thất bại. Tuy nhiên những công trình khoa học đã cho phép xác lập những protocole chính xác đối với một số dị ứng nguyên nào đó, đặc biệt chịu trách nhiệm những dị ứng hô hấp, để tối ưu hóa phương pháp. Những nhà công nghiệp cũng đã hiệu chính những dạng dễ cho hơn những mũi tiêm, với những giọt hay những viên thuốc dùng dưới lưỡi, và nghiên cứu những khả năng khác như những patch còn dễ sử dụng hơn trong thời gian, nhất là đối với trẻ em.
CHỮA LÀNH VĨNH VIỄN
Thế mà điều đó có hiệu quả : «Vài bệnh nhân có thể chữa lành vĩnh viễn những dị ứng của họ, GS Alain Didier, pneumologue ở CHU de Toulouse đã nhắc lại như vậy. Đối với nhiều người khác, sự giải cảm ứng cho phép ít nhất gia tăng sự dung nạp của họ đối với một dị ứng nguyên và họ không còn phải sống trong sự lo sợ thường xuyên bị tiếp xúc với nó do sai lầm. »

Tuy nhiên quá trình luôn luôn lâu dài, không luôn luôn dễ tuân thủ đúng từng ly từng tí trong thời gian và nhiều bệnh nhân cuối cùng mệt mỏi và bỏ cuộc. Những bệnh nhân khác cũng có thể là nạn nhân của một tai biến phản vệ liên kết với một liều dị ứng nguyên quá mạnh trong khi cơ thể đã không được giải cảm ứng tốt ở giai đoạn trước. Nguy cơ choáng phản vệ này cấm sử dụng miễn dịch liệu pháp những bệnh nhân hen phế quản dị ứng nặng, mà căn bệnh hiếm khi được kiểm soát một cách hoàn hảo. « Những kháng thể đơn dòng, được sử dụng cho đến khi các triệu chứng của hen phế quân đã hoàn toàn biến mất có thể cho phép dự kiến một miễn dịch liệu pháp bằng dị ứng nguyên ở những bệnh nhân này, GS Pascal Demoly, phụ trách service de pneumologie, allergologie et oncologie thoracique của CHU de Montpellier, đã nhấn mạnh như vậy. Nếu hen phế quản hoàn toàn do dị ứng nguyên này, ta có thể tưởng tượng chữa lành nó vĩnh viễn.»
(LE FIGARO 4/7/2022)

III. PHẢN VỆ (ANAPHYLAXIE) : PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ
Mặc dầu nó có thể đe dọa mạng sống, nhưng ta có thể làm ngừng lại những biểu hiện nghiêm trọng nhất nhưng cũng phòng ngừa nó. GS Pascal Demoly nói với chúng ta điều cần phải biết.

Hỏi : Thuật ngữ này chỉ cái gì ?
GS Pascal Demoly. Một thể dị ứng được gọi là «tức thời», là một phản ứng dữ dội cua tinh qua nhay cam toan than (hypersensibilité généralisée), xuất hiện nhanh(vài phút đến vài giờ, trung bình 15 phút) và đe dọa mạng sống. Nó được đánh dấu bởi :

1. Sự xuất hiện đột ngột của một co thắt của những đường hô hấp trên và dưới. Không khí vẫn bị sập bẫy trong phổi, không có thể đi ra hoặc đi vào, một cảm giác kép được cảm nhận bởi bệnh nhân
2. Một sự giãn mạch hàng loạt của các huyết quản, nguồn gốc của một hạ huyết áp quan trọng, có thể désamorcer tim
3. Một sự yếu cực kỳ với lú lẫn và đôi khi hôn mê
4. Rất thường (90% những trường hợp) được liên kết một phù huyết quản khuếch tán được gọi là angioedème de Quincke).

Hỏi : Tỷ lệ mắc phải và những yếu tố khởi phát của phản vệ ?
GS Pascal Demoly. Gần 3% những người Pháp có ít nhất một biểu hiện phản vệ trong cuộc đời mình. Tỷ lệ mắc phải hàng năm (tăng cao) thay đổi tùy theo những nghiên cứu từ 1 đến 8 trường hợp đối với 100.000 dân. Nó xảy ra ở các trẻ em cũng như người lớn của hai giới tính. Một thể địa được gọi là «atopique» (gia đình có những người có cơ địa dị ứng, vài bẩm chất sinh học ) làm dễ phản vệ.

Nó được phát khởi bởi một dị ứng nguyên. Dị ứng nguyên, theo thứ tự tần số, có thể là một loại thuốc (kháng sinh, curare, hóa trị, miễn dịch liệu pháp…) ; một thức ăn (tôm ốc ngao sò sò, fruits à coque, những sản phẩm sữa…) hay một sâu bọ cánh màng (hyménoptère) (ong mật, ong vò vẽ, ong bầu, kiến), nhất là vào mùa hè. Hiếm hơn, một dòng những sản phẩm khác (thí dụ latex) là dị ứng nguyên. Một cách ngoại lệ các vaccin có thể là dị ứng nguyên (1 trường hợp trên 10.000).

Hỏi : Cơ chế sinh học của phản vệ và nguy cơ chính ?
GS Pascal Demoly : Phản vệ dị ứng xuất hiện thành hai thì : 1. Một tiếp xúc đầu tiên với dị ứng nguyên, không triệu chứng, gây cảm ứng người tiếp xúc bằng cách gây ở người này sự tiết của các kháng thể IgE (bởi những tế bào được gọi là tương bào»). Những tế bào này sẽ gắn vào vài tế bào miễn dịch được gọi là «mastocyte». 2. Trong một tiếp xúc thứ hai với dị ứng nguyên, dưới tác dụng của những IgE, nhung mastocyte phóng thích những lượng lớn những hoạt chất (nhất là histamine) có hai tác dụng : giãn các huyết quản và co thắt các phế quản. Version cực kỳ là choáng phản vệ, phối hợp trụy mạch và suy hô hấp cấp tính với suy yếu nhiều cơ quan. Người ta ước tính rằng khoảng 10% những choáng này dẫn đến tử vong. 3. một phản vệ không dị ứng (20% những trường hợp) cũng hiện hữu, ngộ độc (do quá liều) hay do sự rối loạn của các mastocyte.

