Thời sự y học số 606 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I. CHỐNG MỤN, KIÊN NHẪN VÀ DÀI LÂU

Những điều trị hiện hữu, nhưng chúng đòi hỏi kỷ luật và sự kiên trì. Những đặc tính không dễ dàng huy động ở tuổi thiếu niên.

 (Acné vulgaire du front)

DERMATOLOGIE. Săn sóc đầu tiên, đó là điều trị da một cách hết sức nhẹ nhàng, GS Brigitte Dréno, dermatologue ở CHU de Nantes đã nhấn mạnh như vậy. Mọi can thiệp có thể làm đảo lộn biotope và gây nên những rối loạn như bệnh mụn trứng cá (acné). Và trong số những rối loạn này, thời kỳ dậy thì là cơn bão đầu tiên, khi đó da phải thích nghi với những đợt kích thích tố đôi khi thất thường : 80% những thiếu niên trên thế giới, bị mụn trứng cá !
Đối với đa số các thiếu niên, những thương tổn không nhiều và hoàn toàn có thể chấp nhận, nhưng trong 15% các trường hợp, mụn gây một sự khó chịu đáng kể, trở nên không thể chịu được trong 5% các trường hợp. Khi đó điều quan trọng là đi khám một thầy thuốc để can thiệp một cách nhanh chóng và làm giảm bớt những ảnh hưởng xã hội tâm lý, đôi khi rất quan trọng của mụn. Đứng trước một mụn đặc biệt nghiêm trọng hay đề kháng với những điều trị, một hỗ trợ tâm lý phải được đề nghị một cách hệ thống.
Mụn trứng cá là kết quả của một sự tiết quá quan trọng của bã nhờn (sébum), một dịch mỡ được sản xuất bởi các tuyến lông-bã (glande pilosébacée), tạo thành một phim bảo vệ trên da. Nhưng khi nó được sản xuất với những lượng quá lớn, bã nhờn tích tụ trong ống bài tiết của các tuyến lông-bã, điều này là nguồn gốc của mụn trứng cá.

Ngay khi xuất hiện những điểm đen hay trắng (point noir ou blanc) đầu tiên, có thể giúp da loại bỏ sự thặng dư bã nhờn này bằng cách theo phản xạ tốt nettoyage-hydratation trước khi đi ngủ. « Chú ý đúng sử dụng những san pham quá hung han đối với da, khi đó da sẽ tự vệ bằng cách sản xuất còn nhiều ba nhon hơn, GS Dreno đã nhắc lại như vậy. Tất cả những động tác phải bình tĩnh và dịu dàng, để tránh sự cọ xát, cũng làm phát khởi một phản xạ phòng vệ của da. » Vậy phải ưu tiên một savon doux pharmacologique và một crème hydratante fluide không sinh comédon và pH gần với pH của da (pH 5,5). Ngay khi mặt trời chiếu sáng, phải thêm vào, ngay buổi sáng, một crème solaire không sinh comédon để bảo vệ chống lại tác dụng hung hãn của ánh nắng mặt trời, gây một cách hệ thống một sự nặng thêm của mụn nếu da không thể thích nghi điều đó một cách dịu dàng.

Những rituel de soins này sẽ hữu ích dầu giai đoạn tiến triển hay mức độ nghiêm trọng của mụn là gì, và ở mọi lứa tuổi : sự kiên trì là thiết yếu để hấp thụ những va chạm mà da có thể đáp trả một cách đột ngột. Những phản xạ tốt này ngay cả có thể đủ để làm giảm tác dụng của những đợt kích thích tố sinh dục kích thích những tuyến bã ở thời kỳ thiếu niên.

Khi mụn là nghiêm trọng và/hay khi nguy cơ sẹo tăng cao, những điều trị mạnh hơn có thể được sử dụng. Những crème, chứa peroxyde de benzoyle hay rétinoides, giúp điều hòa sự sản xuất bã nhờn và sự tăng sinh vi khuẩn, với điều kiện được đặt một cách nhẹ nhàng và không quá mức trên toàn thể mặt. Nếu sau ít nhất hai tháng sử dụng kỹ và đều đặn những điều trị tại chỗ không đủ hay nếu những thương tổn lan rộng đến những vùng khó điều trị tại chỗ, chúng có thể được phối hợp với những kháng sinh bằng đường miệng, cần sử dụng trong nhiều tháng và cho đến cuối điều trị để tránh sự xuất hiện của những đề kháng. Đối với các thiếu nữ, contraception orale thế hệ thứ ba hay bốn cũng có thể được sử dụng liên kết với những điều trị tại chỗ để điều hòa hoạt động của kích thích tố, đặc biệt khi mụn được liên kết với một sự sản xuất qua mức của testostérone, thường nguồn gốc gia đình.

