Thời sự y học số 600 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I/ NHỮNG RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC, QUÁ THƯỜNG BỊ LẪN LỘN VỚI TRẦM CẢM

Sự nhận biết không đúng rối loạn tâm thần này có một ảnh hưởng tiêu cực lên hy vọng sống của các bệnh nhân.
PSYCHIATRIE. Vào lúc 26 tuổi, trong khi tôi học hậu đại học ở Hoa Kỳ, tôi đã bị một cơn hưng cảm (épisode maniaque) đầu tiên. Tôi gần như không ngủ nữa, tôi trải qua các đêm ở ngoài trời dướimưa, tôi đã khám phá cách để triệt trừ sự bần cùng trên thế giới…Chính những người láng giềng mà tôi đã đánh thức dậy giữa đêm khuya đã cho tôi nhập viện. Khi đó người ta đã chẩn đoán bệnh rối loạn lưỡng cực của tôi », Claire đã kể như vậy. Cô sống với căn bệnh từ 33 năm nay. Đối với Julie, chính một trầm cảm đã đánh dấu sự bước vào căn bệnh của cô. « Tôi được 18 tuổi, đó là lúc trước tú tài. Tôi đã chìm đắm hoàn toàn, tôi không dậy nữa, không tắm rửa nữa…Tôi là một kẻ thân tàn ma dại thật sự. Rồi thì, bốn năm sau, tôi đã lên một cơnhưng cảm nhẹ (épisode hypomaniaque). Tôi ở đại học. Tôi cảm thấy siêu mạnh, tôi đi chơi mỗi đêm và đồng thời tôi học tập. Não bộ của tôi hoạt động 100 mỗi giờ, tôi siêu khỏe. Ngoại trừ điều đó đã không kéo dài và rằng tôi lại đắm mình vào một trầm cảm nặng », người phụ nữ trẻ đã kể như vậy.

Hai thí dụ này minh họa nhiều gương mặt mà căn bệnh lưỡng cực có thể có. Vài bệnh nhân trải nghiệm những đợt trầm cảm và hưng cảm dữ dội, được được cách quãng bởi những thời kỳ bình thường, được gọi là (euthymique). Đó là những rối loạn lưỡng cực loại 1, sẽ cho những cơn hưng cảm với những nguy cơ quan trọng : nguy hiểm thân thể, mất việc… », BS Guillaume Fond, thầy thuốc tâm thần ở Hopital de la Conception, Marseille, và tác giả của Voyage au coeur de là souffrance, đã nói rõ như vậy. Những bệnh nhân khác trải qua những giai đoạn kín đáo hơn với tâm trạng u buồn hay khoái trá. Họ bị những rối loạn lưỡng cực được gọi là loại 2 và làm những cơnhưng cảm nhẹ (épisodes d’hypomanie). Đó là một tình trạng khá dễ chịu. Bệnh nhân ngủ ít hơn, bệnh nhân đầy năng lượng. Những bệnh nhân này nói với chúng ta rằng khi họ bình tâm tính khí (euthymique) họ có cảm giác đã mất cái gì đó. Nhưng vấn đề, đó là, hơi giống như một cỗ máy kiệt sức, sau đó họ sẽ chìm đắm trong trầm cảm », GS Pierre-Michel Llorca, trưởng khoa tâm thần của CHU de Clermont-Ferrand đã giải thích như vậy

Đối với những người này, các đợt sẽ kể tiếp nhau một cách rất nhanh chóng, đối với những người khác nhiều năm sẽ trôi qua trước khi một đợt mới xuất hiện. Có những bệnh nhân sẽ thường ở trong trầm cảm hơn và những bệnh nhân khác sẽ tích tụ hơn những đợt hưng cảm…Tổng công, từ 1% đến 2,5% dân số Pháp bị những rối loạn lưỡng cực, « một tỷ lệ chắc chắn bị đánh giá thấp », tuy nhiên HAS đã ghi chú như vậy.
Sự đánh giá thấp này được giải thích, nhất là, bởi những khó khăn trong chẩn đoán. Thật vậy, phát hiện một rối loạn lưỡng cực ở một thanh niên 20 tuổi trong tình trạng trầm cảm không là hiển nhiên. Nhất là bệnh nhân sẽ không đến khám, bởi vì bệnh nhân đặc biệt khỏe mạnh vài tháng trước đó. Điều này giải thích tại sao phải cần 8 đến 10 năm và 4 đến 5 thầy thuốc khác nhau trước khi họ được chẩn đoán đúng. Thế mà, một sự nhận biết muộn làm căn bệnh khó điều trị vàcân bằng hơn và làm dễ những nguy cơ liên kết. Nguy cơ ở hàng đầu là tự tử : ít nhất một bệnh nhân trên bốn sẽ có một toan tính tự tử, hoặc một tỷ lệ quan trọng hơn tỷ lệ được thấy trong trầm cảm đơn cực (dépression unipolaire), HAS đã ghi chú như vậy. Thêm vào nguy cơ tự tử là những tử vong do tai nạn liên kết với những cơn hưng cảm, trong đó bệnh nhân tự gây nguy hiểm cho mình. « Tôi tự cho mình là một con chim và tôi nghĩ có thể bay. Hay khi đó tôi lái xe hết tốc độ trên đường vì tôi cảm thấy mình vô địch », Claire đã giải thích như vậy. Căn bệnh, nếu không được điều trị, cũng sẽ có những hậu quả tai hại trên bình diện xã hội và kinh tế với nghỉ học, mất việc,…Sau cùng sự chậm chẩn đoán sẽ lót đường cho những bệnh nền và nhất là những bệnh tim mạch. «Nguy cơ hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) là 3 lần cao hơn population générale. Thế mà, chỉ 25% bệnh nhân được điều trị vì hội chứng này, yếu tố nguy cơ tim mạch. Hy vọng sống của họ bị giảm khoảng một chục năm », GS Pierre-Michel Llorca đã nhấn mạnh như vậy.
Vậy chẩn đoán nhanh nhất có thể được những rối loạn lưỡng cực là một enjeu quan trọng của y tế công cộng. Vì lẽ có những điều trị hiệu quả. « Chúng ta có những loại thuốc. Nhưng chúng không luôn luôn được sử dụng tốt. Đó là trường hợp của lithium, traitement de référence của rối loạn lưỡng cực. Thuốc này đặc biệt hiệu quả chống lại nguy cơ tự tử, nhưng ngày càng ít được kê đơn bởi vì công nghệ dược phẩm không quan tâm đến điều đó », GS Philippe Courtet, trưởng khoa tâm thần của CHU de Montpellier đã lấy làm tiếc như vậy. Ngược lại, ngay cả trong những đợt trầm cảm, các thuốc chống trầm cảm bị chống chỉ định bởi vì chúng có thể dẫn đến một sự thay đổi tính khí (virage de l’humeur) và những chu kỳ trầm cảm-hưng cảm nhanh hơn.

