Thời sự y học số 597 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. LẦN ĐẦU TIÊN MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐƯỢC GHÉP TIM HEO.

Những bác sĩ ngoại khoa Hoa Kỳ đã thành công ghép một trái tim phát xuất từ một con heo đuoc biến đổi về mặt di truyền trên một bệnh nhân 57 tuổi khi bệnh nhân này không thể nhận một ghép tim người vì tình trạng sức khỏe. Một bước tiến quan trọng mang lại nhiều hy vọng.
Đó là một bước tiến ngoại khoa quan trọng, mở ra những triễn vọng chưa từng có đối với những bệnh nhân đang chờ ghép cơ quan. Ở Bỉ, vào năm 2021, có 1350 bệnh nhân đang ở trên danh sách chờ. Các thầy thuốc ngoại khoa Hoa Kỳ của đại học Maryland đã thành công hôm thứ sáu 7/1/2022 ghép trên một bệnh nhân một trái tim phát xuất từ một con heo được biến đổi về mặt di truyền. Cuộc mổ, được cho phép vào đêm trước của năm mới 2022 bởi cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), đã kéo dài 8 giờ. Đó cũng là một première mondiale : lần đầu tiên, một tim động vật tiếp tục hoạt động bên trong một con người mà không bị thải bỏ tức thời.
David Bennett, 57 tuổi, người đã nhận tim heo, trước đó đã được tuyên bố không đủ điều kiện để nhận một ghép tim người vì lý do sức khỏe sa sút. Từ nay ông được theo dõi sát bởi các thầy thuốc để giám sát mọi nguy cơ nhiễm trùng và đảm bảo rằng cơ quan mới hoạt động một cách đúng đắn. Tiên lượng của bệnh nhân vẫn không chắc chắn, nhưng các thầy thuốc hy vọng vào thứ ba 11/1 có thể tat máy đã giữ bệnh nhân sống trong những tháng qua. « Đó hoặc là chết,  hoặc là trai tim heo được ghép này. Tôi muốn sống. Tôi biết rằng đó là khá mạo hiểm, nhưng đồ là lựa chọn cuối cùng của tôi », bệnh nhân đã tuyên bố như vậy, hôm trước cuộc mổ. Vào tháng 12 khi thầy thuốc đề nghị với ông cuộc mổ của cơ hội cuối cùng hoàn toàn chưa từng có này, bệnh nhân chỉ tìm hỏi một cách  hài hước để biết sau đó ông ta có sẽ còn có thể thỏ thẻ nữa  hay không.

MỘT TRIỂN VỌNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THIẾU CƠ QUAN
«Nó tạo những mạch đập, nó sinh huyết áp : đó là một trái tim », BS Bartley Griffith, người đã thực hiện cuộc ghép này, đã lấy làm hoan hỉ như vậy trong New York Times. « Bước tiến ngoại khoa quan trọng này xích chúng ta lại gần hơn một giải pháp cho vấn đề thiếu hụt cơ quan. Chúng tôi vẫn thận trọng nhưng chúng tôi cũng lạc quan vì première mondiale này sẽ cho phép mang lại một lựa chọn mới cần thiết cho những bệnh nhân trong tương lai. »

« Sự thiếu cơ quan là một vấn đề cấp thiết, thầy thuốc chuyên khoa tim Antoine Bondue (Erasme), giám đốc của Ligue cardiologique belge, đã xác nhận như vậy. Ở Bỉ ta thực hiện 60 ghép tim tối đa mỗi năm. Mọi chiến lược cho phép gia tăng năng lực ghép cơ quan nói chung hay những thiết bị hỗ trợ (dispositifs d’assistance) dĩ nhiên được hoan nghênh. » Theo những con số mới nhất của Eurotransplant, trên 1012 bệnh nhân được đăng ký ở Bỉ trên danh sách chờ năm 2020, chỉ khoảng một nửa đã có thể nhận một ghép (679 đã có thể được thực hiện nhờ những người hiến chết). Ở Bỉ, sự thiếu cơ quan này dẫn đến hàng trăm tử vong mỗi năm, hàng ngàn người ở Hoa Kỳ, ở đây gần 110.000 người Mỹ hiện trên danh sách chờ đợi.

NHỮNG BIẾN ĐỔI DI TRUYỀN VÀ CLONAGE DE GENES HUMAINS
Con heo mà tim ghép phát xuất đã được biến đổi về mặt di truyền để không còn sản xuất nữa một loại đường bình thường hiện diện trong tất cả những tế bào ở những huyết quản (nội mạc : endothélium), điều này gây nên một thải bỏ tức thời của cơ quan vào lúc ghép. Để hiểu tốt hơn tính tăng phản ứng miễn dịch (hyperréactivité immunitaire) này, liên kết với những kháng thể tự nhiên được sản xuất chống các vi khuẩn, chuyên gia về bệnh thận (néphrologue) và miễn dịch học Alain Lemoine (Erasme) thực hiện sự đối chiếu với những nhóm mau : « Anh có những kháng thể anti A hay anti B khi anh thuộc máu O, bởi vì anh có những vi khuẩn trong ống tiêu hóa ; chúng biểu hiện những loại đường trên các hồng cầu giống với những loại đường của nhóm A hay A (hay cả hai đối với AB)

Sự biến đổi di truyền này đã được thực hiện bởi xí nghiệp Revivicor. Xí nghiệp này cũng đã cung cấp một thận heo mà các thầy thuốc ngoại khoa đã nối kết một cách thành công với những mạch máu của một bệnh nhân trong tình trạng chết não vào tháng mười. Tổng cộng, 10 biến đổi di truyền đã được thực hiện, trong khi 6 gène người đã được thêm vào génome của donneur porcin để làm cho nó có thể dung nạp bởi hệ miễn dịch.
Tim heo được ghép đã được bảo quản trong một máy trước khi mổ. Ngoài ra một gène de croissance đã bị ức chế để ngăn cản cơ quan tiếp tục lớn lên sau khi ghép nó. Sau cùng équipe các nhà nghiên cứu đã sử dụng một thuốc thí nghiệm mới của hãng Kiniksa Pharmaceuticals, ngoài những thuốc được sử dụng thông thường, để ức chế hệ miễn dịch và phòng ngừa mọi sự thải bỏ.
Những tim heo đã được ghép thành công ở những khỉ đầu chó (babouin) bởi BS Muhammad Mohiuddin, giáo sư ngoại khoa ở đại học y khoa của Đại học Maryland. Ông đã xác lập programme de xénotransplantation cardiaque với BS Griffith và là giám đốc khoa học. Nhưng những vấn đề về an toàn và sự lo sợ làm phát khởi một đáp ứng miễn dịch nguy hiểm có thể đe dọa mạng sống đã ngăn cản sự sử dụng chúng ở người cho đến hôm nay. Cần ghi chú rằng 48 giờ đầu sau ghép là quan trọng nhất. Điểm quan trọng khác : không một biến đổi di truyền nào được thực hiện trên những con heo làm hại chúng và tất cả đều mạnh khỏe.

GHÉP DỊ LOẠI (XENOTRANSPLANTATION) : MỘT LỊCH SỬ DÀI
Ghép dị loại (xenotransplantation : ghép từ một động vật cho người) không phải là mới. Các thầy thuốc đã tiến hành những thí nghiệm từ ít nhất thế kỷ XVII. Vào thế kỷ XX, khỉ, cousin gần nhất của người, được ưu tiên. Trong những năm 60, những thận của chimpanzé đã được ghép cho người, nhưng tuổi thọ tối đa của những người nhận đã không vượt quá 9 tháng. Vào năm 1984, một tim của khỉ đầu chó (babouin) đã được ghép cho một em bé nhưng em bé này, được đặt tên « baby Fae » đã chỉ sống sót 20 ngày.