Hỏi : Choáng phản vệ được điều trị như thế nào ?
GS Pascal Demoly : Điều trị duy nhất có giá trị là tiêm mông adrénaline. Nó tác động tức thời chống giãn huyết quản và làm tăng trương lực và chống lại sự co thắt của các phế quản và làm giãn nó. Ở những bệnh nhân có nguy cơ hay hay tổ bẩm, động tác cứu (được thực hiện xuyên qua một chiếc quần) là một auto-injection ở 1/3 ngoài của đùi bằng một stylo d’adrénaline. Có 3 liều : 0,15 mg ở trẻ em, 0,3 mg và 0,5 mg ở người lớn. Nếu không cải thiện trong 5 đến 10 phut, chúng phải được lập lại. Tuyệt đối tránh trước hết cho corticoides (tác dụng quá chậm) và chờ đợi xem điều xảy ra, như vài thầy thuốc thực hành tiếp tục làm như vậy. Nếu không có thầy thuốc hiện diện, hãy gọi 15. Đặt bệnh nhân trong tình trạng choáng nằm ngửa và và đưa hai cẳng chân lên không trong trường hợp hạ huyết áp nặng, đặt nghiêng bệnh nhân nếu bệnh nhân mửa, đặt bệnh nhân nửa ngồi nếu thở khó. Hãy tránh xa dị ứng nguyên nếu ta đã có thể nhận diện nó (côn trùng, thức ăn)

Hỏi : Còn trên bình diện phòng ngừa ?
GS Pascal Demoly : Đôi khi có thể thực hiện một giải mẫn cảm, nhất là chống lại những hyménoptère (100% chữa lành chống lại những vết dốt của ong bầu so với 80% chống lại những vết dốt của ong mật). Những người tố bẩm phải luôn luôn có nơi họ một stylo d’adrénaline. GS Pascal Demoly : Đôi khi có thể thực hiện một giải mẫn cảm, nhất là chống lại những hyménoptère (100% chữa lành chống lại những vết dốt của ong bầu so với 80% chống lại những vết dốt của ong mật). Những người tố bẩm phải luôn luôn có nơi họ một stylo d’adrénaline. Tôi kể 3 loại: Emerade, thực tiễn nhất (có một chiếc kim dài đảm bảo tiêm mông bằng một động tác duy nhất, với 3 liều có sẵn. Và hai loại khác : Jext và Epipen
(PARIS MATCH 9/6-15/6/2022)

IV. DARIDOREXANT : VŨ KHÍ MỚI CHỐNG MẤT NGỦ

Thuốc này đã được phát triển bởi những người Pháp (Martine và Jean-Paul Clozel) qua công ty Thụy sĩ Idorsia. Sự thương mãi hóa ở Hoa Kỳ, dưới tên gọi Quviviq (25 mg và 50 mg), vừa được chuẩn thuận bởi FDA. Đó không phải là một thuốc ngủ làm não tối sầm lại, mà là một sản phẩm cải tiến ức chế orexine, một kích thích tố kích thích sự thức tỉnh. Do đó một sự giảm những tác dụng phụ như trạng thái mơ màng (somnolence). Một nghiên cứu ở 1854 người trưởng thành được theo dõi trong 18 nước đã chứng tỏ giá trị của nó. Một phân tử tương tự của laboratoire Merck đã được chuẩn thuận ở Hoa Kỳ, ở Canada, ở Úc và ở Nhật.
(PARIS MATCH 9/6-15/6/2022)

V. LÀM SAO « HỒI SINH» NHỮNG CƠ QUAN ?
Những quá trình chết tế bào đã có thể đảo ngược một giờ sau một ngừng tim ở động vật.
PHYSIOLOGIE. Tim ngừng đập. Hô hấp và tuần hoàn máu ngừng lại, những cascade biochimique vận hành trong một cơ thể sống chậm lại, những tế bào chết dần. Sự chết của tế bào diễn ra như thế, quá trình mặc dầu từ từ, nhưng những hậu quả của nó trở nên không thể đảo ngược rất nhanh. Không thể đảo ngược, có thật không ? Những kỹ thuật hiện hữu để chữa tạm những suy tuần hoàn ở một bệnh nhân, thời gian để săn sóc hay, nếu ta không thể cứu bệnh nhân này, giữ gìn tốt nhất những cơ quan của bệnh nhân để chúng có thể trở nên những greffon fonctionnel. Nhưng chúng có những hạn chế của chúng, và phải được thực hiện trong những phút tiếp theo sau ngừng tim, bằng không, những thiệt hại là quá quan trọng. Một équipe của Đại học Yale vừa thực hiện một kỳ công, bằng cách hủy hay đảo ngược những quá trình tế bào, ngay cả một giờ sau khi chết. Những công trình được thực trên heo, mặc dầu sẽ không cho phép đánh thức dậy những người chết, nhưng đã có nhiều hứa hẹn để ghép các cơ quan. «Đó là cực kỳ đổi mới và làm phấn khởi», GS Laurent Papazian, thầy thuốc hồi sức ở Centre hospitalier Bastia-Aix-Marseille Université và chủ tịch của Société de réanimation de langue française, đã nói như vậy.