KIÊN TRÌ VÀ KỶ LUẬT
Nếu những điều trị này thất bại sau ba tháng, trước hết ta tìm kiếm những yếu tố ngoại tại nào có thể nhập cuộc, GS Dréno đã giải thích như vậy. Rất thường, ta tìm thấy những phản xạ thẩm mỹ xấu, stress, một môi trường hung hãn, một chế độ ăn uống quá nhiều đường hay vài loại thuốc. » Nếu không phải là như vậy, các thầy thuốc có thể kê đơn isotrétinoine, một điều trị rất hiệu quả và không có tác dụng dội ngược. Nhưng 85% những người sử dụng chịu những tác dụng phụ khó chịu, như sự khô quá mức của da và của những niêm mạc. Ngoài ra, ở con gái, điều trị với isotrétinoine buộc phải liên kết với một contraception orale và một trắc nghiệm thai nghén mỗi tháng bởi vì thuốc này gây nên những biến dạng nghiêm trọng của thai nhi. Vậy, trai hay gái, sự kê đơn isorétinoine phải được lập lại mỗi tháng, điều này cho phép đánh giá những tác dụng phụ của nó. Đặc biệt lên tình trạng tâm lý : nhiều bệnh nhân đã báo cáo một trạng thái trầm cảm và những tư tưởng tự tử gia tăng với điều trị này. Mặc dầu những bất tiện này, hôm nay isotrétinoine vẫn là điều trị duy nhất đối với những mụn trứng cá ngoan cố, lan tràn, và/hoặc có nguy cơ cao gây những vết sẹo thường trực. Sự gia tăng hiện nay của mụn được quan sát ở những người trưởng thành trẻ có thể gia tốc sự hiệu chính những biện pháp thay thế được dung nạp tốt hơn.

Vậy nhiều giải pháp hiện hữu để làm giảm mụn và những hậu quả của nó, nhưng tất các những điều trị hiệu quả đòi hỏi kiên nhẫn, kỷ luật và kiên trì, những tính chất không dễ huy động ở lứa tuổi thiếu niên. Nhằm tìm kiếm một giải pháp nhanh, ở một lứa tuổi dễ bị tổn thương, như thế các bệnh nhân bất hạnh thay là một đích đặc biệt dễ dàng cho những giải pháp nhiệm màu, không những không hiệu quả, nhưng cũng có thể làm trầm trọng và kéo dài một cách vô ích sự đau khổ của họ.
(LE FIGARO 4/4/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 515 : bài số 6 (vaccin)
– TSYH số 512 : bài số 10
– TSYH số 414 : bài số 9
– TSYH số 402 : bài số 1
– TSYH số 342 : bài số 1, 2, 3


Khi Juliette thấy xuất hiện những mụn đầu tiên trên gương mặt của mình, vào lúc 14 tuổi, cô không lo ngại. Cảm thấy khá khỏe, cô thiếu nữ tự bảo rằng đó là một bước chuyển bắt buộc, nhưng điều này sẽ không ngăn cản cô tận hưởng hưởng thời kỳ thiếu niên của mình, nhất là khi mẹ và các cô của Juliette đã không giữ một kỷ niệm xấu về điều đó. Nhưng hai năm sau, những mụn vẫn luôn luôn ở đó, để vết lại toàn cả mặt và để lại những vết sẹo thường xuyên. Những điều trị tại chỗ dường như không hiệu quả và thầy thuốc bệnh ngoại đã từ chối kê đơn một thuốc uống ngừa thai thích ứng bởi vì Juliette hút thuốc.
Buổi tựu trường tháng chín luôn luôn là một bước chuyển đặc biệt khó khăn, vào lúc năm học diễn ra. Sự thất bại của những điều trị thông thường là rỏ ràng, thầy thuốc bệnh ngoài da kê toa isotrétinoine bởi vì các sẹo gia tăng. Sau một tháng, mặc dầu các mụn dường như buông ra, nhưng Juliette cảm thấy vô cùng khó chịu, điều này hoàn toàn không bình thường đối với cô. Cô hỏi ý kiến thầy thuốc : phải dùng isotrétinoine, liên kết ở vài bệnh nhân với những trạng thái trầm cảm. Juliette rất nhanh lấy lại sự vui tính và tự bảo rằng một khi cô ra khỏi tuổi thiếu niên, và khi đó sẽ khỏi bị mụn, và rằng bây giờ cô có thể làm một cố gắng nhỏ. Nhưng 10 năm sau, những kỳ nghỉ hè đối với cô luôn luôn có một ít vị đắng bởi vì cô biết rằng lúc trở lại, cô sẽ chịu một đợt mụn trứng cá để lại những vết sẹo mới. Với coronavirus và các khẩu trang, những mụn xuất hiện trong năm và sự trầm cảm tái xuất hiện. Juliette tìm một thầy thuốc bệnh ngoài da mới, kê đơn cho cô một thuốc ngừa thai thế hệ mới nhất với những điều trị tại chỗ và thiết lập một mối liên hệ tin cậy với cô để khiến cô ngừng hút thuốc. Lần này, cô chắc chắn điều đó, cô sẽ thành công, nhất là khi những nốt mụn đã hoàn toàn biến mất. Trái lại, điếu thuốc điện tử (cigarette électronique) không rời cô nữa…
(LE FIGARO 4/4/2022)

III. HÀNH ĐỘNG SỚM CHỪNG NÀO CÓ THỂ VÀ COI CHỪNG CÁC MỸ PHẨM ĐỂ TRÁNH CÁC SẸO

(Acné vulgaire, cicatrices du dos)

«Ta càng chờ đợi, càng khó cải thiện những sẹo, có nguy cơ tiến triển thành một xơ hóa (fibrose), BS François Michel, dermatologue ở centre thermal de Vichy, đã nhấn mạnh như vậy. Vài điều trị ngay cả cho phép làm giảm bớt sự xuất hiện của chúng.» Những vết sẹo của mụn trứng cá xuất hiện chủ yếu trong những thể viêm, khi các lỗ chân lông bị nhiễm hay tạo những nốt (nodule).