« Khía cạnh quan trọng khác của điều trị, đó là biết những yếu tố có thể khởi phát những rối loạn. Đó là tất cả mục đích của Tâm lý giáo dục (psychoéducation). Chính vì vậy những người bị rối loạn lưỡng cực phải được theo dõi bởi một thầy thuốc tâm thần », GS Courtet đã nhấn mạnh như vậy. Thí dụ đồng hồ sinh học (horloge biologique) là một yếu tố quan trọng trong sự điều hòa tính khí, vậy một lối sống điều đặn sẽ tham gia vào sự ổn định của rối loạn.« Ở tuổi 40 tôi đã không nhận thức rằng tôi có những tính dễ bị thương tổn (vulnérabilités) không tương hợp với cuộc sống của tôi lúc đó. Tôi đã phải thay đổi đời sống. Hôm nay tôi rất chú ý nhịp của cuộc sống của tôi. Khi tôi biết rằng tôi sẽ đi chơi một buổi chiều, tôi vẫn ở nhà phần còn lại của tuần. Đó là một căn bệnh đòi hỏi nhiều công sức của chúng ta. Nhưng hôm nay tôi có thể nói rằng tôi không muốn là một người khác », Nathalie, bị rối loạn lưỡng cực từ tuổi thiếu niên, đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 14/2/2022)
Đọc thêm :
 – TSYH số 437 : bài số 8, 9
 – TSYH số 435

II/ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC : ĐI TÌM MỘT BIOMARQUEUR ĐỂ CẢI THIỆN CHẨN ĐOÁN.

Trầm cảm là một bệnh lý tâm thần thường gặp nhất. Căn bệnh này xảy ra ở khoảng 10% dân số mỗi năm. Nhưng đó cũng là thành phần thường gặp nhất của rối loạn lưỡng cực. Vậy, đứng trước một người trầm cảm, phải nghĩ đến lưỡng cực (bipolarité). Tuy nhiên « làm một chẩn đoán lâm sàng lưỡng cực ở một bệnh nhân trầm cảm không phải là dễ, nhất là trong médecine générale. Nhất là khi một bệnh nhân trầm cảm chỉ nhớ những biến cố tiêu cực của quá khứ của mình. Khi đó bệnh nhân không nhớ những lúc bệnh nhân hưng cảm », GS Philippe Courtet, thầy thuốc tâm thần ở CHU de Montpellier đã giải thích như vậy. Kết quả : hơn 40% những người bị bệnh lưỡng cực trong thì đầu được chẩn đoán là những bệnh nhân đơn cực (unipolaire). Thế mà những điều trị và xử trí không giống nhau, và một sai lầm trong chẩn đoán có thể làm gia trọng tiên lượng của bệnh.
Để giúp các thầy thuốc làm tinh tế hơn chẩn đoán của mình, nhiều équipe nghiên cứu hướng về các biomarqueur. BS Raoul Belzeaux, thầy thuốc tâm thần ở bệnh viện Sainte-Marguerite de Marseille và nhà nghiên cứu ở Institut de neuroscience de la Timone, đã chú ý đến những marqueur của viêm, những cytokine. « Chúng tôi biết rằng những người bị bệnh trầm cảm có những nồng độ cytokine cao hơn trung bình. Thế mà dường như rằng những bệnh nhân lưỡng cực bị trầm cảm (dépressif bipolaire) có một profil viêm khác với những người trầm cảm đơn cực (dépressif unipolaire). Chúng tôi đã tìm thấy những cytokine khác nhau trong hai nhóm bệnh nhân », nhà nghiên cứu đã giai thích như vậy. 3 cytokine được nhận diện có thể được định lượng dễ dàng trong một laboratoire d’analyses médicales, trái với những biomarqueur khác cũng đang được phát triển cần những thiết bị chụp hình ảnh y khoa.
Tuy nhiên, sự định lượng của các cytokine này không cho phép xác nhận một cách chắc chắn chẩn đoán lưỡng cực, như, thí dụ, sự định lượng của nồng độ đường trong máu đối với bệnh đái đường. « Sau đó sự định lượng sẽ đi vào trong một phương trình xét đến vài yếu tố lâm sàng để tính một nguy cơ cho phép chẩn đoán. Hơi giống như triple test ở phụ nữ có thai, được sử dụng để tính nguy cơ bị trisomie 21 », BS Belzeaux đã giải thích như vậy.
LE FIGARO 14/2/2022)