Được trình bày trong Nature, hệ thống được gọi là «OrganEx» nhằm tái lập tuần hoàn máu trong cơ thể (người ta nói là reperfusion) với máu của người được tái oxy hóa (réoxygéné), được lọc bởi dialyse và, nhất là, được trộn một nửa với một cocktail được phát minh bởi các tác giả. Cocktail này chứa 13 chất hóa học, vài chất đã được sử dụng ở ngườii (những chất kháng đông, một hémoglobine tổng hợp…) ; những hiệu chính khác ở Yale (trong đó có những hợp chất chống sự chết tế bào).
ISCHÉMIE
Đối với các tác giả, cuộc phiêu lưu đã bắt đầu cách nay nhiều năm, trong một thí nghiệm có những dáng vẻ của khoa học viễn tưởng…Vào năm 2019, trong Nature, họ kể lại đã «xử lý», với technologie của họ, não bộ của một con heo bị cắt đầu 4 giờ trước đó trong một abattoir…và đã thành công phục hồi vài chức năng tế bào ! Các nhà nghiên cứu của đại học Yale tự hỏi : nếu điều đó có thể thành công trong cơ quan này (não) không còn nhạy cảm với sự thiếu oxygène nữa (ta gọi là ischémie), thế thì ra sao với phần còn lại của cơ thể ? Trên thực hành, các nhà nghiên cứu đã gây nên một ngừng tim ở những con heo được gây mê trước đó rồi, sau một giờ ischémie ở một nhiệt độ 37 độ C, đã phân chúng thành ba nhóm. Đối với những con heo của nhóm đầu, họ không làm gì hết. Ở những động vật của hai nhóm kia, sự đặt những cathéter cho phép thiết đặt một circuit để rút máu ra rồi tiêm vào lại, sau khi đã xử lý máu hoặc bởi một kỹ thuật được sử dụng từ lâu ở người, Ecmo, trong đó máu được tái oxy hóa, hoặc bởi technologie OrganEx được dự kiến bởi các nhà nghiên cứu, trong đó máu được trộn với perfusat.

Trước hết các tác giả đã chứng thực rằng kỹ thuật của họ (OrganEx) cho phép một perfusion toàn bộ các cơ quan tốt hơn, trong khi Ecmo chỉ thành công một phần. Những tham số chuyển hóa như những nồng độ oxygène, tính acide của tế bào hay sự hấp thụ của glucose được điều chỉnh tốt hơn, trong khi sự cứng đờ và sắc tái mét sau chết (rigidité và lividité post mortem) hiện diện ở những động vật được điều trị bởi Ecmo đã không là như vậy ở nhóm được điều trị bởi OrganEx. Phân tích các tế bào của tim, của phổi, của gan, của thận và của tụy tạng đã cho thấy rằng những cơ quan này ít tổn hại hơn so với được điều trị bởi Ecmo, với ngay cả một sự phục hồi nào đó của những tổn hại bị trong giờ ischémie.Trái lại không một hoạt động não nào đã có thể được phát hiện ; nhưng những cử động không tự ý của đầu, của cổ và của thân mình đã xuất hiện khi tiêm vào trong động mạch cảnh một chất cản quang, một hiện tượng khó giải thích nhưng chỉ sự gìn giữ chức năng vận động «ít nhất ở tủy sống cổ và những rễ thần kinh của nó», các tác giả đã viết như vậy. Sau cùng, những phân tích di truyền đã cho thấy sự tồn tại của những cơ chế sửa chữa tế bào.Trong một thông cáo, một trong những tác giả ngay cả chỉ rằng dưới kính hiển vi, khó phát hiện những khác nhau giữa một cơ quan lành mạnh và một cơ quan được điều trị với OrganEx».
Những áp dụng tiềm năng của kỹ thuật này là nhiều, các tác giả đã nói như vậy, tuy nhiên vào lúc này họ vẫn thận trọng. Đó là gia tăng các cơ quan sẵn sàng để ghép, thường quá bị hỏng trong trường hợp chết vì ngừng tim mạch.

Đó là khá cách mạng, thực hiện nhiều ghép hơn với một thành công tốt hơn có một lợi ích quan trọng về mặt y tế cộng đồng ! ; Laurent Papazian đã chỉ như vậy. Những vị thầy thuốc nói : những kết quả được quan sát trong thời gian ngắn hạn phải được kiểm tra, với một sự tái tục chức năng của cơ quan được ghép nhanh hơn. Và đảm bảo rằng những sản phẩm được sử dụng dung nạp tốt bởi con người : trên bình diện sinh lý, tuần hoàn ở heo rất gần với tuần hoàn ở người ; nhưng trên bình diện tế bào, đó là chuyện khác…
Nhiên hậu, các tác giả nói, kỹ thuật cũng có thể được sử dụng trong hồi sức, nhất là nếu ta có được một sự phục hồi tốt hơn của não bị thương tổn. « Nhưng chú ý đừng gây nên những hy vọng hão ! GS Papazian đã nói như vậy. Vì lẽ rằng sẽ phải đảm bảo sự dung nạp tốt của các chất khi chúng được cho trong thời gian lâu : trong hồi sức, một Ecmo cho một suy yếu tim điều đó có thể kéo dài nhiều ngày, và đối với một suy yếu hô hấp nhiều tuần…»

Các công trình của các tác giả cho thấy bị đánh giá thấp năng lực của cơ thể của những động vật có vú lớn phục hồi những tham số huyết động và chuyển hóa sau một ngừng tuần hoàn hay một stress ischémique nghiêm trọng khác, và chỉ rằng sự chết của tế bào có thể được làm dừng lại. Có phải vì thế ta có thể cho rằng điều đó nêu lên rất nhiều câu hỏi, nhất là vấn đề muốn biết những détermiantions médicale và sinh học có sẽ phải được xét lại hay không, như một éthicien của Đại học New York đã chỉ như vậy trong một lời bình luận kèm theo ấn bản ? Chúng tôi còn xa, rất xa mới áp dụng kỹ thuật của chúng tôi trong hồi sức ở người, và chúng tôi không sửa chữa toàn bộ những tổn hại liên kết với ischémie, các tác giả đã lập lại như vậy trong một cuộc họp báo. Người ta tự biện, nhưng quả thật còn quá sớm để nghĩ đến những hậu quả này. Chúng tôi đã không phục hồi sự sống !
(LE FIGARO 4/8/2022)

VI. CUỘC CÁCH MẠNG CỦA NHỮNG GHÉP CƠ QUAN
Một greffon đã có thể được bảo tồn trong ba ngày, và được điều trị, trước khi được ghép vào lại trên một bệnh nhân.