Những van tim heo đã rất được sử dụng ở người và da của heo có thể được sử dụng để ghép những người bị bỏng nặng.

Các con heo là những donneur d’organes lý tưởng vì lẽ kích thước của chúng, sự tăng trưởng nhanh của chúng.
(LE SOIR 12/1/2022)

II. VIRUS NGUỒN GỐC CỦA BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC ĐƯỢC CHÍNH THỨC NHẬN DIỆN
Virus của mononucléose là cần thiết cho sự phát triển của bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques). Một sự khám phá (tái) mở ra những triễn vọng điều trị.

Một nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn của Hoa Kỳ, được công bố hôm thứ năm 13/1 trong một tạp chí nổi tiếng Science, vừa xác lập một cách chính thức rằng một nhiễm bởi virus Epstein-Barr (EBV) đúng là đi trước sự xuất hiện của bệnh xơ cứng rải rác (SEP : sclérose en plaques) ở những người phát triển bệnh tự miễn dịch gây phế tật này, ảnh hưởng chú yếu những người trẻ và các phụ nữ.

Cho đến nay, một mớ phỏng đoán đã hội tụ để nhận diện thủ phạm hiện diện một cách hệ thống trên hiện trường. Mặc dầu ta không thể lẫn lộn nó. Được nghiên cứu từ nhiều năm nay, giả thuyết là khó chứng minh ; nhất là bởi vì EBV là rất thông thường : 95% của toàn thể những người trưởng thành bị nhiễm bởi virus thuộc họ herpès này, gây bệnh mononucléose. Ngoài ra, những triệu chứng của xơ cứng rải rác chỉ được biểu hiện khoảng một chục năm sau một nhiễm bởi virus EBV, vẫn hiện diện suốt đời trong cơ thể.

MỘT NGUY CƠ HAI ĐẾN BA LẦN CAO HƠN
« Mối liên hệ được mô tả từ khoảng một thập niên qua : 99% những bệnh nhân phát triển một xơ cứng rải rác đã từng tiếp xúc với EBV », thầy thuốc chuyên khoa thần kinh Vincent van Pesch (Saint-Luc) đã nêu lên như vậy.« ngoài ra những nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy rằng những người đã từng bị mononucléose có một nguy cơ hai đến ba lần cao hơn bị xơ cứng rải rác, tương quan với nồng độ kháng thể mà chúng chế tạo. Nguy cơ này cũng ba lần lớn hơn ở những trẻ hay những thiếu niên mà hệ miễn dịch chưa thành thục như ở những người trưởng thành. »
Đó là « nghiên cứu đầu tiễn đưa ra một chứng cớ thuyết phục về tính nhân quả », tác giả chính của nghiên cứu, Alberto Ascherio, giáo sư dịch tễ học của trường y tế công cộng Havard, đã lấy làm hoan hỉ như vậy. Để chứng tỏ điều này, các nhà nghiên cứu đã phân tích trong một thời kỳ 20 năm (từ 1993 đến 2013) những mẫu nghiệm máu của hơn 10 triệu quân nhân trẻ của quân đội Hoa Kỳ. Trong số những người này 955 người lính trẻ đã được chẩn đoán bị xơ cứng rải rác trong thời gian quân dịch. Tất cả (trừ một người) đều có những kháng thể chống EBV trong huyết thanh của họ. Ngoài ra họ có những chỉ dấu máu (marqueur sanguin) cho thấy sự biến đổi của các tế bào thần kinh, có thể phát hiện nhiều năm trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của xơ cứng rải rác.

NHỮNG TRIỄN VỌNG ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA
Theo những công trình này, nguy cơ mắc phải xơ cứng rải rác được nhân lên 32 lần sau khi đã từng bị nhiễm bởi virus Epstein-Barr. Như các nhà nghiên cứu đã nêu lên điều đó trong phần bình luận của nghiên cứu, thầy thuốc thần kinh của Saint Luc đến lượt mình nhắc lại rằng bệnh xơ cứng rải rác vẫn là một bệnh do nhiều yếu tố (maladie multifactorielle) mà những nguy cơ kiêm nhiệm (cumulatif) : một sự thiếu hụt vitamine D, chứng nghiện thuốc lá, một sự tăng thể trọng hay những yếu tố di truyền cũng đóng một vai trò trong sự phát triển của nó.
Mối liên hệ được xác lập boi nghiên cứu mở ra những triễn vọng điều trị và dự phòng chống lại virus EBV (và do đó chống lại xơ cứng rải rác), dầu đó là những thuốc chống virus hay vaccin. Hãng được phẩm Moderna mới đây đã loan bảo rằng công ty đã bắt đầu một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 để phát triển một vaccin à ARN messager chống EBV.

BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : 3 PHỤ NỮ ĐỐI VỚI MỘT ĐÀN ÔNG
Bệnh viêm mãn tính ảnh hưởng hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống), bệnh xơ cứng rải rác là nguyên nhân đâu tiên gây phế tật không do chấn thương ở người trưởng thành trẻ. Trên thế giới có khoảng 2,8 triệu người bị bệnh xơ cứng rải rác, trong đó 15.000 ở Bỉ. Chủ yếu đó là những người giới tính nữ (ba phụ nữ đối với một đàn ông) và thường nhất những người trẻ tuổi (giữa 20 và 40 tuổi).

Sự rối loạn của hệ miễn dịch mà bệnh lý này gây nên tấn công myéline, bao (gaine) dùng để bảo vệ những sợi thần kinh. Những thương tổn, được gọi là những « mảng » (plaques), vì hình dạng tròn, gây nên những triệu chứng (hay các đợt bộc phát) rất đa dạng tùy theo định vị của chúng. Ngày nay có một phổ rộng những loại thuốc để kềm hãm các đợt cấp tính
(LE SOIR 17/1/2022)
Đọc thêm :
– TSYH số 585 : bài số 8 (những triễn vọng mới)
– TSYH số 480 : bài số 7 (microbiote), 8 (biomarqueur)
– TSYH số 442 : bài số 6 (cellulules souches), 7
– TSYH số 441 : bài số 4 (tabac)
– TSYH số 440 : bài số 10 (les progrès)
– TSYH số 434 : bài số 5, 6 (IRM), 7 (điều trị bằng cellules souches)
– TSYH số 417 : bài số 6 (NDP-MSH)
– TSYH số 358 : bài  số 7
– TSYH số 322 : bài số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

III. ĐỘNG KINH : NHỮNG TIẾN BỘ MỚI

Chẩn đoán và điều trị động kinh đã đạt được những tiến bộ mà GS Bartolomei, nổi tiếng thế giới trong lãnh vực này, đã bình luận sau đây.
PR FABRICE BARTOLOMEI, chef du service d’épileptologie et rythmologie cérébrale, hopital de la Timone, AP-HM, Marseille université.

Hỏi : Ngày nay ta định nghĩa động kinh như thế nào ?
GS Fabrice Bartolomei. Như những rối loạn nhịp điện tạm thời có thể xảy ra ở tất cả các vùng của vỏ não. Với nhiều tỷ neurone của nó được nối kết nhau, qua chúng luồng thần kinh lan tràn, sự vận hành chức năng não, cũng như sự vận hành chức năng tim, trước hết là điện. Một động kinh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, với hai cao điểm tần số : trong thời kỳ thơ ấu và sau 65 tuổi. Nước Pháp có khoảng 700.000 người động kinh. Đối với 2/3 trong số họ, nguyên nhân được nhận diện : nguyên nhân đôi khi là di truyền, thường hơn liên kết với một thương tổn vỏ não, có thể bẩm sinh (những dị dạng của vỏ não), khối u, nhiễm trùng, mạch máu hay chấn thương.