III/ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC : CẦN LOẠI BỎ NHỮNG THÀNH KIẾN ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI THÂN CỦA BỆNH NHÂN

Bệnh lưỡng cực thử thách khắc nghiệt các bệnh nhân, nhưng cũng những người thân của họ. « Có 2% đến 3% những người bị rối loạn lưỡng cực, nhưng tổng cộng bệnh có lẽ ảnh hưởng 10% dân số », Dominique Guillot, chủ tịch của hiệp hội Argos 200, giúp đỡ những người bị rối loạn lưỡng cực và những người sống chung quanh họ, đã xác nhận như vậy. Ông chia sẻ kinh nghiệm của mình và kể làm thế nào, mùa hè vừa qua, ông đã phải bay khẩn cấp đi Mễ Tây Cơ với đứa con trai nhỏ nhất của ông để đi thu về đứa con thứ của ông, ở giai đoạn hưng cảm. Thí dụ khác về những nỗi đau khổ mà các bệnh nhân và gia đình họ kinh qua, thí dụ của Claire. Nhà khoa hoc này đã bị một đợt hưng cảm sau khi sinh đứa con gái thứ hai. « Tôi để con gái tôi cho bà mẹ chồng để đi cứu thế giới và tôi quên giờ cho bú. Tôi cảm thấy mình siêu mạnh và tôi cảm thấy vô cùng vui thú, nhưng đồng thời tôi rất đau khổ. Tôi cảm thấy mình là một bà mẹ xấu và dẫu sao, tôi biết rằng thái độ của tôi không bình thường, Claire đã kể lại như vậy. Chồng của Claire khi đó lấy quyết định đau lòng, nhưng cần thiết, đưa nàng nhập viện. Claire đã bị táchhơn một tháng ra khỏi đứa con gái khi đó mới ba tuần.

« Khi căn bệnh xuất hiện trong một gia đình, thường nhất một cách đột ngột, anh sẽ không hiểu gì hết. Anh sẽ không còn nhận biết con anh, người chong của anh. Khi con anh ở giai đoạn hưng cảm, nó nói với anh những lời kinh khủng, nó có những hành vi lạ thường và có thể gây nguy hiểm cho chính nó. Ở giai đoạn trầm cảm, nó không còn có một năng lượng nào nữa. Căn bệnh tấn công bản sắc của nó », Eliane Melon, phó chủ tịch của association Argos 2001, mà đứa con trai 50 tuổi bị rối loạn lưỡng cực từ năm 18 tuổi, đã giải thích như vậy. « Cũng như những người bệnh, những người thân thuoc phải chấp nhận chẩn đoán của một bệnh mãn tính, phải bỏ sạch những thành kiến của họ và tìm hiểu chừng nào có thể được về căn bệnh », bà đã nhấn mạnh như vậy.
Để học biết căn bệnh, các gia đình, từ lâu đã bị loại khỏi sự điều trị các bệnh nhân bà con của họ, có thể nhận những buổi giáo dục điều trị (éducation thérapeutique) trong những trung tâm chuyên môn. Họ cũng hướng về các hiệp hội. Argos 2001, nhất là, xuyên qua những groupe de paroles của hội, có sứ mạng giúp đỡ và hỗ trợ các bệnh nhân và những người thân thuộc của họ và theo kèm họ trong quá trình hồi phục (sự hồi phục tương ứng với sự tiến lên của người bệnh, trong thời gian, để lấy lại sự kiểm soát cuộc sống mình và tìm chỗ đứng của mình trong xã hội).« Tất cả điệu mà tôi học được về căn bệnh, đó là xuyên qua những groupe de parole, Eliane Melon đã giải thích như vậy. Nhất là ta sẽ học càng làm ít khổ càng tot. Thí dụ, không phải những người thân thuộc theo dõi sự điều trị. Thật vô ích hỏi người bệnh đã điều trị không. Chừng nào chính bệnh nhân không quyết định điều trị, chúng ta không thể giúp đỡ bệnh nhân. Như con trai tôi đã nói, điều quan trọng, đó là ở đó, biết ở đó. Điều này đòi hỏi nhiều apprenti apprentissage. »
(LE FIGARO 14/2/2022)

IV/ BỆNH LƯỠNG CỰC : NHỮNG RỐI LOẠN LIÊN KẾT
Bệnh lưỡng cúc thường được liên kết với những rối loạn khác. 4 bệnh nhân trên 10 sẽ có trong suốt cuộc đời mình một rối loạn lo âu (trouble anxieux), thường nhất là rối loạn hoảng sợ (trouble panique), xảy ra ở 15-25% trong số họ. Họ cũng thường hơn là những người có rối loạn ám ảnh-cưỡng bức (trouble obsessionnel compulsif) và những rối loạn của hành vi ăn uống (trouble de la conduite alimentaire). Nghiện thuốc lá, nghiện rượu và những độc chất khác là một đặc điểm khác của bệnh. Ngoài những bệnh tâm thần xảy ra đồng thời này, những bệnh nhân bị những rối loạn lưỡng cực cũng có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch hơn : 34,5% là cao huyết áp, 32,8% có một cholestérol thấp, 28,3% có hypertriglycéridémie, 36,5% có một béo phì bụng (obésité abdominale) và 16,1% bị đái đường.
(LE FIGARO 14/2/2022)