TRANSPLANTATION. « Một cuộc chạy đua với thời gian », chính như thế mà các professionnel mô tả sự ghép cơ quan. 12 giờ đối với gan, 4 giờ đối với tim : thời hạn tối đa giữa lúc lấy (prélèvement) và lúc ghép lại (réimplantation) tùy thuộc vào cơ quan nhưng không bao giờ vượt quá vài giờ. Vượt quá, sự thiếu tưới máu và do đó thiếu oxygénation có thể làm tổn hại nó một cách không thể đảo ngược. Một khoảng thời gian rất ngắn trong đó các équipe phải gởi

mảnh ghép đến bệnh viện của người nhận (receveur), tổ chức một équipe và sửa soạn phòng mổ, ngày cũng như đêm. Thoát khỏi bó buộc này là một cuộc cách mạng.

Một équipe đa năng của Thụy Sĩ, được điều khiển bởi GS Pierre-Alain Clavien, chirurgien viscéral et digestif ở bệnh viện đại học Zurich, đã hiệu chính một máy cho phép bảo tồn một gan người ở nhiệt độ 37 độ C cho đến ba ngày trước khi ghép lại nó. Cuộc mồ đầu tiên với một mảnh ghép qua thiết bị đã thành công : một năm sau, bệnh nhân mạnh khỏe, các nhà khoa học báo cáo như vậy trong Nature Biotechnology.

Đối với cuộc thí nghiêm đầu tiên này, mảnh ghép đã được đặt trong máy, được định các tham số để tạo lại một số đáng kể những chức năng sinh lý giống hệt cơ thể : những áp lực động mạch và tĩnh mạch, thẩm tách nhân tạo để loại bỏ những độc chất được sản xuất bởi gan, tiêm insuline và glucagon để duy trì đường huyết…» Những kỹ sư ngay cả đã tưởng tượng một cái đệm di động trên đó gan nằm, để tạo lại những cử động của cơ hoành nếu không có như vậy vài mô sẽ hoại tử », GS Clavien đã nói như vậy.

Trong cái vỏ kén này, gan được giám sát một cách thường trực bởi những capteur. Cơ quan không những được duy trì trong một simulacre de vie, mà còn được điều trị bằng kháng sinh và thuốc chống nấm đối với nhiễm trùng mà người hiến đã mắc phải. Viêm mà gan có đã biến mất. Về khối u, nó đã tỏ ra hiền tính. « Đó là một lá gan bị chối bỏ bởi mọi người, nhưng thời gian mà máy mang lại đã cho phép khảo sát và sửa chữa nó », Pierre-Alain Clavien đã tóm tắt như vậy

Đối với lần thí nghiệm đầu tiên này, tuy vậy phần ẩn số vẫn cao, ông nhắc lại như vậy. « Chúng tôi đã tiến hành những thử nghiệm tiền lâm sàng trên các gan heo. Những gan này đã trụ được đến 12 ngày, nhưng ta không biết ở trong tình trạng nào cái gan người này vào lúc ghép. Những huyết quản, những đường mật như thế nào ? Thế mà không những tất cả vận hành tốt, chúng tôi còn có một lá gan tuyệt đối hoàn hảo, tương tự với lá gan của một người hiến sống.

TỪ BẢO QUẢN ĐẾN HỒI SỨC
Thí nghiệm, chưa từng thấy bao giờ, sẽ được lập lại trên 24 lá gan khác trong một thử nghiệm liên quan những bệnh viện khác, để tích lũy nhiều
dữ liệu hơn. Mộ cách song hành, máy được thích nghi với thận để một can thiệp đầu tiên có thể xảy ra một hơn một năm nữa. Nhiên hậu, tất cả các cơ quan có thể ghép có thể hưởng từ kỹ thuật này, Pierre-Alain Clavien đã đánh giá như vậy.

GS Benoit Averland, phó giám đốc prélèvement et greffe ở Agence de la biomédecine đánh giá : Ta chuyển từ sự bảo tồn cơ quan đơn thuần sang hồi sức, và những kết quả là tuyệt vời. GS Sébastien Dharancy (CHU de Lille), phụ trách hoạt động ghép trong vùng, phó thư ký của Société francophone de transplantation, đánh giá : « Một cách rõ ràng, điều đó có thể đánh dấu lịch sử của ghép cơ quan ».
Đối với những bệnh nhân, những triễn vọng là đáng phấn khởi. « Ta có thể, nhờ máy, cải thiện tình trạng các cơ quan cho đến khi chúng không đủ điều kiện để ghép, hay trắc nghiệm chúng khi chúng được đánh giá là « giới hạn », và như thế gia tăng dự trữ các cơ quan có thể lấy đểghép, Sébastien Dharancy đã giải thích như vậy. Thí dụ, vài điều trị, cho phép giảm thành phần mỡ của vài lá gan quá nhiều mỡ, có thể được thực hiện khi chúng đi qua thiết bị.

