Thời sự y học số 585 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I. SỮA MẸ : CÁC TRẺ SINH NON, CÁC EM BÉ ĐỦ THÁNG VÀ CÁC BÀ MẸ, TẤT CẢ ĐỀU ĐƯỢC LỢI.

MATERNITE.

Theo OMS, đó là một phương tiện vô song cung cấp một thực phẩm lý tưởng cho sự tăng trưởng và phát triển sức khoẻ tốt của nhũ nhi, một phần của quá trình sinh sản và có những hiệu quả quan trọng lên sức khỏe của bà mẹ. Điều này không cần phải chứng minh : mặc dầu các nhà công nghiệp đã biết phát triển những sữa có chất lượng tốt, tuy nhiên không gì bằng sữa mẹ ít nhất trong 6 tháng đầu của đời sống.

Không phải tranh cãi, các trẻ sinh non là những trẻ được hưởng lợi. « Có ngay cả một effet dose : trẻ sinh non càng nhận sữa mẹ trong lúc nhập viện thì sự phát triển của nó càng tốt hơn, GS Jean-Charles Picaud, trưởng khoa hồi sức trẻ sơ sinh của hôpital de Croix-Rousse ở Lyon và chủ tịch của Association des lactariums de France, đã đảm bảo như vậy. Đó cũng có lợi để phòng ngừa vài biến chứng liên quan đến tình trạng sinh non như entérocolite ulcéro-nécrosante (viêm ruột đột ngột) ». Sữa mẹ cũng làm giảm nguy cơ bị những biến chứng nhiễm trùng, phổi.

Một cách tổng quát, các bà mẹ muốn cho con bú thường quyết định trước khi sinh. Nhưng không cần thiết một sự chuẩn bị nào, các tuyến vú phát triển trong thời kỳ thai nghén dưới tác dụng của các kích thích tố. « Khi một bà mẹ không dự kiến cho bú và sinh non, bà mẹ có thể thay đổi ý kiến xét vì lợi ích đối với em bé của mình, GS Cyril Huissoud, trưởng khoa sản, và Valérie Vaudrey, sage-femme consultante en lactation ở hôpital de la Croix-Rousse, Lyon, đã giải thích như vậy.Nếu em bé quá yếu để bú, chúng tôi sẽ dạy cho bà mẹ hút sữa như thế nào. Đầu giai đoạn sein-contact, sự cho bú với một đầu vú giả bằng silicone trở nên có thể, rồi cho bú trực tiếp. »

Đó là nhanh hơn đối với một em bé sinh đủ tháng : nó được cho tiếp cận với vú hai giờ sau khi sinh. Cho bú không là tự nhiên lắm, điều đó được học và không nên sợ được giúp đỡ, vì lẽ thời gian lưu lại ở maternité càng ngày càng ngắn. Chương trình Hôpital ami des bébés tạo tất cả các khả năng để sự cho bú được bắt đầu tốt, GS Gisèle Gremmo-Féger, chuyên gia về allaitement maternel đã nhấn mạnh như vậy. Mục tiêu duy nhất cho phép xác nhận rằng người mẹ nuôi con mình đủ là dynamique phát triển của nó : nếu đường cong trọng lượng nằm trong chuẩn, đó là em bé ăn khá đủ. Mối lo lắng thường gặp là một em bé không biết rút sữa từ vú mẹ và điều đó được sửa chữa. 

Những lợi ích của sự cho bú cũng liên quan nhưng em bé sinh đủ tháng. Sự cho bú được liên kết với một một hậu quả ỉa chảy ít hơn trong những tháng đầu. Các em bé được cho bú ít nhất 3 tháng có một nguy cơ bị nhập viện trong một thời gian dài thấp hơn (hơn 4 đêm) và một nguy cơ nhờ đến các kháng sinh trong hai năm đầu của cuộc sống ít hơn (nhưng không dị ứng ít hơn), BS Blandine de Lauzon-Guillain, giám đốc nghiên cứu Inrae ở Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học và thống kê (Cress) đã nhấn mạnh như vậy.« Có những dữ liệu khớp nhau ủng hộ cho một vai trò quan trọng của sự cho bú sữa trong sự hình thành một microbiote intestinal có chất lượng », BS Gremo-Féger đã nói như vậy.