Hỏi : Những khía cạnh khác nhau của động kinh ?
GS Fabrice Bartolomei. Chúng có nhiều đến độ tốt nhất nên nói là động kinh số nhiều. Cơn động kinh là toàn thể (crise généralisée) khi rối loạn nhịp lan tràn khắp vỏ não. Có 3 dạng : 1. Myoclonique, mà những giật cơ (secousses musculaires) có thể phóng bệnh nhân xuống đất. 2. Động kinh co cứng-co giật (épilepsie tonico-clonique) với té ngã, những co giật mạnh, són tiểu và hôn mê sau cơn nhiều phút. 3. Absence épileptique, không co giật, là một rối loạn tạm thời nhưng toàn bộ của tri giác. Thường nhất, những cơn là một phần (crises partielles, được gọi là khu trú), được định vị ở một vùng của vỏ não, do đó một loạt những dấu hiệu khả dĩ : giác quan (những ảo giác thị giác, khứu giác…), vận động (bàn tay, chi, cơ của mặt, những cử động tự động không tự ý), những rối loạn ngôn ngữ, lú lẫn. Một cơn khu trú có thể trở thành toàn thể. Ngoài ra, những động kinh, vì lẽ những rối loạn của sự chú ý và của trí nhớ và nhất là những rối loạn lo âu-trầm cảm mà chúng gây nên, có, ngoài cơn, một ảnh hưởng xã hội quan trọng đòi hỏi một xử trí toàn bộ.

Hỏi : Bilan gồm những gì ?
GS Fabrice Bartolomei. 1. Trước hết là một điện não đồ (EEG : électroencéphalogramme) ! Điện não đồ cổ điển (EEG de veille trong 20 phút), khả năng phát hiện thấp. Một EEG de sieste với làm mất ngủ trong đêm trước khi khám làm dễ sự bắt những tín hiệu đặc hiệu. 2. IRM não định vị những thương tổn vỏ não sinh những động kinh khu trú (épilepsies focales). 3. Tìm kiếm một nguyên nhân di truyền. 4. Một bilan neuropsychologique trong trường hợp rối loạn trí nhớ (plainte mnésique).

Hỏi : Những điều trị mới được sử dụng là những điều trị nào ?
GS Fabrice Bartolomei. Các thuốc chống động kinh có mục đích làm giảm tính kích thích (excitabilité) của các neurone. Chúng vẫn là cơ sở của điều trị. Ngoài những produit de référence (carbamazépine và valproate de sodium), hôm nay chúng ta có khoảng 20 loại thuốc, cho phép những phối hợp « à la carte », nhằm cải thiện độ dung nạp và tính hiệu quả. Cannabidiol, hữu ích trong vài động kinh, là một phần của kho trị liệu này. Sự kiềm chế tốt nhất của stress (các thuốc giải ưu, thérapies) khởi động cơn động kinh, vẫn được chấp nhận. 1/3 những động kinh khu trú đề kháng với thuốc. Ngoại khoa có thể chữa lành chúng trong 50 đến 80% những trường hợp. Để đảm bảo rằng zone épileptique nằm trong một vùng có thể mổ, ta bổ sung chụp hình ảnh IRM bằng một enregistrement vidéo-EEG des crises, một magnétoencéphalographie (ghi những từ trường bất thường của não) và, rất thường, một enregistrement stéréotaxique của EEG (S-EEG) qua những điện cực trong não. Một thử nghiệm lâm sàng duy nhất trên thế giới, sử dụng S-EEG liên kết với intelligence artificielle để nhắm đích tốt hơn hoạt động của vùng liên hệ, đang được thực hiện ở chúng tôi. Nếu không thể thực hiện ngoại khoa cắt bỏ (chirurgie ablative), sự cắm dưới da những máy kích thích, nhằm kích hoạt dây thần kinh phế vị ở cổ hay vài vùng của thalamus (trung tâm sâu mà các cơn đi qua) trong não, có thể mang lại một sự thuyên giảm nào đó cho 50% những bệnh nhân đề kháng thuốc. Sự kích thích điện (được gọi là qua sọ) bằng những dòng điện cường độ thấp trên da đầu đang được nghiên cứu, với những kết quả đầu tiên đáng phấn khởi. Tóm lại, nếu động kinh được kiểm soát tốt, cuộc sống của một phần lớn các bệnh nhân (2/3) gần như bình thường (lái xe, hoạt động thể thao…).Ngược lại, những động kinh đề kháng thuốc, rất hạn chế hoạt động, đòi hỏi một sự theo dõi chuyên khoa liên tục
(PARIS MATCH 13/1-19/1/2022)
 Đọc thêm :

Hỏi : Những điều trị mới được sử dụng là những điều trị nào ?
GS Fabrice Bartolomei. Các thuốc chống động kinh có mục đích làm giảm tính kích thích (excitabilité) của các neurone. Chúng vẫn là cơ sở của điều trị. Ngoài những produit de référence (carbamazépine và valproate de sodium), hôm nay chúng ta có khoảng 20 loại thuốc, cho phép những phối hợp « à la carte », nhằm cải thiện độ dung nạp và tính hiệu quả. Cannabidiol, hữu ích trong vài động kinh, là một phần của kho trị liệu này. Sự kiềm chế tốt nhất của stress (các thuốc giải ưu, thérapies) khởi động cơn động kinh, vẫn được chấp nhận. 1/3 những động kinh khu trú đề kháng với thuốc. Ngoại khoa có thể chữa lành chúng trong 50 đến 80% những trường hợp. Để đảm bảo rằng zone épileptique nằm trong một vùng có thể mổ, ta bổ sung chụp hình ảnh IRM bằng một enregistrement vidéo-EEG des crises, một magnétoencéphalographie (ghi những từ trường bất thường của não) và, rất thường, một enregistrement stéréotaxique của EEG (S-EEG) qua những điện cực trong não. Một thử nghiệm lâm sàng duy nhất trên thế giới, sử dụng S-EEG liên kết với intelligence artificielle để nhắm đích tốt hơn hoạt động của vùng liên hệ, đang được thực hiện ở chúng tôi. Nếu không thể thực hiện ngoại khoa cắt bỏ (chirurgie ablative), sự cắm dưới da những máy kích thích, nhằm kích hoạt dây thần kinh phế vị ở cổ hay vài vùng của thalamus (trung tâm sâu mà các cơn đi qua) trong não, có thể mang lại một sự thuyên giảm nào đó cho 50% những bệnh nhân đề kháng thuốc. Sự kích thích điện (được gọi là qua sọ) bằng những dòng điện cường độ thấp trên da đầu đang được nghiên cứu, với những kết quả đầu tiên đáng phấn khởi. Tóm lại, nếu động kinh được kiểm soát tốt, cuộc sống của một phần lớn các bệnh nhân (2/3) gần như bình thường (lái xe, hoạt động thể thao…).Ngược lại, những động kinh đề kháng thuốc, rất hạn chế hoạt động, đòi hỏi một sự theo dõi chuyên khoa liên tục.
(PARIS MATCH 13/1-19/1/2022)
 Đọc thêm :
– TSYH số 530 : bài số 4, 5 (cerveau virtuel)
– TSYH số 461 : bài số 4 (chirurgie)
– TSYH số 412 : bài số 4
– TSYH số 365 : bài số 9 (épilepsie chez l’enfant) và 10
– TSYH số 345 : bài  số 1-4
– TSYH số 268 : bài số 5

IV. THUỐC : CẨN THẬN SUỐT TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN
Automédication ( sự tự cho thuốc) và prescriptions (những kê đơn thuốc) vẫn thường gặp trong thời kỳ nguy cơ này đối với thai nhi

PREVENTION
Trong khi chờ đứa con đầu lòng của mình, 36% các phụ nữ sử dụng các thuốc theo sáng kiến của riêng mình. Ngay cả 48% làm điều đó trong khi họ chờ đợi đứa con thứ hai, theo một nghiên cứu được thực hiện vào đầu năm 2020 cho ANSM, nhân dịp phát động chiến dịch phòng ngừa của tổ chức này « Enceinte, les médicaments, c’est pas n’importe comment ».