Đó cũng là lời hứa hẹn của một sự thay đổi tích cực đối với những professionnel. « Về mặt tổ chức và chất lượng làm việc, điều đó thay đổi tất cả. Những ghép có thể được lên chương trình trong ngày, với những équipe thư thái và một sự tiếp cận với những plateau technique đơn giản hơn », thầy thuốc chuyên khoa gan thành phố Lille đã tóm tắt như vậy.
« Trong lãnh vực ghép, thời gian là một yếu tố an toàn, và thiết bị này mang lại điều đó : đó là một tiến bộ thật sự, GS Benoit Averland theo cùng quan điểm. Equipe của GS Clavien đã khai thác và thích nghi một hệ thống với nhiều thông minh.» Thật vậy, những équipe ghép ở bệnh viện của Pháp đã có những máy cho phép perfuser một cơ quan rắn để cải thiện sự bảo quản nó trong thời gian giữa lúc lấy cơ quan và mổ. Điều đó ngay cả đối với vài quả thận, GS Averland đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng cuộc mổ này hiện nay được thực hiện trong một môi trường ở nhiệt độ khoảng 4 độ C. Thế mà lạnh, sau một thời gian nào đó, có thể gây nên trong cơ thể những thương tổn vào lúc revascularisationĐó là «ischémie froide », mà sự giảm đúng là một trong những mục tiêu của kế hoạch ghép hiện nay.
(LE FIGARO 12/6/2022)

VII. BỆNH CỦA NHỮNG ÁC MỘNG : NHỮNG ĐIỀU TRỊ
Tất cả con người đều làm những giấc mơ xấu, nhưng vấn đề này gây rối loạn ở vài người đến độ nó đòi hỏi một điều trị. Những lời giải thích bởi GS Isabelle Arnulf.

Hỏi : Bà hiểu thế nào những bệnh của các ác mộng (maladies des cauchemars) ?
GS Isabelle Arnulf. Nhắc lại một chút : giấc ngủ bình thường gồm 5 hay 6 chu ky khoảng 90 phút. Một chu kỳ bắt đầu giấc ngủ chậm nhẹ (sommeil lent léger), củng cố trí nhớ, được tiếp tục bởi giấc ngủ chậm sâu (sommeil lent profond), bồi sức vật lý (réparateur physique), và chấm dứt bởi giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal), giấc ngủ của những giấc mơ, cân bằng trạng thái tâm thần. Một cách sinh lý và trong giai đoạn nghịch lý, tất cả chúng ta làm những giấc mơ, được đánh dấu bởi những thème négatif (tình trạng không an toàn, thất bại, những đe dọa vật lý…) ; 2/3 của những giấc mơ của chúng ta là khó chịu ! Chúng ta gọi chúng là ác mộng khi chúng gây nên một sự thức dậy. Nhưng cũng có những ác mộng bệnh lý (cauchemar pathologique), biến đổi chất lượng sống do sự tái diễn hay những đặc điểm của chúng. Chúng có 4 loại. 1. Kinh sợ ban đêm (terreur nocturne) ảnh hưởng 2% những người trưởng thành, 17% những trẻ em và được truyền trong gia đình. Bệnh nhân có cảm giác bị chôn sống hay trần nhà rơi trên đầu, cái chết đang gần kề. Bệnh nhân kêu lên, ngồi nhổm dậy hay đứng dậy vừa hét lên, đôi mắt mở và hoảng sợ. Cơn ngắn ngủi, khoảng hai phút, nhưng khủng khiếp, đánh thức vào đầu đêm trong giấc ngủ chậm sâu. Một stress mới đây hay sự thiếu ngủ làm để sự xuất hiện của nó. 2. Rối loạn hành vi trong giấc ngủ nghịch lý ảnh hưởng 1% dân số, luôn luôn những người trên 50 tuổi, và rất thường những người bị bệnh Parkinson. Đó là một ác mộng kích động (cauchemar agité) trong khi nó không phải là như vậy vì lẽ trong giai đoạn này thân thể bình thường bị liệt dưới tác dụng ức chế của một trung tâm não (locus subcoeruleus), trong trường hợp này bị hỏng : bệnh nhân đấm đá, nói năng dung tục, thường té xuống giường. Bị tấn công bởi những kẻ tấn công hay những động vật nguy hiểm, bệnh nhân tự vệ và phản công. Con kéo dài khoang 10 phut. 3. Paralysie du sommeil (mọp đè) là một ác mộng không kích động (cauchemar sans agitation), xảy ra vào buổi sáng vào cuối giai đoạn nghịch lý. Một sự thiếu ngủ làm dễ sự xuất hiện. Người ngủ cảm thấy bị liệt, không có năng lực bỏ trốn, và cảm thấy những ảo giác (những kẻ lạ trong phòng, con qủy đè lên ngực). 4. Maladie des cauchemars nói riêng (5% dân số) gồm những ác mộng tái diễn, kéo dài, thường rất hung bạo (máu, cái chết của những người thân, treo cổ,…) giống với một phim kinh dị và sự lặp lại ảnh hưởng cuộc sống hàng ngày của nạn nhân (mất ngủ, mệt, những ý nghĩ đen tối).Khác với những ác mộng bệnh lý khác, một sự cố chấn thương tâm thần thường có thể nhận diện. Ác mộng không kích động này xảy ra trong giai đoạn nghịch lý, thường vào cuối đêm. Nếu một người trẻ và trầm cảm bị ác mộng không kích động này, nguy cơ tự tử là quan trọng. Khi đó đi khám nhan chồng một thầy thuốc tâm thần là điều mong muốn.

Hỏi : Cơ chế não gây những ác mộng là gì ?
GS Isabelle Arnulf. Cơ chế thắng thế hôm nay là giấc ngủ, ngoài cần thiết cho sự ghi nhớ, cho phép tiêu hóa những cảm xúc tiêu cực trong ngày ; những cảm xúc này đã được ghi bởi một trung tâm não mà ta gọi là amygdale. Trong giấc ngủ nghịch lý, cường độ của những cảm xúc này bị xuống cấp và được tái xử lý bởi vỏ não trán, có thể ngay cả làm tiêu tan chúng : désensibilisation này đảm bảo sự thăng bằng tâm thần của chúng ta. Những người đã trải nghiệm những sự cố khủng khiếp, tiêu hóa kém những cảm xúc mạnh hay ngủ kém, bị thức dậy nhiều hơn trước khi đã tiêu hóa hoàn toàn những nỗi sợ của họ