Đối với những da có màu rất nhạt, chủ yếu những ban đỏ tồn tại và đối với những da sẫm màu hơn, những đốm (tache) và những vùng tăng nhiễm sắc tố (zone d’hyperpigmentation). « Những điều trị tại chỗ của mụn trứng cá, dựa vào rétinoine, có một tác dụng làm láng và hơi làm sáng, BS Michel đã nhấn mạnh như vậy. Vậy phải ưu tiên sử dụng chúng nếu có một nguy cơ bị các sẹo. » Hơi kích thích, những crème này không thể được sử dụng cùng lúc với isotrétinoine, nhưng chúng hữu ích ngay khi sử khô giảm xuống sau điều trị. Chúng cũng hơi ít tốn kém và vẫn là giải pháp duy nhất chống sẹo được đảm nhận bởi assurance-maladie. Tuy vậy chúng không thể điều trị tất cả những sẹo sâu để lại bởi các nodule. Những nốt này có thể được giảm nhẹ bởi ngoại khoa với phí tổn của bệnh nhân.
VAI TRÒ LÀM NẶNG CỦA ĐƯỜNG
Cũng có thể làm giảm nguy cơ bị các vết sẹo ngay những triệu chứng đầu tiền bằng cách tránh không để các lỗ chân lông vẫn bị viêm hay bị tắc quá lâu, điều này cho phép giảm mức độ nghiêm trọng của mụn. Vài phản xạ tốt cho phép tránh vòngcủa các biến chứng của mụn, nhất là với các mỹ phẩm (cosmétiques)
Đồ son phấn (maquillage) vẫn phải nhẹ, nhất là không fond de teint và nhất là không phấn, BS Michel đã nhấn mạnh nhu vậy. Nếu ta không thể thiếu chúng, phải ưu tiên những kem có màu nhạt (crème teintée) rất lỏng, không sinh comédon, và không dùng mỗi ngày. » Đồ son phấn phải được loại bỏ một cách cẩn thận mỗi chiều bằng những sản phẩm rất diu, không cồn, không chất tẩy sạch mỡ (dégraissant), không thuốc sát trùng. Da phải được hydraté bằng các crème fluide, không mỡ và không sinh comédon. Chú ý những produit bio thường làm dễ mụn và những sản phẩm này còn cần phải được cải thiện trước khi hữu ích đối với loại da này.Còn các cháu trai, tuyệt đối phải tránh cọ xát da một cách không dịu dàng với xà phòng hay những gel douche irritant

Còn chế độ ăn uống, các nghiên cứu chỉ xác nhận vài trò làm nặng của đường lên mụn, nhất là những snack và những đồ uống đường, và hiệu quả tích cực của một chế độ ăn uống nhiều trái cây và rau xanh. Sau cùng, mặc dầu vai trò của thuốc lá vẫn còn được tranh cãi, nhưng ảnh hưởng âm tính của nó được xác nhận đối với những bệnh lý khác.
(LE FIGARO 4/4/2022)

IV. NGHIÊN CỨU CỐ XÁC ĐỊNH TỐT HƠN CĂN BỆNH ĐỂ ĐIỀU TRỊ TỐT HƠN
Nếu hơn 80% quần thể thiếu niên trên thế giới bị ảnh hưởng bởi chứng mụn trứng cá này, thì phải chăng đó là một căn bệnh hay chỉ là một thời kỳ xấu phải trải nghiệm ? Các chuyên gia và các bệnh nhân nhất trí nói rằng những ảnh hưởng lên chất lượng của cuộc sống đủđể biện minh một điều trị, dầu ta nói đó là bệnh hay không. Tuy vậy sự chậm trễ của nghiên cứu trong lãnh vực này có thể phát xuất từ sự lờ mờ ngữ nghĩa này : không thể hiệu chính những điều trị được chuẩn nhận bởi khoa học khi chính định nghĩa của căn bệnh và những triệu chứng của nó không rõ ràng.

Một nghiên cứu mới đây, nhằm đánh giá một tập hợp lớn các tài liệu xuất bản về ánh sáng xanh (lumière bleue) chống mụn, kết luận rằng kỹ thuật dường như hữu ích đồng thời công nhận rằng những công trình không thể thật sự được so sánh bởi vì những kết quả được nhắm đến không tương đương..Nếu không có những tiêu chuẩn cải thiện khách quan và có thể lập lại, thật khó xác lập tính hiệu quả của một điều trị một cách nghiêm túc.
Tuy nhiên các chuyên gia tiến bộ trong sự thông hiểu về sinh bệnh lý của căn bệnh, bằng cách quan tâm nhất là đến những yếu tố nguy cơ. Một nghiên cứu được công bo vào tháng hai trong Nature communication thiết lập một danh sách 46 gène liên kết với mụn, trong đó vài gène được tìm thấy trong những thể nặng nhất và những thể gia đình. Vài trong số những gène này được tìm thấy trong những bệnh lý da khác, mà những điều trị có thể được mở rộng cho bệnh mụn.

NHỮNG CƠ CHẾ VIÊM
Hướng nghiên cứu khác, sự nhận diện những vi khuẩn liên kết với những bội nhiễm và viêm mụn (inflammation acnéique) mới đây đã cho phép chứng minh rằng chính da, qua trung gian của các fibroblaste, sản sinh những phân tử chống vi khuẩn để tự phòng vệ. Hiểu những cơ chế viêm của mụn trứng cá và điều làm trầm trọng chúng cũng đã dẫn đến sự phát triển những điều trị tại chỗ it hung bạo hơn, có thể phát ra một cách chậm hơn những hoạt chất.
Sau cùng nhiều nghiên cứu phát hiện rằng những thất bại điều trị là thường gặp bởi vì các bệnh nhân bỏ quá nhanh hay thực hành chung một cách đoạn hồi với hy vọng một kết quả trong thời gian rất ngắn hạn. Biết tốt hơn về mụn cho phép giải thích nó tốt hơn cho các bệnh nhân, như thế có thể tận dụng những điều trị sẵn có
(LE FIGARO 4/4/2022)

V. NHỮNG THUẬT NGỮ TRONG BỆNH MỤN TRỨNG CÁ

1. NHÂN TRỨNG CÁ (COMÉDON)
Những comédon là kết quả của sự tích tụ của bã nhờn trong nhưng nang lông (follicule pileux), với lượng khá đủ quan trọng để bít lỗ chân lông. Những nhân trứng cá có thể mở, khi đó cho những point noir (do sự oxy hóa của mélanine khi tiếp xúc với không khí), hay đóng, khi đó tạo thành những bouton blanc không có ban đỏ chung quanh.