V/ KHI SỰ LO ÂU TRỞ THÀNH BỆNH LÝ
SANTÉ MENTALE. Tất cả chúng ta ít nhiều đều là những người lo âu. Thật vậy, ai đã không bao giờ cảm thấy một sự sợ hãi nào đó trước một kỳ thi, một

cuộc phỏng vấn tuyển dụng hay đứng trước nguy cơ bị bệnh ? Chính cảm xúc này thúc đẩy chúng ta ôn lại bài vở, khiến chúng ta tỉ mỉ hay áp dụng những biện pháp giãn cách để bảo vệ chống lại coronavirus. Vậy một mức độ lo âu là cần thiết để tiên liệu những nguy hiểm, và thích nghi điều đó. Nhưng ở vài người, nó có thể, vào một lúc nào đó của cuộc sống, trở thành quá mức so với thực tế của những nguy hiểm hiện hữu. Và như thế gây nên một sự đau khổ thật sự có thể đi đến mức ngăn cản cac nạn nhân sống. Anxiété khác với angoisse và peur : anxiété là một cảm giác hoảng sợ, mạnh mẽ và làm mất ổn định, tràn ngập chúng ta và làm chúng ta tê liệt đứng trước một nguy hiểm hay lúc nghĩ đến một nguy hiểm (có thực hay giả định). Angoisse là cảm xúc mạnh nhưng thích nghi với một nguy cơ thật sự, hay là nguy cơ mà ta có những lý do đúng đắn để tin như vậy. Anxiété chronique, đó là một sự sợ hải tỏa lan, ám ảnh, nhưng tác động mạnh đời sống của những người bị nó.

Phần lớn trong chúng ta có những phương sách để đương đầu với anxiété : gọi một người bạn, chơi thể thao, tiêu khiển, BS Guillaume Fond, thầy thuốc tâm thần ở hopital de la Timone (Marseille) và tác giả của Je fais de ma vie un grand projet (Flammarion, 2018) đã giải thích như vậy. Nhưng ở vài người, anxiété trở nên tràn ngập với một vat sẽ chiếm tất cả vị trí tinh thần và không được điều hòa nữa bởi những hoạt động giải trí. Người bệnh nghĩ lòng vòng và không thành công nối kết lại với khoảnh khắc hiện tại. Người bệnh ở trong một trạng thái căng thẳng và tăng cảnh giác thường trực. Khi đó ta đi vào trong lãnh vực của những rối loạn lo âu (trouble anxieux), khi chúng trầm trọng, có thể được công nhận như affection de longue durée (ALD).
Những người không ngừng lo âu, những người có một nỗi sợ không suy xét khi đi máy bay hay những người không dám đi xuyên qua cầu tất cả đều bị một rối loạn lo âu (trouble anxieux). Những bệnh lý khác nhau này được phân biệt bởi đối tượng của lo âu và những biểu hiện lâm sàng.
Khi ta lo lắng đến mọi chuyện, đó là rối loạn lo âu toàn diện (trouble anxieux généralisé). Nhiều người trong chúng ta trải nghiệm những thời kỳ stress này, trong đó chúng ta lo lắng vì một điều nhỏ nhất, và thời kỳ hiện nay là một tình thế thuận lợi để nuôi dưỡng sự lo âu này. Gần một người Pháp trên năm bị một trạng thái lo âu, một mức nằm ở +5 điểm so với thời kỳ ngoài dịch bệnh, như Santé publique France đã nhắc lại như vậy. « Ở phần lớn, đó là một lo âu phản ứng (anxiété réactionnelle), liên kết với tình huống. Sự lo âu này là tạm thời. Ta nói rối loạn khi sự lo âu không được giải thích bởi những điều kiện bên ngoài », Dominique Servant, thầy thuốc tâm thần phụ trách consultation stress et anxiété ở CHU de Lille và tác giả của Se libérer de l’anxiété et des phobies en 100 questions, đã nói rõ như vậy.
Một người bị một rối loạn lo âu toàn diện (trouble anxieux généralisé) lo lắng cho mình và cho những người thân của mình về tất cả những gì có thể xảy ra trong cuộc sống : những vấn đề nghề nghiệp và trường học, tiền bạc, tai nạn, bệnh tật. « Đó là một sự e sợ đứng trước những biến cố tương lai, một sự liên kết các tư duy, một sự nối tiếp của các câu hỏi không có câu trả lời, liên quan đến những sự kiện mà ta không thể tác động. Chính một tương lai mà ta không có một chỗ bám víu nào làm lo lắng, BS Dominique Servant đã ghi chú như vậy. Người bị lo âu toàn diện (anxiété généralisée) dự liệu một cách thường trực điều tệ hại nhất.