Hỏi : Con về điều trị thì sao ?
GS Isabelle Arnulf. Điều trị tùy thuộc vào loại ác mộng. 1. Những kinh sợ ban đêm (terreur nocturne) được cải thiện bằng cách làm giảm nợ ngủ (những đêm dài hơn, ngủ trưa, thư giãn thân thể, hypnose). 2. Rối loạn hành vi trong giấc ngủ nghịch lý đáp ứng với sự sử dụng mélatonine và những thuốc khác (clonazépam). 3. Paralysie du sommeil được cải thiện bằng cách sửa chữa nợ ngủ và bằng cách tránh ngủ nằm ngửa. 4. Maladie des cauchemars được điều trị bằng cách lặp lại một imagerie mentale, nhắm mắt buổi sáng và buổi chiều lúc đi ngủ, điều này biến đổi bằng thị giác kịch bản của ác mộng và cho nó một kết thúc thuận lợi. Khuyên viết kịch bản này. Toàn bộ, 70% những rối loạn khác nhau này có thể được chữa lành.
(PARIS MATCH 21-27/7/2022)
 Đọc thêm :
– TSYH số 515 : bài số 9
– TSYH số 420 : bài số 10 (cauchemar)
– TSYH so 419 : bài số 9 và 10 (cauchemar)

VIII. VÔ SINH : KIỂM ĐIỂM TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
Nam giới hay nữ giới, chứng vô sinh (infertilité) rất thường gặp và là nguồn của lo âu. Nó đòi hỏi một điều trị thích ứng. Những giải thích bởi GS Blandine Courbiere.

Hỏi : Vô sinh (infertilité) và tiệt sản (stérilité) là đồng nghĩa ?
GS Blandine Courbiere. Không. Tiệt sản (stérilité) là một điều chứng thực (constat) : đã không thể sinh đẻ trong đời sống sinh sản của mình mặc dầu ta đã cố để đạt được điều đó. Vô sinh (infertilité), được định nghĩa bởi OMS, là sự kiện đã không thụ thai một đứa bé trong 12 tháng tiếp theo một projet parental, mặc dầu những giao hợp đều đặn (ít nhất hai hay bạ mỗi tuần) và không dùng biện pháp ngừa thai. Trước tuổi 30 đối với phụ nữ, 75% đôi lứa thụ thai trong 12 tháng, trong khi ở tuổi 40, chỉ 44% sẽ đạt được điều đó. Nếu không ở trong những kỳ hạn này hay trong trường hợp có những tiền sử y khoa ảnh hưởng sự thụ thai (thí dụ một nhiễm trùng của các vòi trứng), khuyến nghị đi khám còn sớm hơn và sau 6 tháng chỉ ở những phụ nữ trên 35 tuổi.

Hỏi : Vô sinh ở Pháp có thường gặp không ?
GS Blandine Courbiere : Vâng. Nó liên quan 3,3 triệu phụ nữ và đàn ông : một cặp trên bốn khi các phụ nữ dưới 30 tuổi, một trên ba khi người đàn bà đã 35 tuổi, một trên hai khi người phụ nữ 40 tuổi. Tuổi của người đàn bà là yếu tố quan trọng nhất. Tần số của vô sinh đã gia tăng một cách liên tục ở Pháp từ 40 năm nay, trong khi tuổi trung bình của maternité đã lùi lại 5 năm. Những lý do :
1. Số phụ nữ dấn thân vào trong những hoạt động nghề nghiệp ngày càng gia tăng.
2. Ngừa thai, đã làm giảm tỷ lệ mắc phải những thai nghén ngoài ý muốn (grossesses non désirées).
3. Sự tiếp cận với IVG, cho phép gián đoạn một thai nghén bắt đầu.
4. Một sự suy giảm mong muốn có con, trở nên có thể thấy được ở những phụ nữ dưới 30 tuổi.
5. Lối sống (hút thuốc và/hay uống rượu quá nhiều, có hại khi vượt quá 5 ly mỗi ngày ở phụ nữ).
6. Vai trò của ô nhiễm và những perturbateur endocrinien, khó xác định hơn.
7. Những rối loạn tình dục, đôi khi. Trong 40% đến 70% những trường hợp, vô sinh liên kết với đàn ông cũng như với đàn bà.

Hỏi : Những nguyên nhân nào của vô sinh phụ nữ và bilan cần thực hiện ?
GS Blandine Courbiere. Ngoài yếu tố tự nhiên của tuổi tác (giảm khả năng sinh đẻ sau 30 tuổi), những nguyên nhân thường gặp nhất có thể là : 1. Kích thích tố, ảnh hưởng sự rụng trứng (syndrome des ovaires polykystiques, giảm sớm dự trữ buồng trứng), hiếm hơn một bệnh lý nội tiết nguồn gốc trung ương (axe hypothalamo-hypophysaire). 2. Cơ học, do những chướng ngại ở những vòi trứng (những tiền sử nhiễm trùng sinh dục, endométriose) hay xoang tử cung (polype, fibrome, dị dạng, synéchie). Bilan ban đầu có thể được thực hiện bởi thầy thuốc điều trị hay thầy thuốc phụ khoa. Nó gồm có một định lượng hormone phản ánh hoạt động buồng trứng, một siêu âm chậu nhìn thấy tử cung và những buồng trứng, một chụp hình ảnh của những vòi trứng, một bilan préconceptionnel (sérologie infectieuse, kiểm tra các vaccin).

Hỏi : Thế còn ở đàn ông ?
GS Blandine Courbiere. Đó là những bất thường của sự sinh tinh trùng (spermatogenèse). Chúng ảnh hưởng số lượng các tinh trùng trong một éjaculat (dưới 40 triệu), và/hoặc chất lượng của chúng (tính di động), và/hoặc hình thái học. Nguyên nhân : những yếu tố độc (thuốc lá, rượu), những tiếp xúc quá mức với nhiệt (vài nghề nghiệp, thể thao cật lực), những bệnh lý làm rối loạn sự chế tạo các tinh trùng (những nhiễm trùng niệu sinh dục, malposition của các tinh hoàn, giãn tĩnh mạch thừng tinh varicocèle). Bilan ban đầu gồm một spermogramme với cấy tinh dịch (tìm một nhiễm trùng) được thực hiện trong một phòng xét nghiệm chuyên môn.