2. SẦN (PAPULE)
Những sần (papule) là những « bouton » của ngôn ngữ thông thường, những thương tổn có thể sờ, kích thước nhỏ (vài mm), đỏ, chắc và đôi khi đau đớn. Được tạo thành từ một comédon trở thành viêm, các sần có thể biến mất một cách ngẫu nhiên hay bị bội nhiễm bởi những vi khuẩn hiện diện trên da.

3. MỤN MỦ (PUSTULE)
Những mụn mủ là những sản (papule) bị nhiễm trùng và như tên chỉ, chứa mù. Mủ này là một hỗn hợp của bã nhờn, những tế bào da và những vi khuẩn đã tọa vị ở đó. Nói chung chúng xuất hiện dưới dạng bouton trắng, được bao quanh bởi màu đỏ. Đó là dạng điển hình của mụn trứng cá thiếu niên(bouton d’acné juvénile).

4. NANG (KYSTE)
Những nang (kyste) là những mụn mủ nằm trong những lớp sâu của da, được bọc trong một vở sợi, điều này không cho phép dẫn lưu bã nhờn ra ngoài da. Chúng thường rất đau. Chủ yếu ta tìm thấy chúng trên lưng, và đó là loại mụn trứng cá thường nhất để lại những vết sẹo.

(Acné kystique de la face)

5. HÒN (NODULE)
Khó phân biệt với các nang (kyste), các hòn (nodule), mặc dầu thường không chứa mủ, tuy nhiên là nơi của một nhiễm trùng. Mụn dạng hòn (acné nodulaire) là thường gặp nhất trong số các mụn nặng. Lúc vỡ, các hòn để lại những vết sẹo dài lâu trên da.
(LE FIGARO 4/4/2022)

VI. MỤN TRỨNG CÁ, VẢY NẾN, CHÀM
Ba căn bệnh này chỉ mình chúng liên quan đến 9 triệu người ở Pháp và đa số là những phu nữ. May mắn thay, ta biết ngày càng tốt hơn những cơ chế của bệnh và những điều trị ngày càng hiệu quả.

1.MỤN TRỨNG CÁ

a. NHỮNG NGUYÊN NHÂN. Da là nhạy cảm hơn đối với vài thụ thể của các androgène (nhất là testostérone), điều này dẫn đến đồng thời một sự tiết quá mức của bã nhờn (sébum) (mỡ) bởi các tuyến bã (glandes sébacées) và một sự tăng hóa sừng (hyperkératinisation), nghĩa là một sự gia tăng của những cornéocyte (kératinocyte đã mất nhân và chứa đầy kératine), khi đó tạo thành một « bouchon » và cản trở sự bài xuất của bã nhờn. Do đó xuất hiện những nhân trứng cá (comédon) (những point noir) và sự tăng sinh của vi khuẩn Propionibacterium acnes (P. acnes), đến lượt kích thích các tuyến bã và các cytokine, tạo điều kiện cho sự tạo thành của các comédon và viêm.
b. NHỮNG ĐIỀU TRỊ. Ta có thể kê đơn cho các thiếu nữ một pilule oestroprogestative nhằm vô hiệu hóa tác dụng của testostérone hay những kháng sinh (cyclines) bằng đường tổng quát trong ba tháng để điều trị viêm của những tuyến bã. Chúng sẽ được liên kết với những rétinoide dùng tại chỗ (crème vitamine A), để gia tăng nhip sản xuất của các kératinocyte và sự loại bỏ các cornéocyte. Trong những thể rất nặng, một thuốc dẫn xuất của vitamine A (isotrétinoine) thuốc viêm rất hiệu quả : nó làm giảm 70% sự sản xuất của chất bã, nhưng sự kê đơn rất được kiểm soát và bị cấm ở những phụ nữ có thai

Lời khuyên của BS Rousseaux : 4 đến 6 buổi peeling, cách nhau 2-4 tuần, tiếp theo bởi leds rouges (chống viêm) và/hay led bleues (chống vi khuẩn), cho phép có được một sự cải thiện thật sự của mụn và của chất lượng của da.