Những dữ liệu khá gây quan ngại : thật vậysự tự cho thuốc trong thời kỳ thai nghén, ngay cả với những thuốc được xem như là vô hại,  có thể là một nguy hiểm thật sự đối với thai nhi. Ibuprofène là thí dụ chính. Thuốc chống viêm không stéroide (AINS) này được sử dụng rộng rãi để điều trị đau và sốt. Được bán không cần toa bác sĩ, thuốc này có mặt trong tất cả các tủ thuốc gia đình với những biệt dược khác nhau (Advil, Nurofen, Spedifen…). Thế mà nó hoàn toàn bị chống chỉ định kể từ tháng thứ 6 của thai nghén, bởi vì nó có thể gây nên ở thai nhi một độc tính tim-mạch hay thận đôi khi không thể đảo ngược, thậm chí tử vong.
Đó không phải là để làm cho chúng độc hại hay nói zéro médicament trong thời kỳ thai nghén. Nhưng đúng là để nhắc lại rằng trong thời kỳ này, phải đặc biệt cảnh giác và một cách hệ thống lấy ý kiến của một professionnel de santé, BS Christelle Ratignier-Carbonneil, tổng giám đốc của ANSM đã nhấn mạnh như vậy. Cơ quan quốc gia về an toàn dược phẩm và các sản phẩm y tế này đã phát động 20/10 giai đoạn hai của chiến dịch thuốc và thai nghén.

Nhưng automédication không phải là nguồn duy nhất của sự tiếp xúc với thuốc trong thời kỳ thai nghén. Thật vậy những người Pháp được kê đơn trung bình 9 loại thuốc trong thời kỳ này. « Ngay hôm nay, nhiều thầy thuốc không tự hỏi lắm về sự cần thiết kê đơn thuốc hay không trong thời kỳ thai nghén. Ngoài ra, ở Pháp, thuốc là giải pháp cho mọi vấn đề y tế. Đối với thầy thuốc thường khó nói với một bệnh nhân đến khám «Tôi không cho gì cả », BS Sylvain Bouquet, généraliste en Ardèche, đã giải thích như vậy.

Thế mà gần như toàn bộ các thuốc đều đi xuyên qua nhau. Vậy cho người mẹ một loại thuốc, đó là cho em bé tương lai. Nguy cơ sẽ khác nhau tùy theo thời kỳ thai nghén mà thuốc được kê đơn. « Hai tháng đầu của thai nghén là một thời kỳ đặc biệt nguy cơ bởi vì phôi thai thiết đặt những cơ quan của nó. Nếu sự sinh cơ quan (organogenèse) bị rối loạn bởi một loại thuốc, đứa trẻ có thể bị một dị dạng không thể đảo ngược. Những thuốc điều trị này được gọi là những thuốc sinh quái thai (agents térétogènes) », BS Elisabeth Elefant,trưởng Centre de référence sur les agents tétratogènes (Crat) đã giải thích như vậy. Cơ quan này, độc lập với công nghệ dược phẩm, có thể tiếp cận cho tất cả mọi người, phân tích những dữ liệu của littérature về những nguy cơ liên kết với các loại thuốc.

BIẾN ĐỔI ĐIỀU TRỊ
Trong số những thuốc sinh quái thai ta đặc biệt tìm thấy isotrétinoine, được kê đơn chống mụn (acné). Đã hai mươi năm chúng tôi làm việc để đảm bảo an toàn việc kê đơn loại thuốc này và chúng tôi còn chứng thực những thai nghén trong lúc điều trị với isotrétinoine. Thường thuốc điều trị được kê đơn đúng, nhưng thai nghén xảy ra sau khi quên là đã dùng thuốc. « Hoặc là người phụ nữ trẻ quên ngừng điều trị vài ngày trước khi có thai trong khi thuốc vẫn tồn tại 3 tuần trong máu », BS Annie-Pierre Jonville-Bera, tác giả của Médicaments et grossesse, đã giải thích như vậy.
Khoảng 2-3% các trẻ sinh ra với những dị dạng ; thuốc liên quan trong 5% những trường hợp. Điều đó chiếm 800 đến 1200 lần sinh mỗi năm. « Chính vì vậy, ở những phụ nữ có thai, hơn ở mọi người nào khác, tỷ suất lợi ích-nguy cơ phải được đánh giá tỉ mỉ trước khi cho một thuốc điều trị », BS Annie-Pierre Jonville-Bera nói tiếp.

Theo nguyên tắc chung, ta càng dùng ít thuốc thì càng tốt hơn. Nhưng không phải luôn luôn có thể. «Vài bệnh có thể nguy hiểm đối với thai nhi. Cũng như thế đối với những phụ nữ bị bệnh đái đường loại 1: nếu những đường huyết rất bị mất quân bình vào tam cá nguyệt đầu, thai nhi có nguy cơ nhân lên 10 lần bị những vấn đề não bộ và nguy cơ bị những dị dạng thận và tim nhân lên 4 lần », BS Cyril Huissoud, đại diện của Collège national des gynécologues obstértriciens français đã mô tả như vậy. Vậy đối với những phụ nữ bị hen phế quản, đái đường, viêm đa khớp dạng thấp, động kinh hay cao huyết áp, cần đặc biệt khuyến nghị bệnh nhân nên đề cập sự mong muốn có thai của mình với thầy thuốc để thay đổi điều trị. « Tôi ngay cả sẽ đi xa hơn : mọi bé gái, mọi thiếu nữ, mọi phụ nữ không mãn kinh là một phụ nữ có thai tiềm năng, BS Sylvain Bouquet đã nhắc lại như vậy. Đối với một bệnh nhân mà ta phải cho một điều trị kinh điển, phải xét đến khả năng của một thai nghén sau này và chọn, khi có thể được, một điều trị tương hợp. »
(LE FIGARO 11/10/2021)
Đọc thêm :
– TSYH số 412 : bài số 6 (Grossesse et médicaments)
– TSYH số 383 : bài số 9 (Dépakine et Grossesse)


V. NHỮNG PHẢN XẠ CẦN CÓ KHI DÙNG THUỐC TRONG THAI NGHÉN
Khi có thai, thận trọng và theo kèm là cần thiết khi ta dự kiến một điều trị.

1. Đi khám trước khi thụ thai
« Ngay cả khi không có vấn đề đặc biệt về sức khỏe, khuyên nên nói với một thầy thuốc hay một sage-femme ước muốn có thai của mình. Điều đó còn đúng hơn đối với những phụ nữ có một bệnh mãn tính, BS Sylvain Bouquet đã nhấn mạnh như vậy. Sự khám trước khi thụ thái (consultation préconceptionnelle) cho phép điểm lại về những điều trị đang được tiến hành, và nếu cần dự kiến thay đổi nó mà không stress trước khi thai nghén.