 Những người mẹ cho bú cũng được lợi. « Điều đó làm dễ sử trở lại trọng lượng trước khi sinh và làm giảm nguy cơ trầm cảm hậu sản », Valérie Vaudrey đã nhắc lại như vậy.«Trong thời gian dài hạn hơn, sự việc đã cho bú, và nhất là đã cho bú trong thời gian lâu (effet-dose), là một lợi thế trong sự phòng ngừa cao huyết áp và béo phì. Cũng có những dữ liệu đáng lưu ý về endométriose và SEP (ít còn hơn trong thời kỳ hậu sản) và một lợi ích trong phòng ngừa của vài ung thư vú và buồng trứng », BS Gremmo-Féger đã nói rõ như vậy.

« Sự cho bú đôi khi diễn ra trong một thời gian rất ngắn, GS Huissoud đã nhận xét như vậy. Có mode de tétée d’accueil, được giới hạn vào lần bù đầu vì nhiều sữa non (colostrum) ; sữa này đến xâm thực ruột của em bé và mang lại cho nó một microbiote tốt hơn, những lợi ích này được giả định ». Tuy nhiên một lần bú duy nhất không phải là chuẩn : trong cohorte Elfe, được chỉ đạo bởi BS Marie-Aline Charles (đã đưa vào hơn 18.000 trẻ em sinh đủ tháng vào năm 2011), 7 em bé trên 10 được cho bú lúc sinh (hơn 90% trong các nước Bắc âu), rồi chúng chỉ còn 54% lúc 1 tháng và thời gian trung bình của sự cho bú là 3,5 tháng, BS de Lauzon-Guillain đã nói rõ như vậy. Sự trở lại làm việc làm phức tạp sự tiếp tục của sự cho bú sửa mẹ : không có ngày nghỉ, và «những phụ nữ có một thời gian nghỉ đẻ dưới 10 tuần cho bú ít hơn và trong một thời gian ngắn hơn », BS de Lauzon-Guillain đã ghi chú như vậy.

 Sự cho bú sửa mẹ dĩ nhiên phải là một lựa chọn từ phía bà mẹ.»Ta không thể áp đặt điều đó ở một bà mẹ không muốn, điều đó không ổn trên bình diện sinh lý », Valérie Vaudrey, sage-femme, ở bệnh viện Croix-Rousse, Lyon, đã nhấn mạnh như vậy.Tuy nhiên cần phải giúp đỡ nhiều hơn, nhất là để vượt qua những chướng ngại của việc thực hiện : « Các phụ nữ sinh con hiện nay thường đã ít được cho bú bởi các bà mẹ của mình. Mang lại một hỗ trợ bổ sung cho những bà mẹ sinh con đầu tiên, không có kinh nghiệm về sự cho bú ở những người thân cận, hay đối với họ một kinh nghiệm đầu tiên đã diễn ra xấu, sẽ là hữu ích ».

(LE FIGARO 6/9/2021)

Đọc thêm :
– TSYH số 513 : bài số 7

II. 70.000 LÍT ĐƯỢC THU THẬP MỖI NĂM TRONG NHỮNG LACTARIUM.

Bộ y tế dành ưu tiên sữa mẹ cho các trẻ sinh non, và Pháp thuộc về các nước châu Âu, ở đó ta đếm được nhiều lactarium nhất. « Ở Pháp có 36 lactarium, GS Jean-Charles Picaud, trưởng khoa hồi sức sơ sinh của hopital de la Croix-Rousse ở Lyon và chủ tịch của Association des lactariums de France đã nói rõ như vậy. Mọi bà mẹ có quá nhiều sữa được mời tiếp xúc lactarium gần nhất để cho sữa, rất quý giá, hơn là vất bỏ nó.»

Các bà mẹ cũng được khuyến khích cho các trẻ sinh non bú sữa, bởi vì những nhu cầu về sữa của lactarium cho các trẻ sinh non không thể hoàn toàn được đảm bảo. Điều đó có thể, ngay cả sau một césarienne : phải nhờ đến tire-lait trong 6 giờ sau khi sinh và một cách đều đặn (6-8 lần mỗi ngày). Mọi bà mẹ sinh một trẻ sinh non sẽ có thể rút đến 1/2 litre sữa mỗi ngày, ngay tuần lễ thứ hai. Chú ý : sự việc có một em bé trong hồi sức sơ sinh gây căng thẳng, thế mà những xúc cảm có thể tác động lên năng lực rút sữa.