2. CHÀM (DERMATITE ATOPIQUE)
a. NHỮNG NGUYÊN NHÂN
: Một bất thường di truyền của hàng rào da (barrière cutanée), chịu trách nhiệm sự khô quá mức của da và sự thẩm thấu với tất cả những tấn công bên ngoài (pollen, bụi, acariens…), dẫn đến một sự viêm của da. Ngoài ra, ở trẻ em, nói chung bệnh bắt đầu trong ba tháng đầu của cuộc sống. Ta cũng tìm thấy trong những mảng chàm (plaque d’eczéma) một dysbiose cutanée, nghĩa là một sự bất quân bình của hệ sinh thái vi khuẩn (écosystème bactérien), và nhất là một sự giảm của Staphylococcus epidermidis, làm gia tăng Stphylococcuc aureus tạo điều kiện cho viêm.

b. NHỮNG ĐIỀU TRỊ. Ta không biết tác động một cách trực tiếp lên dysbiose này, nhưng những điều trị khác nhau góp phần tái lập một sự cân bằng giữa những vi khuẩn khác nhau. Động tác đầu tiên : hydrater da một đến hai lần mỗi ngày không gián đoạn, bằng cách đắp một crème làm dịu trên da còn ẩm ướt sau khi tắm, để tái xây dựng hàng rào da và để tránh sự khô của da. Trong thời kỳ của các cơn bộc phát, đắp trên những thương tổn một crème có tác dụng chống viêm (dermatocorticoide và/hay inhibiteur de calcineurine). Ở người trưởng thành và thiếu niên, nếu điều đó không đủ, thầy thuốc có thể liên kết một điều trị suy giảm miễn dịch (ciclosporine thuốc viên) để vượt qua giai đoạn quyết định của viêm. Một giải pháp thay thế : từ 2019, Dupilumab tiêm dưới da (liên tục mỗi 15 ngày) cho những kết quả tốt. Nhờ thuốc sinh học này, nhằm một cách đặc hiệu vài messager du viêm. 7 bệnh nhân trên 10 thấy một sự cải thiện của hơn 75% những vấn đề da của họ, GS Julien Seneschal, trưởng unité dermatologie inflammatoire và auto-immune ở CHU de Bordeaux, đã xác nhận như vậy. « Biothérapie này được dung nạp tốt, tuy nhiên nó có thể gây viêm kết mạc ở 1/3 các bệnh nhân và đôi khi một sự kịch phát của eczéma trên đầu và cổ. » Những biothérapie khác đang được nghiên cứu và, ngay năm nay, một thuốc khác cho bằng đường miệng (baricitinib) sẽ làm phong phú arsenal thérapeutique chống dermatite atopique.
Lời khuyên của GS Seneschal: hãy thôi sợ các corticoides dùng tại chỗ, chúng vẫn là tuyến điều trị đầu tiên của eczéma, hãy theo toa thuốc và không do dự đi khám bệnh trong trường hợp kiểm soát tồi căn bệnh để đánh giá lợi ích của một điều trị bằng đường miệng hay bằng thuốc tiêm

3. VẢY NẾN (PSORIASIS)
a. NHỮNG NGUYÊN NHÂN.
Một đáp ứng quá mức của những tế bào miễn dịch nằm trong da, đối với những tấn công bên ngoài khác nhau (stress, tabac, rượu, nhiễm trùng…). Đến lượt chúng kích hoạt những tế bào miễn dịch khác, những tế bào lympho (sản xuất những tín hiệu viêm), những cytokine. Nhiều marqueur di truyền mở đường cho bệnh mãn tính này đã được nhận diện.

 b. NHỮNG ĐIỀU TRỊ. Đắp crème chứa corticoide để chống hiện tượng viêm và, nếu điều đó không đủ, một điều trị bằng đường miệng, với ciclosporine, méthotrexate, acitretine (dẫn xuất của vitamine A acide). Photothérapie (cho cơ thể tiếp xúc với những tia tử ngoại B) cũng cho những kết quả tốt khi vảy nến khá lan rộng. Khi những điều trị này không cải thiện bệnh vảy nến, nhiều thuốc mới có thể được đề nghị. Thí dụ, apremilast, một thuốc điều biến miễn dịch (thuốc viên dùng buổi sáng và buổi chiều), làm giảm sự sản xuất những tín hiệu viêm bởi những tế bào lympho. Cũng có nhiều biothérapie dạng tiêm, nghĩa là những kháng thể chống lại những những protéine của viêm của vảy nến. « Khi được điều trị liên tục, chúng cho phép có được một sự thuyên giảm hoàn toàn ở 50% những bệnh nhân », GS Seneschal đã đảm bảo như vậy. Những thuốc mới này là hiệu quả đến độ những tiêu chuẩn đánh giá trong những thử nghiệm lâm sàng đã được biến đổi. Trước đây người ta dự kiến tỷ lệ cải thiện 75% so với tình trạng cơ bản và bây giờ tiêu chuẩn đánh giá được chuyển lên 90% tỷ lệ cải thiện.
(TOP SANTÉ 5/2021)
Đọc thêm :
– TSYH số 461 : bài số 8 (psoriasis)
– TSYH số 215 : bài số 1, 2 (eczéma)

VII. NHỮNG NHIỄM TRÙNG DA : PHÂN RÕ THẬT GIẢ !

1. Những bệnh nấm (mycose) là do một sự thiếu vệ sinh
Sai. Những thương tổn hình tròn này, ở đây da trở nên đỏ, nứt và đôi khi rỉ nước, là do những nấm vi thể vốn ưa thích nhiệt và ẩm. Những dermatophyte này (80% các trường hợp) ẩn dấu khắp nơi, ở bờ của các piscine, nhưng cũng ở đáy của các basket hay trên đất của salle de bains… Chúng được truyền do tiếp xúc với đất hay quần áo bị nhiễm, sau một thời kỳ ủ bệnh 4-10 ngày. Vài người dường như có một thể địa tố bẩm, nhưng không liên quan gì với một sự thiếu vệ sinh

2. Một bệnh nấm sau cùng luôn luôn chữa lành một cách ngẫu nhiên
Sai: Hãy đi khám BS gia đình hay một thầy thuốc chuyên bệnh ngoài da. Sau khi đã xác định chẩn đoán, anh sẽ được kê đơn một thuốc chống nấm tại chỗ dưới dạng crème, gel, lotion hay spray, cần áp dụng một cách đều đặn và lâu chừng nào thầy thuốc khuyến nghị. Đó là điều kiện của tính hiệu quả của chúng, bởi vì các nấm thường khá đề kháng, lại còn hơn thế khi chúng xảy ra ở móng (onychomycose), trong trường hợp này cần nhiều tháng điều trị.