2. Không bao giờ tự cho thuốc
«Ta không dùng một thứ thuốc nào nếu không có ý kiến của một professionnel de santé. Và nhất là không dùng thứ thuốc được khuyên bởi bồ hay bà ngoại », BS Elisabeth Elefant đã nhấn mạnh như vậy. Điều đó cũng đúng voi những sản phẩm dựa trên thực vật, những huiles essentielles hay homéopathie, có thể chứa cồn. «Cũng đừng nghĩ rằng một thuốc dành cho nhũ nhi có thể được dùng không có nguy cơ  trong thai nghén », Sylvain Bouquet đã nhắc lại như vậy.

3. Thông báo cho nhân viên y tế về thai nghén của mình
«Tam cá nguyệt đầu tiên của thai nghén là một thời kỳ đặc biệt có nguy cơ. Đó cũng là lúc mà các thai nghén không luôn luôn được nhận diện », BS Cyril Huissoud đã giải thích như vậy. Hoặc bởi vì các phụ nữ chính họ không biết mình có thai, hoặc bởi vì tuc le muốn rằng người ta không loan báo rằng mình có thai trước cuối ba tháng đầu. « Trái lại họ phải loan báo điều đó càng sớm càng tốt với những nhân viên y tế theo dõi họ ». Như thế nhân viên y tế có thể xét đến điều đó trong điều trị của họ, BS Bouquet đã giải thích như vậy.

4. Không tự mình ngừng điều trị.
« Những bà mẹ tương lai không được cho rằng họ làm đúng khi tự ý mình ngừng một điều trị kinh niên. Đó không phải là một giải pháp đối với bà mẹ cũng như đối với thai nhi », Elisabeth Elefant đã cảnh báo như vậy. Thật vậy, một bệnh lý không được điều trị và bị biến chứng có thể tỏ ra nguy hiểm cho người mẹ và thai nhi. «Ta cũng có thể buộc phải can thiệp một cách hung tợn hơn nhiều đối với bà mẹ và trẻ em bởi vì căn bệnh sẽ xuống cấp nhiều trong quá trình thai nghén, người phụ trách Centre de référence sur les agents tératogènes nói tiếp. Ta cũng không tin một cách mù quáng vào những pictogramme trên các hộp thuốc. « Sự thiết đặt chúng thuộc quyền của những nhà chế tạo. Vài pictogramme được áp đặt trên những thuốc không nguy hiểm đối với phụ nữ có thai và có thể hữu ích đối với họ. »
(LE FIGARO 11/10/2021)

VI. MỘT VITAMINE LÀ GÌ ?
+ Đó là một phân tử hữu cơ (khác với những muối khoáng và những oligoélément, là những hợp chất khoáng). Các vitamine không cung cấp năng lượng nhưng cần thiết cho những phản ứng hóa học khác nhau trong cơ thể của chúng ta. Nhưng cơ thể không có khả năng tổng hợp chúng (ngoại trừ vitamine D và K) và như vậy chúng phải được mang lại bởi thức ăn. Ở người, 13 trong số chúng được gọi là « vitamines essentielles »
 + Năm 1910 : vào năm đó, người Nhật Umetaro Suzuki phân lập một phức thể các micronutriment mà ông gọi là «acide abérique» (hôm nay vitamine B1). Cũng năm 1910, người Ba Lan Casimir Funk cũng thực hiện khám phá này và đề nghị gọi nó là «vitamine»
 + 22% những người trưởng thành từ 17 đến 79 tuổi và 14% những trẻ từ 3-17 tuổi tiêu thụ những complément alimentaire ở Pháp
 + Hãy coi chừng sự dùng quá mức
« Tất cả các vitamine có thể đặt những vấn đề nếu chúng được dùng với liều rất mạnh », Mathilde Touvier, giám đốc nghiên cứu về dịch tễ học và dinh dưỡng ở Inserm đã cảnh báo như vậy. Những vitamine tan trong mỡ (A,D,E,K) có nhiều nguy cơ nhất, bởi vì chúng có thể tích tụ trong các mô mỡ, với những hậu quả lên hệ tiêu hóa, khung xương, các mạch máu và ngay cả não. Vài trường hợp hiếm hoi của những ngộ độc chết người do vitamine D đã được báo cáo với tăng canxi huyết và suy thận sau một thời kỳ dài tiêu thụ vitamine D trên mức được khuyến nghị. Nhưng sự thặng dư của những vitamine tan trong nước (vitamine hydrosoluble), được thải qua nước tiểu, cũng có thể có những hậu quả tiêu cực. Vitamine C có thể gây những rối loạn tiêu hóa nghiêm trọng và vitamine B6 có những hậu quả neuropathique. Thật vậy, phần lớn những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng những complément alimentaire chứa những vitamine không có tác dụng có lợi, và có thể có những hậu quả tiêu cực bằng cách làm rối loạn sự quân bình và những tương tác giữa các vitamine được cung cấp bởi một chế độ ăn uống lành mạnh.
(LE FIGARO 18/10/2021)

VII. VITAMINE D : MỘT SỰ THIẾU HỤT VỪA PHẢI RẤT PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI
Vitamine D là vitamine duy nhất trong số 13 vitamine thiết yếu, cần thiết cho con người, được tổng hợp bởi cơ thể từ cholestérol với sự giúp đỡ của ánh nắng mặt trời. Vitamine D cũng có mặt trong vài thức ăn nhưng với lượng rất nhỏ, trừ trong gan của các cá mỡ (poissons gras). Những chuyên gia đánh giá rằng một sự tiếp xúc ánh nắng của bàn tay và mặt trong 30 phút mỗi ngày đủ cho những nhu cầu về vitamine D, mặc dầu những thiếu hụt có thể xuất hiện vào mùa đông và đầu mùa xuân. 

Vitamine D là thiết yếu suốt năm, đặc biệt đối với sự vận hành của các cơ, của khung xương, của các tế bào thần kinh và của hệ miễn dịch. Trên quy mô toàn cầu, vấn đề về một nguy cơ thiếu hụt được đặt ra đối với những con người của thời đại mới, trái nhiều thời gian hơn trong nội thất mà không dùng dầu gan cá thu mỗi ngày vào mùa đông.

NHỮNG NHU CẦU RẤT THAY ĐỔI.
Tính phức tạp của chuyển hóa của vitamine D và sự điều hòa của nó, tinh tế như một kích thích tố, làm cho phần lớn các sự định lượng trong máu ít trung thực. Cũng dường như rằng những nhu cầu và sự sản xuất vitamine D rất biến thiên từ người này đến người khác. Thí dụ, những người có da sẫm màu hơn phải tiếp xúc với ánh nắng mặt trời lâu hơn để có được khá vitamine D. Vitamine D vì tan trong mỡ (liposoluble), nên nó có thể được tích trữ trong những tế bào mỡ, ở đây nó có ít hơn nhiều so với trong gan, điều này gia tăng những nhu cầu của những người béo phì. Sau cùng, vài giai đoạn biến hóa của vitamine D là ít hiệu quả hơn ở những người già, nhất là khi hoạt động vật lý cũng quyết định đối với sự hấp thụ của nó. Ngược lại, một sự thặng dư vitamine D có thể có những hậu quả nghiêm trọng.
Mặc dầu cộng đồng khoa học không đạt được một sự nhất trí về một nồng độ bình thường của vitamine D  trong máu, nhưng đồng ý một cách toàn bộ về những ngưỡng nguy cơ thiếu hụt (seuil de risques de carence). Ở Pháp, người ta đánh giá rằng, mặc dầu có ít  thiếu hụt vitamine D nghiêm trọng, nhưng gần 40% những người đàn ông và 50% những phụ nữ bị thiếu hụt vừa phải. Vài quốc gia, như Hoa Kỳ, đã chọn bổ sung vitamine D một cách hệ thống vài thức ăn như sữa. Pháp cho phép điều đó, mà không áp đặt, thí dụ trong các sản phẩm sữa. Đối với population générale, tạo điều kiện suốt năm những hoạt động ngoài trời và một chế độ ăn uống giàu cá mỡ vào mùa đông đủ để điều chỉnh một sự thiếu hụt vừa phải. Sự định lượng và sự cho bổ sung vitamine D là đối tượng của những chỉ định rất chính xác và chỉ được áp dụng đối với những quần thể có nguy cơ.
(LE FIGARO 18/10/2021)
Đọc thêm :
– TSYH số 518 : bài số 6
– TSYH số 375 : bài số 10 (AVC)
– TSYH số 367 : bài số 4 (HTA)
– TSYH số 322 : bài số 6 (vitamine D chống xơ cứng rải rác)
– TSYH số 280 : bài số 4, 5 (Tuberculose)