Những ý tưởng lo âu tràn ngập này sẽ dẫn đến một sự mệt mỏi vật lý và tinh thần, một sự không thể giải lao, những khó khăn trong sự tập trung, những khó ngủ. Sự lo âu dẫn đến những xáo trộn khá mạnh của sự thoải mái (bien-être), có thể handicapant. Lo âu cũng là nguồn gốc của sự lạm dụng rượu và thuốc lá và đó là một yếu tố nguy cơ của trầm cảm, GS Antoine Pelissolo, thầy thuốc tâm thần ở bệnh viện Albert-Chenevier, Créteil, đã nhấn mạnh như vậy.Trong thời gian dài hạn hơn, những rối loạn lo âu được xem như một yếu tố nguy cơ của những bệnh tim mạch cũng như tình trạng nhàn rổi không hoạt động hay cholestérol. Đáng ngạc nhiên hơn, lo âu cũng được liên kết với…động kinh, Inserm đã báo cáo như vậy trong một hồ sơ dành cho chủ đề này : « 40% những bệnh nhân động kinh có liên hệ, Viện nghiên cứu đã chỉ như vậy trên site Internet. Giả thuyết về cơ chế sinh bệnh lý chung đã được đặt ra nhưng vẫn còn phải được chứng minh. Vả lại, những công trình chỉ rằng sự điều trị những rối loạn lo âu, và của trầm cảm khi nó được liên kết, cho phép một sự kiểm soát tốt hơn động kinh.»
Khi nào phải hành động ? «Càng nhanh càng tốt, để tránh rối loạn trầm trọng. Không có máy để đo mức độ lo âu của bệnh nhân, sự đau khổ là chủ quan nhưng phải đặt cho mình câu hỏi về một bệnh lý, kể từ lúc mà nó làm xáo trộn cuộc sống hàng ngày của chúng ta hay nếu nó là một vướng víu cho những người sống chung quanh », GS Pelissolo đã trả lời như vậy. Vài dấu hiệu vật lý cũng là những chỉ dấu tốt : mất ngủ, hồi hộp, đau bụng, đau đầu…

Khi lo âu có cường độ yếu hay trung bình, luôn luôn có thể tự mình hành động để làm hạ áp lực. « Thư giãn, những bài tập hô hấp, hoạt động vật lý…bấy nhiêu công cụ hiệu quả khi cường độ lo âu không quá mạnh. Nhưng không nên do dự khi ta cảm thấy bị tràn ngập », GS Pelissolo đã nhấn mạnh như vậy.
Điều trị những rối loạn lo âu chủ yếu bằng thérapie cognitivo-comportementale (TCC). Dựa trên phân tích những sợ hãi và một biến đổi của những phản ứng xúc cảm, liệu pháp này hiệu quả đê điều trị phần lớn những rối loạn lo âu trong những thời gian tương đối ngắn. Nhưng sự tiếp cận của điều trị này vẫn bị hạn chế vì những buổi liệu pháp ở psychologue không được remboursement. « Đối với những thể nặng nhất, có thể xét đến một điều trị bằng những thuốc chống trầm cảm », GS Pelissolo đã xác nhận như vậy. Về các thuốc giải ưu, chúng được dành hơn cho những cơn hoảng sợ và được kê đơn một cách tạm thời vì nguy cơ phụ thuộc.
(LE FIGARO 30/8/2021)

VI/ LO ÂU : NHẬN BIẾT NHỮNG TRIỆU CHỨNG
1. NHỮNG DẤU HIỆU VẬT LÝ

a. Thần kinh (neurologique)
 – Đau đầu do căng thẳng (céphalée de tension)
 – Chóng mặt
b. Thần kinh-cơ (neuromusculaire)
 – Căng và co thắt cơ ở gáy, lưng, vai, hàm
c. Hô hấp
 – Hô hấp nhanh với cảm giác khó thở hay trái lại hô hấp biên độ lớn và được gia tăng với những cái ngáp
d. Tim
 – Thường gặp nhất là những pointe hay những pincement ở ngực.
 – Nhịp tim tăng nhanh cho cảm giác tim đập không đều.
e. Tiêu hóa
 – cảm giác họng bị siết chặt, không thể nuốt
 – cảm tưởng bị chèn trong lòng dạ dày
 – cảm tưởng bị chèn trong lòng dạ dày
 – những co thắt ở ruột, nôn
 – rối loạn dẫn truyền tiêu hóa (trouble du transit)
f. Mạch máu
 – cảm giác nóng, lạnh
 – bàn tay ẩm ướt
 – mồ hôi, miệng khô
 – cơn đỏ mặt
g. Tiết niệu
– buồn tiểu khẩn trương

2. NHỮNG DẤU HIỆU TÂM LÝ
a. Những ý tưởng lo âu (pensées anxieuses)
b. Mệt tâm thần (fatigue psychique)
c. Những rối loạn của sự chú ý và trí nhớ
d. Giận dữ, sợ hãi, buồn rầu, hổ thẹn

3. NHỮNG DẤU HIỆU KHÔNG ĐÁNH LỪA
a. Sự bồn chồn (agitation)
Bước 100 bước, sốt ruột bực dọc, nghiền một mẫu giấy, một vật..
b. Sự né tránh
Tránh tất cả tình huống có thể khiến đối đầu với một ngụy cơ mới
c. Tính dễ cáu, tính hung dữ
Tháo sự căng thẳng lo âu bằng những cơn giận dữ chỉ vì một việc nhỏ nhất
d. Chẹn và ức chế
Bị tê liệt trong hành động như chết ngất
e. Kiểm tra
Kiểm tra một cách quá đáng để bảo vệ chống lại những nguy hiểm
f. Những phương tiện chuyển giải thuốc lá, rượu, thức ăn, jeux vidéo, télé

VII/ CÁC LOẠI RỐI LOẠN LO ÂU
Về phương diện y học, những rối loạn lo âu (trouble anxieux) chỉ một tập hợp những bệnh được đặc trưng bởi một sự lo âu quá đáng hay dai dẳng, dẫn đến một sự đau khổ chủ quan thường trực hay làm trở ngại sự vận hành của cuộc sống hàng ngày. Một người trên năm sẽ bị những rối loạn lo âu trong cuộc đời mình. Những ám ảnh sợ đặc hiệu (phobie spécifique) là thường gặp nhất : 11,6% những người Pháp bị ám ảnh sợ (phobie) trong suốt cuộc đời của họ. Tiếp theo là những rối loạn lo âu toàn diện (trouble anxieux généralisé) (6%), những ám ảnh sợ xã hội (phobie sociale) (4,7%), rối loạn hoảng sợ (trouble panique) (3%) và ám ảnh sợ khoảng trống (agoraphobie) (1,8%), theo những dữ liệu của Haute Autorité de santé.