Trong những trường hợp thuận lợi nhất, một khi trở về nhà với em bé của mình, bà mẹ có thể hiến sữa dư của mình cho lactarium. « Đó là loai sữa làm chúng tôi quan tâm, bởi vì có một khác nhau nhỏ về thành phần giữa một bà mẹ sinh non (sữa hơi nhiều protéine hơn) và một bà mẹ sinh đủ tháng », GS Picaud đã định rõ như vậy.

 Sữa mẹ được xử lý trong những lactarium của Pháp (khoảng 70.000 lit mỗi năm) là một nửa sữa được cho dành cho con mình và một nửa sữa hiến. Đối với những trẻ sinh non trước 6 tháng (grand prématuré), sữa này được pasteurisé. Sữa đổi dào những chất dinh dưỡng, bởi vì những nhu cầu của những em bé này về protéine, năng lượng và chất khoáng là tăng cao. Một khi được pasteurisé, sữa mẹ có thể được bảo tồn trong 6 tháng, được đông lạnh ở lactarium.

Những trẻ sẽ nhận sữa mẹ (thường là những trẻ sinh rất non tháng) thuong là rất yếu ớt, do đó những tiêu chuẩn chọn lọc những người hiến rất chặt chẽ. Một bà mẹ hút thuốc không thể cho sữa, cũng như một bà mẹ mang virus truyền nhiễm (VIH, viêm gan B…). Cũng vậy nếu bà mẹ dùng những thuốc hay những chế phẩm có dược thảo đi qua trong sữa mẹ. Ở lactarium, một sự kiểm tra vi khuẩn học sau cũng được thực hiện và tất cả những sữa đã qua sự kiểm tra này sẽ có thể được sử dụng.

(LE FIGARO 6/9/2021)

III. SỰ THEO DÕI BẤT CẬP CỦA NHỮNG TRẺ SINH NON

Sự sống sót không những di chứng nặng được cải thiện, nhưng vài khó khăn trong sự phát triển không được điều trị đủ.

ÉPIDEMIOLOGIE.

Hậu quả gián tiếp của một sự sinh non vẫn còn ảnh hưởng nặng nề lên các em bé và gia đình của họ. Chính biên bản ghi nhận thất bại này mà điều tra Epipage 2 thiết lập, mà mục tiêu là theo dõi tiến triển của nhiều ngàn nhũ nhi sinh non tháng vào năm 2011. Những kết quả của nghiên cứu, được công bố hôm 29/4 trong tạp chí khoa học British Medical Journal, phát hiện sự bất cập trong sự theo dõi và theo kèm của những trẻ này ở Pháp, mặc dầu tương lai của chúng vẫn còn không rõ.

Thật vậy, gần một nửa trong số chúng, lúc 5 tuổi, có ít nhất một sự khó phát triển như một bại liệt, một sự giảm sút trí tuệ, thị giác hay thính giác, một rối loạn điều hòa và hành vi. Mức độ trầm trọng của những hậu quả lên autonomie của chúng được liên kết với tuổi thai nghén (âge gestationnel) của chúng : 27% các em bé sinh non cực kỳ (extrêment prématurés) (giữa 24 và 26 tuần) bị một thương tổn vừa phải hay nặng, so với 19% những grand prématuré (giữa 27 và 31 tuần) và 12% những trẻ sinh giữa 34 và 36 tuần. Dầu tuổi lúc sinh thế nào, 1/3 các em bé 5 tuổi gặp ít nhất một problème mineur. Những khó khăn nhẹ hơn này hiếm được xét đến trong những nghiên cứu khoa học, mặc dầu chúng có một ảnh hưởng quan trọng lên đời sống gia đình và trên học vấn, BS Véronique Pierrat, tác giả của nghiên cứu, pédiatre và néonatologue ở CHU de Lille, đã nhấn mạnh như vậy.

Nhưng những nhu cầu của các em bé này không tương ứng với những xử trí hữu hiệu. Giữa 25% và 65% các em bé bị những rối loạn vừa phải hay nặng không có một sự theo kèm chuyên môn nào, dầu đó là với một orthophoniste, một psyhologue, một psychomotricien, một kinésithérapeute hay khác. Một hồ sơ MDPH (maison départementale des personnes handicapées), cửa vào hành chánh để có được một sự hỗ trợ, chỉ được lập ở 30% những trẻ em sinh trước 26 tuần thai nghén.