VIII. VITAMINE : THỨC ĂN ĐỦ ĐỂ TRÁNH PHẦN LỚN CÁC THIẾU HỤT
NUTRITION.«ít thiếu vitamine trong toàn dân, ngoại trừ vitamine D, Mathilde Touvier, giám đốc nghiên cứu về dịch tễ học và dinh dưỡng ở Inserm, đã nói như vậy. Người ta nêu lên vài thiếu hụt trong những đối tượng được nhắm, mà đối với họ ta phải chú ý hơn và nếu cần, bổ sung một cách thận trọng. Trong những năm 1990, sự lo ngại về quy chế vitamine (statut vitaminique) của những người Pháp đã khiến phải đánh giá lợi ích của một sự cho bổ sung một cách hệ thống. Cuối cùng những kết quả gây tranh cãi đã khiến tốt hơn là theo những khuyến nghị dinh dưỡng, đã tỏ ra có hiệu quả đối với phần lớn các vitamine và đối với phần lớn những người Pháp. Tuy nhiên những khuyến nghị này đã tiến triển nhiều từ 30 năm qua, không những bởi vì những kiến thức về các vitamine tiến triển, những ngưỡng cần đạt đến và cách định lượng chúng, mà còn vì sự tiến triển của những thói quen văn hóa và ăn uống biến đổi những cung cấp dinh dưỡng.

TRƯỜNG HỢP SCORBUT
Từ khi khám phá và xác định đặc điểm của những vitamine đầu tiên, vào đầu thế kỷ XX, các chuyên gia đã tìm cách phân lập chúng để cho bổ sung những bệnh nhân bị những bệnh lý liên kết với những thiếu hụt vitamine. Rất nhanh chóng, rõ ràng rằng những vitamine được phân lập này không luôn luôn hiệu quả như khi chúng được cung cấp bởi thức ăn và, cũng nhanh như thế, các thầy thuốc đã chứng thực rằng một sự thặng dư cũng có thể có những tác dụng tiêu cực. Vậy phải xác lập những ngưỡng (seuils) đối với mỗi vitamine, phải hiệu chính những định lượng để đo những ngưỡng này trong máu và nhận diện dang và lượng hiệu quả nhất để điều chỉnh những thiếu hụt. Nhưng, từ nay, mặc dầu những ngưỡng được ấn định một cách nhất trí khắp nơi trên thế giới và rằng những nguy cơ liên kết với sự cho bổ sung một cách hệ thống và với sự sử dụng không kiểm soát của những complément alimentaire cũng được nhận diện một cách rõ ràng, vấn đề lợi ích của định lượng và theo dõi những thiếu hụt vẫn còn tranh cãi.

Hôm nay, sau gần một thế kỷ nghiên cứu khoa học, rõ ràng rằng, trong lâm sàng cũng như trong những nghiên cứu dịch tễ học, và cũng như đã là như vậy vào đầu thế kỷ XX, chế độ ăn uống (alimentation) là nguồn phân tích và những khuyến nghị tốt nhất. Chỉ hai vitamine đã cho thấy không chút nghi ngờ lợi ích trong sự cho bổ sung : vitamine D và vitamine B9 đối với những phụ nữ có thai, bởi vì vitamine B9 cho phép phòng ngừa những dị dạng nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh. Đối với những vitamine khác và đối với phần lớn trong chúng ta, thức ăn vẫn là phương tiện an toàn nhất để tránh những thiếu hụt và sự quá liều (surdosage).
« Phần lớn những thiếu hụt mà tôi quan sát là do những lựa chọn cá nhân khiến xa rời những thói quen ăn uống cổ điển, GS Elisabeth Dubern, chuyên gia về dinh dưỡng và gastroentérologie pédiatrique ở bệnh viện Trousseau (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Không nên tưởng tượng rằng lấy đi vài thức ăn sẽ không có hậu quả. » Từ 10 năm qua vị giáo sư này đã thấy tái xuất hiện những trường hợp scorbut (do một sự thiếu hụt vitamine C trong những gia đình theo những régime mất quân bình bởi vì những người con áp đặt sự lựa chọn rất chọn lọc của chúng hay bởi vì những quyết định kỳ cục. « Sự không chịu được vài thức ăn, thường tạm thời, nhưng được xác nhận một cách sai lạc như là những dị ứng bằng những định lượng IgG không có sự liên quan với một dị ứng, đôi khi khiến cha mẹ loại bỏ hoàn toàn vài thức ăn, bà lấy làm tiếc như vậy. Chỉ một thầy thuốc chuyên khoa dị ứng (allergologue) mới có thể nhận diện những dị ứng thức ăn và đề nghị một sự đưa vào lại dần dần để tránh những mất cân bằng.

CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG
Trên thực tế, những định lượng máu là hiếm khi hữu ích để nhận diện những thiếu vitamine hay điều chỉnh chúng. Một bảng câu hỏi chính xác về những thói quen ăn uống và lối sống có thể đủ để nhận diện một nguy cơ thiếu trước khi những triệu chúng xuất hiện. Thí dụ, nếu các thầy thuốc hiếm khi lo ngại đứng trước một régime végétarien đưa vào vài protéine động vật, họ cũng có thể xác minh rằng sự cung cấp sắt bởi légumineuses có thể đủ để thay thế sự vắng thịt đỏ (viande rouge). Một régime végétalien (không có một chút protéine động vật nào), sẽ cần tối thiểu một sự cho bổ sung vitamine B12 và vài chất dính dưỡng khác. Quá ít hoạt động vật lý và quá ít thời gian ngoài trời có thể có một nguy cơ thiếu vitamine D.
Trong phần lớn các trường hợp, một thông tin dinh dưỡng tốt đủ để phòng ngừa những nguy cơ thiếu, với những thông điệp y tế công cộng, nhằm thích ứng một cách đều đặn với những thay đổi thói quen. Thí dụ nếu « năm trái cây và rau xanh mỗi ngày» da khuyến khích sự tiêu thụ chúng, nhưng điều này cũng khiến làm dễ sự sử dụng chúng dưới dạng nước vắt trái cây (jus de fruit), ít chứa vitamine C hơn và nhiều đường hơn. Trong những khuyến nghị mới nhất vào tháng tư 2021, Anse đã loại bỏ các nước vắt trái cây ra khỏi danh sách các trái cây và rau xanh… với hy vọng rằng những thiếu niên đã có những phản xạ xấu,  (bằng lòng với một jus de fruit vào bữa ăn sáng), sẽ hoán đổi nước vắt trái cây với một ly sữa, mà calcium bắt đầu thiếu khi chúng đang còn trong thời kỳ tăng trưởng.