1. NHỮNG ÁM ẢNH SỢ ĐẶC HIỆU (PHOBIES SPÉCIFIQUES)
Chúng được thể hiện bởi một sự lo lắng phi lý, quá đáng và dai dẳng, đứng trước vài đồ vật hay vài tình huống. Đó là sự hoảng sợ về các con chó, những chuyến đi bằng máy bay, những độ cao, nước…Đứng trước đối tượng của chứng sợ của mình, bệnh nhân sẽ cảm thấy một sự lo lắng cấp tính với những biểu hiện vật lý : tim lồng lên, cảm giác khó thở…những chứng sợ này khi đó được kèm theo bởi những hành vi để tránh tình huống phát khởi sự sợ hãi này

2. RỐI LOẠN LO ÂU TOÀN DIỆN (TROUBLE ANXIEUX GÉNÉRALISÉ)
Được đặc trưng bởi một sự lo lắng không được xác định rõ và dai dẳng, được kèm theo bởi những điều lo lắng quá mức trong ít nhất 6 tháng.

3. ÁM ẢNH SỢ XÃ HỘI (PHOBIE SOCIALE)Chứng ám ảnh sợ xã hội được thể hiện bởi một
sự sợ dai dẳng và mạnh những tình huống xã hội như khi điện thoại, khi nói với những người lạ hay khi phát biểu trước công chúng. Đó là một chứng sợ có một ảnh hưởng xã hội-nghề nghiệp quan trọng.

4. CƠN HOẢNG SỢ (ATTAQUE DE PANIQUE)
Đó là một đợt lo âu cấp tính, bất ngờ, giới hạn trong thời gian, với một khởi đầu đột ngột và một sự giảm dần dần. Cơn hoảng sợ liên kết những triệu chứng tâm thần như sợ chết với những dấu hiệu vật lý như tim nhịp nhanh, cảm giác khó thở, vã mồ hôi, run rẩy

5. ÁM ẢNH SỢ KHOẢNG TRỐNG (AGORAPHOBIE)
Chữ này chỉ sự sợ những nơi khó thoát hay được cứu trong trường hợp có vấn đề. Đó có thể là một khoảng kín như một grand magasin hay một thang máy, hay những grands espaces và độ cao.
(LE FIGARO 30/8/2021)

VIII/ ÁM ẢNH SỢ HỌC ĐƯỜNG (PHOBIE SCOLAIRE)
GS Marie Rose Moro, pédopsychiatre và giám đốc của nhà thiếu niên (maison des adolescents) Maison de Solenn (bệnh viện Cochin). Bà chỉ đạo tác phẩm Phobie scolaire, retrouver le plaisir d’apprendre (EditionsVigot)

Hỏi : Khi ta nói ám ảnh sợ học đường (phobie scolaire), ta nói về điều gì ?
GS Marie Rose Moro : Đó là những trẻ em bị một angoisse aigue khi nghĩ đến phải đi học. Ám ảnh sợ đi học (phobie scolaire) sẽ được biểu hiện bằng những cách khác nhau. Đó có thể là những rối loạn hành vi như sự khép mình lại, những rối loạn giấc ngủ, khóc hay những rối loạn vật lý như đau bụng, đau đầu…Nó biến mất khi nghỉ hè.

Hỏi : Nguyên nhân của ám ảnh sợ học đường (phobie scolaire) ?
GS Marie Rose Moro : Có nhiều nguyên nhân. Vài trẻ em, không nhiều, không muốn rời khỏi nhà, bởi vì đó là nơi duy nhất chúng cảm thấy được an toàn. Các trẻ em ngại con đường dẫn đến trường bởi vì chúng đã trải nghiệm một biến cố gây chấn động tâm thần. Sau cùng, ở ngay trường học, đứa trẻ sẽ phải đương đầu với sự tương quan của nó với kiến thức và với những trẻ khác. Nó có thể cảm thấy không có năng lực, không tốt, không được công nhận, đó là sự tương quan với kiến thức. Vài thiếu niên có một vấn đề với những người lớn, với uy quyền mà những người này biểu hiện, những trẻ khác sẽ không thành công xác định vị trí của mình trong quan hệ với những trẻ cùng trang lứa. « Chúng không thích tôi, chúng chỉ trích tôi », những trẻ em này đã nói như vậy. Trong trường hợp chỉ trích, ta gần với ám ảnh sợ xã hội (phobie sociale). Sau cùng những trẻ em khác đã trải nghiệm những biến cố gây chấn thương tâm thần ở trường, gây khó khăn cho chúng, như sợ bị sách nhiễu ở trường học

Hỏi : Ai bị liên hệ ?
GS Marie Rose Moro : Ám ảnh sợ đi học (phobie scolaire) là một hành vi (comportement), và sau hành vi (comportement) này có những tình huống cá nhân và gia đình, rất khác nhau. Thường nhất, ám ảnh sợ được thể hiện ở những thiếu niên, nhất là cuối trung học. Nhưng điều chắc chắn, đó là Pháp là nước châu Âu trong đó đó có nhiều chứng ám ảnh sợ học đường nhất, và điều này đang gia tăng. Chúng ta nằm trong đội dẫn đầu với những nước như Nhật hay Nam triều tiên ; những nước này có những hệ thống học đường rất tranh đua. Điều đó không có nghĩa rằng hệ thống học đường của chúng ta (Pháp) một mình chịu trách nhiệm, nhưng nó sẽ phát hiện và khuếch đại chứng ám ảnh sợ học đường.