«Mặc đầu sự thiết đặt trong những năm qua những mạng theo dõi (réseaux de suivi), một số lớn trẻ em dễ bị thương tổn không được hưởng những can thiệp tiềm năng hiệu quả. Đó là điều rất khó chấp nhận », GS Pierre-Yves Ancel, giám đốc của équipe Inserm, nguồn gốc của nghiên cứu, đã phản nàn như vậy. Sự thiếu sót này, ảnh hưởng một cách không cân xứng những trẻ em nghèo nhất, được giải thích bởi sự bảo hóa của những CAMSP (centre d’action médico-sociale précoce) và sự thiếu rõ rệt nhân viên y tế được đào tạo. Điều đó được thể hiện mỗi ngày bởi những tình cảnh đau lòng, BS Pierrat đã ghi chú như vậy. Bà nêu thí dụ trường hợp những cha mẹ được đả thông ba năm trước rằng con họ sẽ giữ những khó khăn vận động quan trọng bởi vì đã phải phát động, xét vì những thời hạn chờ đợi, những démarche để được tiếp nhận vào trong một cơ sở chuyên khoa.

MỘT HỌC TRÌNH TRỞ NÊN PHỨC TẠP VỚI TUỔI TÁC

Bilan cũng đáng quan ngại ở trường học. Ít nhất 15% các trẻ em có những khó khăn nghiêm trọng không hưởng được một hỗ trợ nào ở đó, và tỷ lệ này trên 45% ở những trẻ nhỏ mà những déficience là vừa phải. Đối với BS Pierrat, kết quả này càng đáng tiếc khi parcours scolaire thường phức tạp với tuổi tác, như nhiều nghiên cứu quốc tế chứng tỏ điều đó.

Sự theo dõi lúc 5 năm của điều tra Epipage 2 đã bao gồm hơn 3000 trẻ em trong 110 trung tâm. Một bilan médical hết mọi mặt cũng như một cuộc nói chuyện tỉ mỉ với các cha mẹ đã được thực hiện. Point d’étape này xảy ra vào một lúc bản lề, ngay trước khi vào tiểu học. Nó làm nổi bật nỗi lo ngại lớn của cha mẹ về những rối loạn khả dĩ của hành vi (sự tăng hoạt động, sự chú ý, sự điều hòa các cảm xúc, những liên hệ với những trẻ khác) của còn em họ. « Đối với chúng tôi, những thầy thuốc, đó là một tín hiệu, Véronique Pierrat đã nhấn mạnh như vậy. Phải chú ý đến điều đó, một mặt bởi vì stress có thể có một ảnh hưởng, mặt khác bởi vì chúng có thể cảm thấy những việc đã chưa xuất hiện dưới con mắt của những professionnel.»

Cách mà những khó khăn «nhẹ» được xử trí lúc 5 tuổi khác rõ rệt với những tiến bộ được thực hiện trong những săn sóc được cho các em bé từ 15 năm nay. Sự cho corticothérapie trước khi sinh để tăng tốc sự thành thục của phổi, sự nhờ đến những phương pháp thông khí ít xâm nhập hơn hay lại nữa sự đưa cha mẹ vào trong các service de néonatologie đă góp phần cho một tiên lượng tốt hơn.

Sự sống còn của các trẻ sinh non được cải thiện rõ rệt giữa 1997 và 2011, chuyển từ 70% lên 80% lúc 27 tuần, GS Ancel đã nhận xét như vậy. Tiến triển này được kèm theo bởi một sự giảm 1/2 những di chứng vận động nghiêm trọng, từ nay chỉ ảnh hưởng 5% các trẻ em. Như thế hôm nay nhiều trẻ sinh non hơn sống sót với những di chứng ít nghiêm trọng hơn, nhưng tất cả những cơ may của sự phát triển tốt nhất có thể được chưa được mang lại cho chúng.

(LE FIGARO 3/5/2021)

Đọc thêm :

   – TSYH số 518 : bài số 8
  – TSYH số 513 : bài số 9,10
– TSYH số 385 : bài số 4, 5
   – TSYH số 365 : bài số 4

IV.VIÊM MÀNG NÃO B : TỪ NAY VACCIN ĐƯỢC KHUYẾN NGHỊ CHO TẤT CẢ CÁC NHŨ NHI.