3. Khi ta bị herpès, đó là suốt cả đời

Đúng. Khi virus (HSV 1 trong 90% những trường hợp) đi vào trong cơ thể, nói chung, trong thời thơ ấu, đó là để lưu lại ở đó vĩnh viễn. 9 trường hợp trên 10, virus sẽ không gây nên một triệu chứng nào, điều này không ngăn cản cơ thể làm lây nhiễm một người khác qua các bàn tay, nước miếng, những chất tiết của mũi, nước mắt và những giao hợp miệng-sinh dục. Ở những người khác, virus được thể hiện trong suốt cuộc đời, dưới dạng những nổi ban khá thường xuyên, trong trường hợp stress, cảm xúc, mệt, tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, sốt, lúc có kinh…Khi đó xuất hiện những ban đỏ đầu tiên, được tiếp theo bởi những nốt rộp da (cloque) được quy tụ thành cụm (bouquet), trên môi (80% những trường hợp) hay những vùng khác (bên trong miệng, thành trong của mũi hay lối vào mũi, những cơ quan sinh dục, hậu môn, mắt). Những thương tổn này biến mấttrong 10 ngày.

4. Những ban nhiệt (bouton de fièvre) là không thể phòng ngừa
Sai. Khi những đợt herpès lặp lại một cách thường xuyên, thầy thuốc có thể kê đơn một điều trị dựa trên những thuốc viên aciclovir được dùng để phòng ngừa trong một thời kỳ 6 tháng. Những cơn sẽ được cách quãng. Ta cũng có thể chặn sự tăng sinh của virus và do đó rút ngắn thời gian của các triệu chứng với cùng điều trị chống virus dưới dạng crème, được đắp một cách lập lại ngay khi đợt bắt đầu. Những patch, được thích nghi một cách đặc thù, được đặt trực tiếp trên mụn, bảo vệ và cũng làm dễ sự chữa lành nó đồng thời che dấu nó, tuy nhiên những đặc tính chống viêm của chúng là hạn chế

5. Stress làm dễ những nhiễm trùng của da
Đúng.Người ta đã chứng minh rằng stress hay trầm cảm có thể tạo điều kiện cho một sự thiếu hụt miễn dịch và do đó làm dễ sự xuất hiện của những nhiễm virus. Stress cũng làm dễ những viêm da như chàm (eczéma), mụn trứng cá (acné) hay vảy nến (psoriasis). Thật vậy, nó gây nên sự phóng thích của những chất trung gian thần kinh (neuromédiateur), những vecteur chimique của thông tin thần kinh, điều này khuếch đại một sự viêm có trước. Tuy vậy, chỉ điều trị tâm lý không đủ để điều trị những bệnh này.

6. Những mụn cóc (verrue) không lây nhiễm

Sai. Sự tăng sinh quá mức của những tế bào của biểu bì có thể được truyền, nhất là trong phòng tắm hay ở piscine, do nhiều sự qua lại và sự ẩm ướt làm dễ sự phát triển của các virus. Và ngay cả trong điều trị, có thể rằng một mụn cóc « tạo ra những mụn nhỏ ». Thật vậy không gì cho phép xác nhận rằng virus gây bệnh HPV sẽ không thức dậy trên một vùng khác của da và gây nên một mụn cóc mới.


 7. Sau thủy đậu, không có nguy cơ bị zona
Sai. Ngay cả đó là điều ngược lại. Zona là một bệnh do sự tái kích hoạt của virus varicelle-zona (ZVZ), vậy nó luôn luôn xuất hiện ở một người đã từng bị thủy đậu. Sự nổi các mụn nước (vésicule), kèm theo bởi đau và cảm giác rát, luôn luôn chỉ xuất hiện một bên, thường trên ngực, nhưng nó có thể xảy ra ở những phần khác của cơ thể (thắt lưng, vùng dưới của bụng, cổ, mắt…). Như thế một người trên bốn sẽ có một zona trong cuộc đời mình, nói chung sau 50 tuổi. Zona phần lớn chữa lành sau 2 đến 3 tuần điều trị (valaciclovir) mặc dầu triệu chứng đau tồn tại lâu hơn. Tuy nhiên có một vaccin, Zostavax, được khuyến nghị ở những người già từ 65 đến 74 tuổi với những tiền sử thủy đậu.
(TOP SANTÉ 5/2021)
Đọc thêm :
– TSYH số 595 : bài số 1, 2, 4 (Zona)
– TSYH số 467 : bài số 10 (Zona)

VIII. NHỮNG UNG THƯ DA : NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI HIỆU QUẢ
Số những trường hợp ung thư da vẫn luôn luôn gia tăng, nhưng tiên lượng được cải thiện nhờ những điều trị ngày càng cá thể hóa.

Ánh nắng mặt trời là yếu tố nguy cơ chính của mélanome và carcinome của da. Theo dòng thời gian, các tia cực tím tác động lên nhân của các tế bào và làm hư hại chúng. Chúng làm biến thái tất cả những thành phần của cấu trúc của da. Thế mà những phơi nhiễm này càng sớm, những nguy cơ càng gia tăng. Kết quả : một sự lão hóa sớm của da và một nguy cơ gia tăng bị ung thư da.