Hỏi : Khi nào phải hỏi ý kiến bác sĩ và điều trị là gì ?
GS Marie Rose Moro : Những biểu hiện lo âu phải khiến đi khám bệnh. Nghĩa là khi đứa trẻ hay thiếu niên biểu lộ rằng điều đó làm nó lo âu, rằng nó không đạt đến được, rằng nó lạc lỏng hay cảm thấy không ổn khi nghĩ đến trường. Điều trị đòi hỏi một sự đánh giá đứa trẻ, với gia đình và ở trường. Tùy theo sự đánh giá này, chúng ta có thể đề nghị một tâm lý liệu pháp, một sự sắp xếp của trường, một sự theo kèm ở trường, thậm chí điều trị thuốc khi sự lo âu quá làm mất ổn định. Nhưng điều đó chỉ có thể được cá thế hóa. Thí dụ, nếu đứa trẻ thật sự rất sợ không thi đậu, ta sẽ đề nghị với nó trong một hay hai tháng chỉ theo những môn học mà nó không bị khó khăn, đồng thời theo kèm nó để giảm sự lo âu. Tôi cũng có thể yêu cầu các giáo sư không cho điểm trong một thời gian nào đó. Đôi khi, ta cho những liệu pháp gia đình (thérapie familiale) bởi vì toàn thể gia đình bị ảnh hưởng bởi triệu chứng này.

Hỏi : Ta có chữa lành chứng ám ảnh sợ học đường không ?
GS Marie Rose Moro : Vâng, ta chữa lành nó. Điều trị kéo dài, phải tính một năm học, nhưng đa số các trẻ em sẽ đi học lại trong một động lực tốt sau một tái tổ chức thậm chí đôi khi với cái giá của một sự thay đổi triệt để phương hướng. Ở khoảng 15% trong số chúng, ám ảnh sợ học đường che dấu những bệnh lý khác như những rối loạn nhân cách, những trầm cảm không điều trị, những đau khổ cũ được phát hiện bởi trường học…Đối với những thiếu niên này, điều trị có thể cần nhiều năm và nặng nề hơn. Nhưng luôn luôn có những khả năng hành động.
(LE FIGARO 30/8/2021)

IX/ CHỨNG LO ÂU CÓ PHẢI LÀ DO DI TRUYỀN ?
Nếu nhiều gène đã được nhận diện như là liên kết với nguy cơ lo âu (thí dụ, trong một mô hình chuột, sự làm bất hoat gène của thụ thể với sérotonine 5-HT1A gia tăng mức độ lo âu), không có « gène d’anxiété » nói riêng. Ngược lại, lớn lên với cha mẹ lo âu, và nhất là hạn chế những tương tác xã hội của họ và những tương tác xã hội của trẻ em, dường như làm gia tăng nguy cơ phát triển những rối loạn lo âu. Về phương diện neurobiologie, ta biết rằng cortex insulaire và amygdale, liên quan chủ yếu trong điều hòa những cảm xúc, được tăng kích hoạt ở những bệnh nhân lo âu. Nhiều chất dẫn truyền thần kinh là đích của các thuốc được sử dụng chống lo âu : thí dụ, những thuốc giải ưu nhắm GABA, và vài thuốc chống trầm cảm điều hoà nồng độ và hoạt tính của sérotonine.
(LE FIGARO 30/8/2021)

X/ TỰ TỬ CỦA THIẾU NIÊN : NHỮNG TÍN HIỆU BÁO ĐỘNG CẦN BIẾT

HAS khuyên nên xem trọng tất cả những ý nghĩ tự tử ở những người trẻ tuổi.
PSYCHIATRIE. «Em đã nghĩ đến tự tử ? » Haute Autorité de santé khuyên các thầy thuốc, cha mẹ hay các giáo viên, thường bất lực đứng trước sự khó ở (mal-être) của các thiếu niên, trong những khuyến nghị được công

bố 30/9, đặt câu hỏi một cách rõ ràng. Nói về tự tử không phải là một sự kích động chuyển qua hành động, trái lại đó là cách tốt nhất phát hiện những tình huống nguy cơ và xử trí chúng, BS Charles-Edouard Notre Dame, thầy thuốc tâm thần ở bệnh viện đại học Lille và chủ tịch của groupe de travail được triệu tập bởi HAS, đã đảm bảo như vậy.«Câu hỏi muốn chết, mà tôi đặt ra một cách hệ thống khi khám bệnh, làm ngạc nhiên nhieu các trẻ em », BS Bojan Mirkovic, thầy thuốc tâm thần ở Nouvel Hopital de Navarre, ở Evreux đã kể lại như vậy. Câu hỏi này đưa đến những lời đính chính thẳng thừng của các bệnh nhân không liên hệ, nhưng nó cho phép những bệnh nhân khác thổ lộ tâm tình. Thật vậy, những điều tra được thực hiện sau vài tự tử cho thấy rằng phần lớn các trẻ em đã không dám nói về điều đó, vì sợ không được xem trọng hay làm lo ngại những người thân. »
***7

Với những khuyến nghị này, HAS muốn giở bỏ điều cấm kỵ. Tự tử là nguyên nhân tử vong thứ hai ở những thiếu niên. Gần 600 thanh niên dưới 21 tuổi, đa số là những cháu trai, tự tử mỗi năm ở Pháp, trong khi khoảng 70.000 toan tính tự tử được thống kê.