Màng não cầu trùng B chịu trách nhiệm những viêm màng não hiếm, nhưng trầm trọng và không luôn luôn  được chẩn đoán kịp thời. Một sự đơn giản hóa sơ đồ tiêm chủng và những dữ liệu mới về tính hiệu quả đã thuyết phục giới hữu trách y tế.

PÉDIATRIE.

Vào cuối tháng sau 2021, Haute Autorité de santé đã khuyến nghị tiêm chủng tất cả các nhũ nhi chống lại những màng não cầu trùng của sérogroupe B, chịu trách nhiệm điều mà ta thường gọi là viêm màng não B. Viêm màng não B chiếm hơn một nửa những viêm màng não vi khuẩn (méningite bactérienne). Đó là một bệnh tương đối hiếm, nhưng trầm trọng ở nhũ nhi. Bệnh thường được chẩn đoán quá muộn », BS Ludovic Casanova, maitre de conférence de médecine générale ở đại học Aix-Marseille, thành viên của Collège national des généralistes enseignants đã giải thích như vậy.

Một viêm màng não được biểu hiện bởi sốt, đau đầu dữ dội, mửa, cứng gáy, tăng nhạy cảm với ánh sáng, được kèm theo bởi một sự ngủ lịm nào đó, thậm chí những rối loạn tri giác. Nhưng cứng gáy không luôn luôn hiện diện ở những trẻ rất nhỏ và những triệu chứng khác có thể được gán cho những bệnh khác. Thế mà tiến triển của nó có thể như sét đánh và những hậu quả có thể thê thảm. Đối với 9 đến 12% những nhũ nhi, viêm màng não B sẽ gây tử vong và, trong số những trẻ sống sót, 6% sẽ bị những di chứng vật lý và thần kinh quan trọng : cắt cụt chi, điếc, những rối loạn tâm thần kinh.

Mặc dầu những nguy cơ này, vaccin đã không được khuyến nghị khi được thương mãi hóa năm 2016. Cho mãi đến nay, vaccin chỉ được đề nghị cho những trẻ có nguy cơ cao mắc phải một nhiễm trùng do màng não cầu B ; Một trong những lý do được nêu lên là số lượng thấp mỗi năm của những trường hợp. Thật vậy sau một sự giảm liên tục và không được giải thích giữa 2006 và 2013, tỷ lệ nhiễm được ổn định ở 0,36 đối với 100.000 dân. Tổng cộng, Pháp đã ghi nhận 88 trường hợp viêm màng não B ở những trẻ dưới 5 tuổi và 3 tử vong năm 2009. Năm 2020, tình hình còn được cải thiện do phong tỏa và sự áp dụng những biện pháp barrière. Một cách song hành, giá tăng cao của vaccin (83 euro mỗi liều) cũng đã là một kềm hãm. Với một sơ đồ tiêm chủng ban đầu 3 liều, phí tổn để tránh một nhiễm trùng không tương xứng với lợi ích được mong chờ, GS Elisabeth Bouvet, chủ tịch của commission technique des vaccination của HAS đã giải thích như vậy. «Ngoài ra, sơ đồ tiêm chủng của các nhũ nhi đã là khá nặng. Đó là lý do tại sao, trong thì đấu, sự tiêm chủng đại trà đã không được khuyến nghị.

GIÁ CAO CỦA VACCIN

Vì lẽ trái với phần lớn các vaccin, vaccin chống viêm màng não B chỉ bảo vệ người được tiêm chủng và không cho phép một miễn dịch nhóm. Những màng não cầu trùng là những vi khuẩn nằm ở trong họng và mũi của nhiều người, những người lành mang trùng. Những vi khuẩn sẽ được truyền do tiếp xúc gần, trực tiếp và kéo dài với những chất tiết mũi họng. Thế mà, cho đến nay, không một nghiên cứu nào đã cho thấy tác động của tiêm chủng lên sự mang trùng (portage) và do đó lên lan truyền của các màng não cầu trùng sérogroupe B.