Thêm vào các tia cực tím là những yếu tố tố bẩm cá nhân như phototype, nhiều nốt ruồi (hơn 50), tuổi tác, nghiện thuốc lá, tiếp xúc với goudron (hydrocarbure), với virus HPV… và trong trường hợp u hắc tố, những tiền sử gia đình (5 đến 10% những biến dị di truyền). Về vai trò của microbiote lên các ung thư da, điều này hiện nay vẫn còn mù mờ. Nhiều lắm có « một giả thuyết theo đó thành phần của microbiote tiêu hóa có thể ảnh hưởng lên đáp ứng với liệu pháp miễn dịch, nhưng điều đó vẫn rất lý thuyết », GS Nicolas Meyer, oncodermatologue đã định rõ như vậy.

1. MÉLANOME

+Hạn chế những nguy cơ tái phát
Trong 20% các trường hợp, đó là một nốt ruồi (grain de beauté) đã hiện diện, thay đổi dạng vẻ, màu sắc, kích thước, nhưng thường nhất, đó là một đốm nâu hay khá rosée, rất mới, ở những người có da màu rất nhạt. Gia tăng một cách hằng định, các mélanome được điều trị rất tốt bởi cắt bỏ ngoại khoa nếu chúng được phát hiện và điều trị sớm. Ngược lại, những thể tiến triển thường kèm theo các di căn và khó điều trị hơn. Ta lấy đi các hạch và ta đề nghị một năm điều trị bằng liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) (phối hợp hai loại thuốc), 2 lần mỗi ngày nếu bệnh nhân mang một biến dị di truyền (BRAF V600). Nếu không, đó sẽ là một miễn dịch liệu pháp (immunothérapie) truyền tĩnh mạch mỗi 4-6 tuần (2 loại thuốc), để gia tăng tính miễn dịch của bệnh nhân nhằm gia tăng tính hiệu quả của những tế bào lympho T tấn công u hắc tố. « Trong hai trường hợp, bằng cách thêm vào năm điều trị này sau phẫu thuật, ta làm giảm một nửa nguy cơ tái phát, từ 50% xuống còn 25% », oncodermatologue đã quan sát như vậy.

+ Theo dõi những nốt ruồi
Phần lớn các nốt ruồi (naevus) không nguy hiểm, tuy nhiên điều quan trọng là cứ mỗi 3 tháng phải thực hiện một auto-examen của da, từ đầu đến chân. Ta có thể nhờ sự giúp đỡ cửa của người chồng đối với những phần khó thấy hơn (lưng, gáy, móng, da đầu), hoặc tự nhìn vào một chiếc gương lớn phía trước và phía sau, không quên tai, móng, lòng bàn chân và những cơ quan sinh dục. Một cách tổng quát trên cùng một người tất cả các nốt ruồi đều giống nhau, dầu hình dạng hay màu sắc của chúng là gi, GS Meyer đã giải thích như vậy. Nếu một trong những nốt ruồi là khác, điều đó phải báo động bạn và khiến bạn phải đi khám thầy thuốc. Và nếu ta có hơn 20 nốt ruồi , phải đi khám chúng một lần mỗi năm bởi một dermatologue, bởi vì ta có nhiều nguy cơ hơn bị ung thư da

2. CARCINOME

Hai loại tumeur : Trong số những hon (nodule) nhỏ hay những mảng (plaque) chắc và không đau này, ta phân biệt những carcinome basocellulaire (70%) nói chung định vị ở mặt, da đầu (trong trường hợp sói), cổ và lưng, với những carcinome épidermoide (20%) xuất hiện trên những vùng bị phơi nhiễm, nhưng cũng trên những vết thương mãn tính, những vết sẹo…Những carcinome basocellulaire tiến triển chậm, không gây di căn và được điều trị tốt. Những carcinome épidermoide có thể gây nên những di căn, nhưng với một điều trị thích đáng, chúng chữa lành trong 90% những trường hợp. Dầu carcinome thuộc loại nào, nếu chúng không quá lan rộng, chúng có thể được lấy đi với gây tê tại chỗ ở phòng mạch của dermatologue, nhưng cần thận trọng thêm vào những marge de sécurité. Khi ngoại khoa không thể thực hiện để điều trị một carcinome basocellulaire, các thầy thuốc có những giải pháp thay thế tùy theo những đặc điểm của khối u : những crème đắp tại chỗ trong 4-6 tuần đối với những carcinome superficiel, một xạ trị trong 4 đến 5 tuần nếu thương tổn lan rộng hơn và sâu, một cryothérapie (azote liquide) hay photothérapie dynamique dưới gây tê tại chỗ trong trường hợp carcinomes multiples. Nhu là biện pháp sau cùng, trong những dạng của carcinomes basocellulaire rất tiến triển, nếu bệnh nhân không thể nhận một điều trị ngoại khoa hay một xạ trị, một thuốc (vismodegib, sonidegib) cho phép làm biến mất ung thư trong trung bình 6 đến 12 tháng. Trong trường hợp carcinome épidermoide, nếu u đã được kèm theo bởi những di căn không thể mổ, thầy thuốc sẽ liên kết một hóa trị hay xạ trị và đôi khi curage ganglionnaire. Trọng hơn 2/3 các trường hợp, điều trị này là hiệu quả. Trong trường hợp tái phát với nhưng di căn, từ nay ta ưu tiên một miễn dịch liệu pháp tiêm (Cemiplimab) mỗi 3 tuần, lâu chừng nào có thể. «Thuốc này ngay cả có thể có thể có một hiệu quả nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau khi ngừng điều trị, GS Meyer đã nhấn mạnh như vậy, như thể hệ miễn dịch thức dậy và thich nghi để tiếp tục truy nã những tế bào ung thư trong thời gian. Ta có được một tỷ lệ sống sót trên 50% lúc 2 năm. »
(TOP SANTÉ 5/2021)
Đọc thêm :
– TSYH số 316 : bài số 1,2 (mélanome & cabine de bronzage), 3 (mélanome métastatique)