Theo Charles-Edouard Notredame « sự phòng ngừa là một trách nhiệm tập thể, mỗi người có thể đóng một vai trò, Thầy thuốc tâm thần khuyên các cha mẹ « không bao giờ được tầm thường hóa » những lời nói của các con mình về sự chết, nhưng khuyên họ nói về điều đó một cách cởi mở, và không do dự khám thầy thuốc điều trị của mình, một maison des adolescents (nhà thiếu niên), một centre médico-psychologique.
Trầm cảm của trẻ em không giống với trầm cảm của người lớn, nhưng gồm những dấu hiệu thường khó giải thích. Tính dễ cáu, khí chất không ổn định, tựkhép mình lại, mất thích thú đối với những hoạt động thông thường, bỏ học, đi vào nghiện thuốc lá, khó ngủ…Các bậc cha mẹ nói với tôi rằng họ khó phân biệt điều thuộc về một sự khó ở sâu lắng (mal-être profond) và điều thuộc về crise de l’adolescence, Geraldine Chantal, psychologue ở association Phare, chuyên về phòng ngừa tự tử đã nhấn mạnh như vậy. Họ phải biết rằng một sự thay đổi triệt để hành vi kéo dài trong thời gian (một đứa trẻ tựcô lập, không quan tâm những điều từng mang lại thú vui) phải phát khởi báo động.» Những ý tưởng tự tử cũng có thể được phát khởi bởi những yếu tố bên ngoài, như một sự quấy nhiễu học đường hay một sự tấn công tình dục.
HAS cũng yêu cầu các thầy thuốc, các nhà giáo dục và các nhà giáo gia tăng cảnh giác. « Sự phát hiện dựa trên một sự nghe tích cực và một sự hỏi trực tiếp bệnh nhân », các chuyên gia ghi chú như vậy. Các chuyên gia khuyên sử dụng Bits, một trắc nghiệm phát hiện, được hiệu chính cho các médecins généraliste.Những chữ cái đầu của Bits nhắc lại 4 chủ đề cần đề cập, dầu động cơ của sự khám bệnh là gì : brimade (sự ăn hiếp), mất ngủ, thuốc lá và stress. Trong trường hợp nghi ngờ, thầy thuốc phải hỏi bệnh nhân về những ý tưởng tự tử hiện tại hay quá khứ. Thầy thuốc cũng có thể hướng bệnh nhân về một thầy thuốc tâm thần. «Người chuyên gia sẽ đánh giá trong cuộc nói chuyện đối mặt mức độ nghiêm trọng của cơn, bằng cách đo tần số, cường độ và tính chất xâm nhập của những tư tưởng tự tử, mức độ dự kiến kịch bản cũng như mức độ đau khổ mà thiếu niên cảm thấy, BS Notredame đã xác nhận như vậy. Ông cũng sẽ đánh giá tính dễ bị thương tổn của bệnh nhân mình. Những tiền sử gia đình, một rối loạn tâm thần, một sự sách nhiễu, một sự hỗ trợ bởi aide sociale lúc tuổi thơ là những yếu tố nguy cơ chuyển sang hành động. » Tuy nhiên bệnh cảnh sẽ có thể được dịu bớt bởi tất cả yếu tố của khung cảnh thuận lợi : những quan hệ gia đình có chất lượng, lòng chuộng đạo lý hay những niềm tin tôn giáo, năng lực của đứa trẻ yêu cầu sự giúp đỡ của những người chung quanh nó ,…Ngay cả ở giai đoạn này, điều quan trọng là lôi kéo sự chú ý của cha mẹ về những biên pháp thận trọng, thí dụ lấy đi những loại thuốc, cảnh giác.

Ở Association Phare, psychologue Géraldine Chanal thu thập détresse từ vài trẻ em. « Chúng nói rằng có cái gì đó không ổn ở chúng, rằng chúng như thế có một sự trống rỗng ở bên trong mà chúng không biết giải thích. »

Hội lấy làm tiếc một sự thiếu nhạy cảm hóa xã hội Pháp về chủ đề đau đớn này. « Khi chúng tôi can thiệp trong những trường trung học, các học sinh rất quan tâm, Thérèse Hannier, chủ tịch của hội đã chỉ rõ như vậy. hật vậy chúng không biết ngõ lời với ai khi chúng có một người bạn trong tình cảnh khó khăn.» Mặc dầu những thiết bị giáo dục y tế tâm thần hiện hữu. Được thực hiện trong lớp học, chương trình YAM gồm 3 giờ jeu de rôle (trò chơi đóng vai), những atelier interactif, những affiches éducatives và hai conférence một giờ về sức khoẻ tâm thần. Một nghiên cứu được thực hiện trong nhiều nước châu Âu đã cho thấy rằng nó làm giảm một nửa số những toan tính tự tử so với một nhóm các thiếu niên đã không tham gia chương trình này. Các trẻ em có năng lực chẩn đoán tính dễ thương tổn của mình với điều kiện có những chìa khóa, những phương tiện và sự cho phép nói về điều đó.
(LE FIGARO 11/10/2021)
Đọc thêm :
 – Suicide des enfants : TSYH số 527 : bài số 4
 – Suicide des adolescents : TSYH số 461 : bài số 1, 2, 3

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/2/2022)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s