Chiến lược thích ứng những khuyến nghị minh họa tốt những can thiệp hiệu quả nhất là gì, ngay cả ở mức cá nhân:  biết rõ những bệnh nhân của mình, nhận diện những nhu cầu đặc thù của họ tùy theo tuổi tác, lối sống, tình trạng sức khỏe và đảm bảo rằng chế độ ăn uống của họ đáp ứng những nhu cầu này, và chỉ cho bổ sung lượng thiếu khi có một sự biến đổi các thói quen không đủ. Như thường xảy ra, phương pháp này cần nhiều thời gian hơn là kê đơn một định lượng máu và/hay những vitamine mà không hy vọng điều chỉnh vấn đề trong thời gian dài hạn. Nhưng há không tốt hơn là học câu cá hơn là được cho cá.

THIẾU NIÊN : MỘT SỰ TĂNG TRƯỞNG
Những thách thức tích tụ đối với dinh dưỡng của các thiếu niên, ngay bữa ăn sáng. Trong khi sự tăng trưởng của chúng chưa hoàn thành, sự thiếu ngủ mãn tính và những thức dậy khó ngủ khiến chúng thường thay thế sữa và những chất dinh dưỡng phức tạp bằng một bol de chocolat với những tartine hay céréales bằng một ly nước vắt trái cây quá ít chất dinh dưỡng hay cantine không đề nghị một chế độ ăn uống đa dạng đối với những bữa ăn khác hay nếu các thiếu niên dấn vào trong những régime bị mất quân bình do niềm tin hay do lo lắng thẩm mỹ, vài vitamine có thể thiếu: C, B12, và dĩ nhiên vitamine D nếu những độ cách hơn những hoạt động ngoài trời.

THAI NGHÉN : CẦN VITAMINE B9 TRƯỚC KHI CÓ THAI
Sự cho bổ sung vitamine B9 được khuyến nghị ngay khi sự ước muốn có con được gợi lên, để phòng ngừa những hậu quả kinh khủng của một sự thiếu đối với thai nhi, ngay những tuần đầu của thai nghén. Một liều bổ sung nhỏ vitamine D có thể được đưa vào nhưng, đối với những vitamine khác, nếu người mẹ không thiếu, thì em bé cũng không. Những thặng dư cũng có thể có những tác dụng tiêu cực đối với nó. Ngược lại, khi người mẹ cho bú, không nên quên rằng em bé có thể trích lấy những lượng không phải ít của những vitamine (và calcium), mà phải bù bằng một chế độ ăn uống đặc biệt đa dạng và phong phú 

LÃO NIÊN: NHỮNG LIỀU NHỎ VITAMINE D
Những nghiên cứu được tích lũy : bắt đầu từ 50 tuổi, sự cho bổ sung vitamine D cho phép phòng ngừa chứng loãng xương, vài rối loạn tim-mạch và, đối với những người già, những té ngã. Thật vậy, vitamine này được sản xuất với lượng ít lớn hơn và được phân bố ít tốt hơn trong cơ thể. Sự cho bổ sung phải được thực hiện thường xuyên với liều ít cao, để tránh những đình canxi huyết có hại : sự nhất trí là không kê đơn hơn 50.000 UI, ít nhất mỗi 6 tuần. « Hữu ích hơn là có thể cho những liều nhỏ mỗi ngày, gần hơn với sự vận hành chức năng tự nhiên của cơ thể, như điều đó được thực hành ở những em bé », GS Marc Bonnefoy, trưởng khoa médecine gériatrique ở bệnh viện Sud de Lyon, đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 18/10/2021)

IX. UNG THƯ TMH DO VIRUS : CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA

Hỏi : Incidence hiện nay của ung thư này ?
GS Haitham Mirghani : Incidence tiến triển trong nhiều nước phương tây, không phải do rượu và thuốc lá, thường chịu trách nhiệm những ung thư khẩu- hầu (oropharynx : vùng trong họng chỉ các amygdale và đáy lưỡi), nhưng do papillomavirus. Những virus này, chín trường hợp trên mười dưới dạng của numéro 16, là nguyên nhân của khoảng 40% của 5000 ung thư mới của khẩu- hầu, được chẩn đoán ở Pháp năm 2018. Numéro 16 cũng có thể gây ung thư cổ tử cung nhưng khoảng một tá những papillomavirus gây ung thư khác cũng vậy. Ở Đan Mạch và ở Hoa Kỳ, tác động còn tệ hơn ở Pháp, incidence của những ung thư do virus này từ năm 1990 đã tăng gấp ba, đến độ chúng đã trở nên thường gặp hơn chính những ung thư của cổ tử cung.

Hỏi : Nhiễm bởi papillomavirus được truyền như thế nào ?
GS Haitham Mirghani : Đó là nhiễm virus được lây bằng đường sinh dục thường gặp nhất, mà gần 80% những người hoạt động sinh dục mắc phải. Những giao hợp miệng-sinh dục (rapport orogénital), mà sự thực hành được phổ biến với cuộc cách mạng tình dục của những năm 1950, là nguyên nhân của những nhiễm virus : 3 đến 4% của population générale mang trong miệng một papillomavirus oncogène và 1% đặc biệt mang numéro 16. Trong đa số các trường hợp, nhiễm là không triệu chứng và hệ miễn dịch loại bỏ nó không hậu quả trong 6 đến 24 tháng. Papillomaviru tồn tại ở một thiểu số cá thể, mà vài người phát triển trong những thập niên tiếp theo một loạn sản (dysplasie : thương tổn tiền ung thư) và đôi khi sau đó một ung thư.

Hỏi : Những đặc điểm của những ung thư này ?
GS Haitham Mirghani : Chúng được quan sát một cách điển hình ở những người đàn ông (4 lần thương hơn ở đàn bà) trong lứa tuổi 60, có sức khoẻ tốt và hút thuốc ít hay không hút thuốc. Những triệu chứng ban đầu thường rất kín đáo (thí dụ chỉ khó chịu ở hầu). Vài người đến khám vì một u không đau ở cổ , thường được cho là một kyste trong khi đó là một di căn hạch. Những bệnh cảnh lâm sàng bề ngoài có vẻ vô hại này, tương phản với stéréotype thông thường của những ung thư họng ở bệnh nhân nghiện rượu và thuốc lá, điều này tạo điều kiện cho những sai lầm chẩn đoán kéo dài. Trái lại, đáng ra chúng phải gợi lên khả năng của một ung thư do papillomavirus.

Hỏi : Ta xác nhận chẩn đoán như thế nào ?
GS Haitham Mirghani : Bằng cách phân tích một mẫu nghiệm lấy từ khối u (sinh thiết) khi thực hiện một nội soi với gây mê tổng quát. Tính chất virus của ung thư được xác nhận bởi những test biologique. Chụp hình ảnh (scanner, IRM) đánh giá một sự lan rộng đến các hạch của cổ và/hay đến những cơ quan ở xa (phổi…). Sau bilan, giai đoạn của khối u được xác nhận và chiến lược điều trị được bàn bạc trong buổi họp nhiều chuyên khoa (en réunion pluridisciplinaire)

Hỏi : Điều trị như thế nào ?
GS Haitham Mirghani : Ở những giai đoạn sớm, các bệnh nhân được mổ (lý tưởng bằng robot) hay được xạ trị. Ở những giai đoạn tiến triển, cần những điều trị xâm nhập hơn (giải phẫu tiếp theo bởi xạ trị hay xạ-hoá trị). Tiên lượng của những ung thư gây nên bởi papillomavirus là tốt hơn nhiều đối với những ung thư liên kết với rượu và/hay thuốc lá, với gần 90% tỷ lệ chữa lành ở những giai đoạn sớm. Để hạn chế những di chứng của những điều trị (khô miệng, những rối loạn nuốt…) mà không ảnh hưởng tỷ lệ thành công, những protocole giảm thang điều trị đang được đánh giá.