Hỏi : Kết luận ?
GS Blandine Courbiere. Mọi bất thường của bilan ban đầu phải khiến đi khám không chậm trễ một thầy thuốc về sinh sản. Sựthành công của những kỹ thuật assistance médicale à la procréation (sự thụ tinh trong tử cung, sự thụ tinh trong ống nghiệm, hiến giao tử, tiếp nhận phôi) là rất phụ thuộc vào tuổi tác, lối sống và một sự điều trị thích ứng với mỗi trường hợp.
(PARIS MATCH 7/7-13/7/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 344 : bài số 1, 2, 3, 4, 5
– TSYH số 307 : bài số 8

IX. SỰ NGUY HIỂM CỦA THUỐC TRỪ SÂU : NHỮNG NGUY CƠ NÀO ?
Những chất này góp phần vào sự sản xuất thực phẩm của chúng ta, nhưng chúng có thể nguy hiểm. Phải ghi nhớ gì ?

Hỏi : Thuật ngữ « chất trừ sâu bệnh » (pesticide) một cách chính xác che dấu gì ?
GS Xavier Coumoul. Một tập hợp của cac chất được sử dụng để phá hủy, đẩy lùi hay kiểm soát tác dụng của những sinh vật khác nhau, được những người sử dụng xem như có hại. Điều đó bao gồm những thuốc trừ sâu (insecticide) (chống muỗi vecteur truyền bệnh), những thuốc diệt cỏ dại (herbicide), những thuốc chống nấm mốc (fongicide), những thuốc chống các ký sinh trùng (parasiticide)  Nhiều chất, được dùng, trong nông nghiệp (épandage), để săn sóc và bảo vệ cây cối, trong thời gian ngắn hạn. Trong thời gian dài hạn, vì một độc tính riêng cho chúng, chúng có thể ảnh hưởng biodiversité của những hệ sinh thái và làm hại sức khỏe. Union fédérale des consommateurs mới đây đã công bố những kết quả của 14.000 contrôle officiel được thực hiện bởi Anses (Agence nationale de sécurité sanitaire), cho thấy rằng một nửa những thức ăn, nhất là những trái cây, rau xanh và ngũ cốc, chứa những chất trừ sâu bệnh, mà không dưới 150 bị nghi ngờ gây ung thư hay tác động như những perturbateur endocrinien ; 10% dân chúng tiêu thụ, ở vài lúc của năm, một nước robinet với những chất bã hóa học, không phù hợp với quy định. Sự đánh giá nghiêm túc nguy cơ đòi hỏi tập hợp :
1. Những expologue : đo trong điều kiện thực sự tiếp xúc với một chất trừ sâu bệnh nhất định
2. Những nhà dịch tễ học : để tìm kiếm trong những population humaine những liên kết giữa một chất nhất định và một bệnh
3. Những chuyên viên nghiên cứu chất độc (toxicologue) : để định rõ những ngưỡng nguy cơ. Chỉ tổng số của những compétence này mới cho phép xác định một liên hệ mạnh, thậm chí nhân quả. Đó là phương pháp của Inserm qua hai expertise lớn được công bố vào năm 2013 và 2021.

Hỏi : Biên bản giám định mới nhất là gì ?
GS Xavie Coumoul : Biên bản giám định mới nhất là ở chỗ sưu tập hơn 5300 nghiên cứu quốc tế. Những công trình đã được thực hiện trên một số lớn những bệnh lý và nhắm vào những nông gia, những người sống ven những vùng nông nghiệp và những quần thể dễ bị thương tổn (những trẻ em và phụ nữ có thai). Những quần thể bị phơi nhiễm về mặt nghề nghiệp, tiếp xúc với những nồng độ cao của chất trừ sâu bệnh, mà ta có thể biết tần số và cường độ sử dụng, là cho nhiều thông tin nhất. Nhiều suy đoán đã được xác lập, nhất là một mối liên hệ giữa chlordécone (được sử dụng chống sâu bọ cánh cứng của các cây chuối) và ung thư của tiền liệt tuyến, giữa những sản phẩm phospho hữu cơ và lymphome non hodgkinien và/hay sự xuất hiện của những trouble cognitif, cũng như giữa những thuốc trừ sâu khác nhau và những bệnh lý đa dạng như bệnh Parkinson, myélome và vài bệnh phổi mãn tính.

Ở những trẻ em có thể bị phơi nhiễm trong tử cung hay trong môi trường của họ, những suy đoán về những liên hệ với leucémie, những u của hệ thần kinh và những rối loạn của sự phát triển neuropsychologique đã được chứng thực. 

Hỏi : Còn về nguy cơ nhiễm độc đối với toàn dân ?
GS Xavie Coumoul : Những chuẩn được cho phép đối với mỗi thuốc trừ sầu riêng lẻ và mỗi produit alimentaire hiếm khi bị vượt quá. Nhưng điều đó dễ đánh lừa, bởi vì, trong thực tế môi trường, luôn luôn có những pha trộn. Đánh giá mối nguy hiểm này, xét vì số vô tận của những pha trộn, là không thể thực hiện. Thí dụ, một cây táo nhận khoảng 30 xử lý mỗi năm. Sẽ vẫn còn trên vỏ của quả táo 5-10 chất trừ sâu bệnh có thể có một tác dụng cộng lực và tích lũy tiềm năng nguy hiểm. Vàichất trừ sâu bệnh được gọi là systémique, có thể đi vào trong thịt của một trái cây. Những chất trừ sâu bệnh khác, như chlordécone, làm ô nhiễm đất, nước, môi trường, nhưng không chính trái chuối. Chính người nông dân và những người dân của vùng khi đó bị đe dọa.