IX. NHỮNG TRƯỜNG HỢP UNG THƯ DA GIA TĂNG Ở BỈ
Fondation contre le cancer belge rung chuông báo động: ung thư da (carcinome, mélanome), dạng ung thư thông thường nhất ở Bỉ, cho thấy một tỷ lệ gia tăng mạnh (incidence : số những chẩn đoán mới mỗi năm). Hôm nay một người trên năm phát triển một ung thư da trước 75 tuổi. Nguy cơ này gia tăng mỗi năm : số những bệnh nhân cần phải điều trị sau một chẩn đoán ung thư da sẽ gia tăng 77% từ nay đến 2030. Trong khi đó, thời gian chờ đợi để có được một lay hẹn ở một dermatologue không ngừng dài ra. Chính vì vậy Fondation kêu gọi các chính quyền phát triển một kế hoạch hành động quốc gia để tạo điều kiện cho sự phòng ngừa, phát hiện sớm và theo dõi hiệu quả những ung thư này. Fondation nhất là muốn chống lại vài định kiến (sử dụng banc solaire để chuẩn bị biểu bì của mình,…). Những ung thư da không phải là một định mệnh. Những giải pháp hiện hữu : tránh những hành vi có nguy cơ (phơi nắng quá mức…), tạo những vùng tối trong những espace public, đề nghị một điều tra phát hiện sớm nhằm mang lại những cơ may sống sót tốt (gần 100%),…Một kế hoạch hành động càng cần thiết khi những phí tổn của những ung thư da đối với Sécurité sociale sẽ đạt đến 3,5 tỷ euro từ nay đến 2034, theo Fondation.
(TOP SANTÉ 6/2022)

X. NHỮNG CẢM XÚC KHÔNG ĐƯỢC BIỂU HIỆN BẰNG LỜI CÓ THỂ ĐƯỢC BIỂU HIỆN TRÊN DA

1. Ta biết gì về những liên hệ giữa da và não ?
Da và hệ thần kinh có một nguồn gốc phôi chung, nhưng tuy vậy da không phải là một não thứ hai như ruột, nhưng chỉ là những tận cùng thần kinh. Tuy nhiên, da và não trao đổi với nhau nhiều, theo chiều này cũng như chiều kia. Đã mang lại cho não nhiều thông tin và não cũng truyền những thông tin cho da qua trung gian những chất trung gian thần kinh.

2. Tình trạng da của chúng ta có phản ảnh tam ly của chúng ta ?
Da là một cơ quan giác quan rất quan trọng. Tất cả những chức năng của nó có thể được điều biến bởi những cảm xúc, nhưng điều đó không hề có nghĩa rằng những cảm xúc là yếu tố duy nhất chi phối sự vận hành chức năng của da, cũng ngay cả không phải là yếu tố chính. Thường những cảm xúc chỉ có ít ảnh hưởng lên da và may mắn thay ! Tuy vậy, những cảm xúc không được biểu hiện bang loi có thể được biểu hiện trên da.

3. Sự tương tác này được biểu hiện như thế nào ?
Thí dụ stress có thể được biểu hiện ra ngoài bởi một sự đỏ mặt, hay trái lại, một sự tái mặt. Trong thời gian dài hạn, stress cũng có thể là một yếu tố của một da quá khô, quá mỡ hay quá nhạy cảm. Stress cũng có thể làm trầm trọng và ngay cả đôi khi phát hiện một bệnh đã, qua trung gian của những chất trung gian thần kinh . Trong khung cảnh hiện nay của khủng hoảng y tế, thật vậy chúng ta thấy những bệnh nhân nói với chúng ta rằng họ bị stress và rằng điều đó làm nặng căn bệnh ngoài da của họ. Điều đảo lại cũng đứng. Thí dụ ngứa là một nguyên nhân thật sự của đau khổ tâm lý và cũng có thể gây nên một stress, đến lượt, sẽ làm gia tăng cường độ của ngứa. Khi đó một điều trị tâm lý có thể cần thiết để bổ sung điều trị thuốc.

 5. Một xúc giác đầy cảm xúc

Những mặt khác nhau của tính nhận cảm da (sensibilité cutanée) đi từ xúc giác phân biệt (toucher discriminatif) (như lecture en Braille hay cảm giác sự sần sùi), đến sự tri giác đau đớn và nhiệt độ. Cũng hiện hữu trong da mang lông những thụ thể cơ học (mécanorécepteur) nhạy cảm với sự sờ mó nhẹ. Sự kích hoạt những thụ thể cơ học bởi những vuốt ve có lẽ góp phần vào sự phát triển của những mối liên hệ mẫu tử, những liên hệ tình dục và vào sự nhận thức về mình. Thật vậy, như đau đớn, xúc giác gồm một thành phần giác quan và xúc cảm. « Xúc giác, những tương tác vật lý người và những vuốt ve là những yếu tố rất quan trọng đối với con người, GS Misery đã nhấn mạnh như vậy. Nếu chúng ta không tin chắc về điều đó, từ nay chúng ta sẽ được thuyết phục vì biết bao người kể lại rằng họ thiếu những tương tác vật lý từ khởi đầu của đại dịch ».
(TOP SANTÉ 3/2021)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/5/2022)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s