Hỏi : Phải chăng có thể phòng ngừa ?
GS Haitham Mirghani : Sự phòng ngừa ở những người trẻ của hai giới tính từ nay có thể thực hiện  ngay 11 tuổi. Nó dựa trên vaccin chống papillomavirus. Tính hiệu quả của vaccin để làm giảm incidence của những nhiễm virus, cũng như của những thương tổn loạn sản (lésions dysplasiques) và ung thư, đã được chứng minh ở hậu môn-sinh dục. Những dữ liệu mới đây gợi ý rằng cũng như vậy đối với khu vực TMH. Ở những người trưởng thành, sự điều tra phát hiện của các thương tổn tiền ung thư hay các ung thư giai đoạn đầu của khẩu hầu, như người ta thực hành điều đó đối với cổ tử cung, chưa khả thi. Những équipe khác nhau đang làm việc để giải quyết thiếu sót này.
(PARIS MATCH 23-29/12/2021)
 Đọc thêm :
– TSYH số 446 : bài số 1-4 (cancer de la gorge)
– TSYH số 473 : bài số 7 (papillomavirus)

X. NHỮNG HÀNH ĐỘNG HUNG BẠO Ở NHỮNG TRẺ VỊ THÀNH NIÊN : NHỮNG NGUYÊN NHÂN VÀ PHƯƠNG CỨU CHỮA
Sự bạo hành gia tăng ở các thiếu niên và có thể dẫn đến tội ác vô cớ. 
Nhận định về hiện tượng gây quan ngại này.
JEAN-LUC AUBERT, psychologue spécialiste des enfants, des adolescents et de leur famille et créateur de la chaine YouTube Questions de psy.

Hỏi : Bạo hành vô cớ (violence gratuite). ở các trẻ vị thành niên đang tiến triển. Nó đến từ đâu ?
Jean-Luc Aubert. Nó không liên quan với một sự gia tăng của những rối loạn tâm thần (personalité antisociale, tâm thần phân liệt…), thuộc về phạm vi tâm thần học và đôi khi có thể là nguồn gốc của những hành vi phạm tội (conduites criminelles). Trước hết nó có tính chất gia đình và giáo dục, được khuyến khích bởi 4 yếu tố. 1. Một vết thương tinh thần lành sẹo kém, mà chỉ cần một cái nhìn hay một chữ cũng có thể kích động thành sự giận dữ. 2. Một cảm tưởng không thuộc về gia đình mình và/hay trường học. 3. Sự kiện được nuôi dạy trong một bầu không khí bạo hành mà, cha mẹ thường đã trải nghiệm, lập lại, trở thành chuẩn. 4. Sự không hội nhập những quy tắc xã hội và những nguy cơ nếu ta vi phạm chúng. Ở vài thiếu niên, những yếu tố này duoc lũy tích.

Hỏi : Điều gì đặc trưng những thiếu niên ?
Jean-Luc Aubert. Tuổi thiếu niên là một giai đoạn chuyển tiếp tế nhị của cuộc sống, trong đó đứa trẻ có khuynh hướng xét lại những điểm mốc gia đình (repère familial) và tìm ở nơi khác những điểm mốc khác. Nó tìm kiếm bản sắc vật lý và tinh thần (identité physique và psychique), ngay khi tự chất vấn chính mình, và điều đó làm nó âu lo. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, tất cả các thiếu niên đều lo âu, nhưng vài trẻ lo âu hơn những trẻ khác, do bởi lịch sử của chúng hay fragilité của chúng. Anxiété générale được tạo bởi đại dịch và những thất vọng liên kết với những điều cấm đoán mà đại dịch sinh ra không giải quyết gì hết. Phản ứng lại, trẻ thiếu niên nóng nảy có thể tự tấn công mình (scarification, tự tử) hay tấn công những kẻ khác (tối thiểu, chính đứa trẻ đáp trả lại cha me ; tệ hại hơn, sự hung bạo của nó giết người)

Hỏi : Làm sao giải thích sự tạo thành băng đảng ?
Jean-Luc Aubert. Những băng đảng được liên kết với cảm giác không thuộc về một nhóm (sentiment de non-appartenance) thực hay được cảm thấy. Nhóm đầu tiên mà ta thuộc về và khiến an toàn nhất là gia đình. Đứa trẻ tìm thấy ở đó vị trí của mình, giữ một vai trò ở đó, có thể cậy vào gia đình và gia đình cậy vào đứa trẻ : đó rất làm an lòng, làm ổn định, structurant. Vài thiếu niên, do thiếu đối thoại, chú ý, chia sẻ, không có vị trí này và không có cảm giá có nó. Chúng tự cảm thấy (một cách vô thức) như bị loại khỏi cái thực thể xã hội primordiale này. Và nếu những khó khăn học đường thêm vào đó, đó là double exclusion. Do đó, những người trẻ này là những con mồi dễ dàng cho những nhóm không lành mạnh : các băng đảng (bandes) (về sau là secte), ở đây chúng tìm thấy một vị trí và một vai trò. Vấn đề của những băng đảng này là chúng được xây dựng và phát triển chống những băng đảng khác, chống mô hình xã hội truyền thống, và không cùng với những băng đảng khác, như một nhóm lành mạnh.

Hỏi : Vai trò của những mạng xã hội và những jeux vidéo ?
Jean-Luc Aubert. Những mạng xã hội có những khía cạnh tích cực : chúng cho phép các thiếu niên học và chia sẻ mặc dầu những điều kiện trao đổi hạn chế. Nhưng chúng có thể có hại khi, thí dụ, vài trẻ dùng để xây dựng hình ảnh của mình, để hiện hữu, tự dàn cảnh, qua những hình ảnh sỗ sàng làm hạ giá trị chúng và quay lại chống chúng (sử sách nhiễu trên Internet bởi những thiếu niên ác tâm). Ngoài ra, những thành viên của những nhóm không lành mạnh có khuynh hướng trao đổi trong mạng khép kín, điều này củng cố chúng trong những ý tưởng và không để một chỗ nào cho sự chỉ trích hay một cách suy nghĩ khác. Về những jeux vidéo nhân cách hóa những con người chết dễ dàng những hồi sinh  ở mỗi hiệp, đại đa số chúng là những phương tiện thỏa thuê (défouloir) có lợi, và, chỉ đối với một thiểu số, một chất kích hoạt (activateur), trong đó viễn tưởng và hiện thực không có biên giới.

Hỏi : Những biện pháp nào để cứu chữa sự bạo hành này ?
Jean-Luc Aubert. Biện pháp đầu tiên là gia đình : nó thiết lập ngay từ đầu một đối thoại và một bầu không khí tin cậy, là hai con chủ bài cho phép cha mẹ hướng dẫn đưa trẻ, giữ an toàn nó và an tâm về những gì mà nó sống ; khi đó những nguy cơ dérapage rất thấp. Biện pháp thứ hai là xã hội : sự đi học bắt buộc mới đây lúc 3 tuổi (mẫu giáo), với một sự chú ý đặc biệt dành cho ngôn ngữ và các trẻ yếu ớt (15-20%), sẽ cho phép, bằng cách bắt đầu sớm sự giáo dục, cho các trẻ một vị trí thật sự trong xã hội của chúng ta. Đó là một bước tiến quan trọng.
(PARIS MATCH 8-14/4/2021)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/1/2022)



Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 597 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 603 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s