Hỏi : Thế thì phải làm gì ?
GS Xavie Coumoul : Tôi khuyên hạn chế sử dụng trong gia đình những thuốc trừ sâu (nhất là nếu ta có những trẻ em), không xử lý những vườn rau (trừ với những sản phẩm sinh học), thích hơn alimentation bio, rất được kiểm soát (những thuốc trừ sâu tổng hợp bị cấm đối với cách sản xuất này), mua tươi và tiêu thụ nhung produit de saison (khi đó những nhu cầu thuốc trừ sâu được giảm), rửa rau xanh, bóc vỏ những trái cây, sau cùng thay đổi những sản phẩm mà ta ăn để không cô đọng những độc chất.
(PARIS MATCH 12/5-18/5/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 491 : bài số1, 2

X. BILAN TIỀN SINH : TẠI SAO ? KHI NÀO ? THẾ NÀO ?
Nó cho phép kiểm soát sự tăng trưởng của thai nhi, nhưng cũng phát hiện một căn bệnh nặng của trẻ em trong tử cung. Một phòng ngừa cần thiết.

Hỏi : Ta hiểu gì bilan prénatal ?
GS Alexandra Benachi. Sự nối tiếp nhau của hai giai đoạn khả dĩ. Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn của dépistage prénatal gồm những thăm dò thường quy, được đề nghị cho tất cả những bà mẹ tương lai. Giai đoạn thứ hai, giai đoạn của chẩn đoán tiền sinh (diagnostic prénatal), chỉ được sử dụng khi một bất thường được nghi ngờ ở thai nhi.

Hỏi : Dépistage prénatal kiểm chứng điều gì ?
GS Alexandra Benachi.
1. Ba siêu âm được khuyến nghị giữa 11-13, 21-24 và 32-34 tuần mất kinh. Mục đích của chúng là kiểm soát sự tăng trưởng của thai nhi, vitalité và hình thái học của nó.

2. Dépistage trisomie 21, bệnh di truyền thường gặp nhất, được đề nghị nhưng không bắt buộc. Nó dựa trên sự tính một score prédictif, bao gồm đo gáy của thai nhi lúc làm siêu âm lần thứ nhất, tuổi của người mẹ và vài chỉ dấu máu. Tùy theo kết quả, những test khác được đề nghị.
3. Những sérologie maternelle bắt buộc nhằm tìm kiếm những nhiễm trùng (rubéole, toxoplasmose) có thể là nguồn của những malformation foetale, nhất là não, hay của những lây nhiễm của thai nhi (giang mai, VIH, viêm gan B và C).

Sự thích đáng của dépistage du cytomégalovirus vẫn được bàn cãi. Nguy cơ của Sars-Cov-2 (kể cả những biến thể) là gây nên ở người mẹ những nhiễm trùng nặng nguồn gốc của những sinh non, do đó lợi ích của tiêm chủng tất cả những phụ nữ có thai.
4. Một sự tương kỵ mẹ-thai nhi (incompatibilité foeto-maternelle) về những nhóm máu (test bắt buộc). Nguy cơ là gây nên ở thai nhi một thiếu máu do những kháng thể của người mẹ đi qua nhau chống lại những hồng cầu của thai nhi.

Hỏi : Chẩn đoán tiền sinh gồm những gì ?
GS Alexandra Benachi. Nó liên quan khoảng 3% của tất cả những thai nghén ở Pháp. Mục tiêu của chẩn đoán tiềnsinh là xác nhận chẩn đoán bệnh của thai nhi và đánh giá tiên lượng để cho cha mẹ tương lai khả năng thực hiện một interruption médicale de grossesse (7000 trường hợp mỗi năm) nếu bệnh di truyền hay dị dạng bẩm sinh đặc biệt nghiêm trọng và không thể chữa lành, hay trái lại tiếp tục thai nghén khi một điều trị nội khoa hay ngoại khoa của bệnh lý được phát hiện có thể thực hiện. Chẩn đoán tiền sinh gồm có :1. Một siêu âm kiểm tra, được thực hiện bởi một thầy thuốc thực hành xác nhận chẩn đoán và đánh giá tiên lượng. IRM đôi khi hữu ích. 2. Thường nhất một phân tích các nhiễm sắc thể của thai nhi được đề nghị để tìm kiếm một trisomie (3 nhiễm sắc thể thay vì 2), một khuyết đoạn (délétion) (thiếu một đoạn nhiễm sắc thể) hay một duplication (đoạn nhiễm sắc thể thừa). Phân tích có thể được thực hiện trước 14 tuần bằng một sinh thiết của trophoblaste (nhau tương lai) hay bắt đầu từ15 tuần bằng amniocentèse (hút dịch ối). Những prélèvement này được thực hiện bằng chọc nhanh bằng kim và ít đau, được hướng dẫn bởi siêu âm, với một nguy cơ sẩy thai thấp (<1%). 3. Đôi khi bệnh được phát hiện có thể chữa lành trong tử cung : bằng cách truyền máu thai nhi thiếu máu, bằng cách đặt một drain trong trường hợp tràn dịch màng phổi, bằng cách đặt một quả bóng nhỏ (ballonnet) trong khí quản trọng trường hợp thoát vị vòm cơ hoành (hernie de la coupole diaphragmatique), bằng cách sữa chữa ngoại khoa trực tiếp hay bằng soi thai nhi (foetoscopie) trong trường hợp spina bifida (thoát vị tủy sống ngoài cột sống),..

Hỏi : Có những tiến bộ trong lãnh vực chẩn đoán ?
GS Alexandra Benachi. Vâng, đối với phát hiện trisomie (nhất là 21) và của vài bệnh di truyền khác hiếm hơn từ một lấy máu của người mẹ ; điều đó tránh những prélèvement invasif ở thai nhi. Điều được phân tích là ADN thai nhi. Nó phát xuất từ nhau và lưu thông với lưnợg thấp ở người mẹ. Trắc nghiệm này rất đáng tin cậy để phát hiện trisomie 21, hơi ít hơn đối với những bất thường khác của nhiễm sắc thể. Một kết quả bất thường phải luôn được kiểm tra bởi một amniocentèse.
(PARIS MATCH 14/4-20/4/2022)
 
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/8/2022)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s