Thế thì, tại sao sự khuyến nghị tiêm chủng mở rộng này cho tất cả nhũ nhi ? Từ nay chỉ hai liều là cần thiết trong khi phải ba liều năm 2013. Nhưng ngay cả như thế, tỷ suất phí tổn-lợi ích không thuận lợi cho một tiêm chủng cho tất cả. Chính vì vậy quyết định đã gây nên những tranh cãi trong commission technique des vaccinations, GS Elisabeth Bouvet đã công nhận như vậy.

Nhưng chúng tôi đã lắng nghe những thầy thuốc nhi khoa lo ngại nhất là nguy cơ một sự bùng phát dịch bệnh với sự trở lại của một đời sống xã hội bình thường, và những dữ liệu trong những nước đã tiêm chủng đại trà, như Anh hay Bổ đào nha, cho thấy một tính hiệu quả trong đời sống thực và một sự bảo vệ cá nhân của các trẻ cho đến 4 tuổi, chủ tịch của commission technique des vaccinations đã chỉ như vậy. Thật vậy Từ khi đưa vào Anh vaccin, những nghiên cứu đã cho thấy một sự giảm số trường hợp từ 60% đến 80%. Ngoài ra, những công trình gợi ý một tính hiệu quả lên các chủng vi khuẩn khác và nhất là chống lại chủng W. Sau cùng vaccin có vẻ được dung nạp tốt. Lý lẽ khác đã đè lên cán cân : sự bồi hoàn bởi assurance sẽ cho phép giở bỏ hàng rào tài chánh, nguồn bất bình đằng xã hội trong tiếp cận vaccin.

Tuy nhiên Haute Autorité de santé nhấn mạnh về giá cao của vaccin và chờ đợi một sự giảm giá quan trọng. BS Ludovic Casanova vui mừng về khuyến nghị này. Như 30% nhung médecin généraliste, ông đều đặn đề nghị vaccin, nhưng nói chung bị từ chối do giá và sự không biết rõ về nguy cơ. Ngược lại, vị thầy thuốc vẫn rất dè dặt về một sự tiêm chủng bắt buộc. « Vì sự bảo vệ là hoàn toàn cá nhân và nguy cơ là thấp, chúng ta hãy để cho các công dân chọn lựa đồng thời trình bày cho họ những lý lẽ », ông đã nói như vậy.

(LE FIGARO 30/8/2021)

V. VIÊM MÀNG NÃO : NGUYÊN NHÂN DO TRẠNG THÁI CHƯA THÀNH THỤC CỦA CÁC EM BÉ

Viêm màng não có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, những trẻ sơ sinh là 30 lần thường bị hơn so với population générale, với một su troi hon của những nhiễm trùng do liên cầu khuẩn B ; Các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur và của Inserm đã có thể cho thấy ở chuột rằng tình trạng chưa chín mùi của microbiote ruột của trẻ sơ sinh chịu trách nhiệm một phần sự dễ bị thương tổn này trước viêm màng não vi khuẩn. Thật vậy, vi khuẩn nói chung bắt đầu xâm thực ruột, ở đây microbiote đóng một vai trò bảo vệ chống lại những tác nhân gây bệnh và góp phần vào sự phát triển của tính miễn dịch. Thế mà, ở trẻ sơ sinh, microbiote không phát triển hoàn toàn và vi khuẩn như thế có thể xâm thực ruột, theo nghiên cứu được xuất bản vào tháng sáu trong Cells Report. Ngoài ra chức năng barrière các mạch máu của ruột mà vi khuẩn phải vượt qua để phát tán đến tận não qua đường máu là ít hiệu quả hơn, và hệ miễn dịch không thành công kiểm soát nhiễm trùng.

(LE FIGARO 30/8/2021)

VI. NHỮNG CHỈ THỊ VỀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ

PROCTOLOGIE.

Những trĩ (hémorroides) là những cấu trúc mạch máu bình thường, những tĩnh mạch trong hậu môn, góp phần vào sự giữ phân. Bệnh trĩ xuất hiện trong trường hợp những cấu trúc mạch máu bị sụt xuống do sự tăng cao áp lực hay mất mô nâng đỡ. Khi đó những cấu trúc này có thể đi ra khỏi hậu môn và chảy máu.

CHỈ THỊ CHÂU ÂU MỚI NHẤT

« Nghiên cứu Chorus, mà nhiều proctologue Bỉ đã cộng tác, đã giúp chúng ta cartographier bệnh trĩ », GS Heiko De Schepper của Universitair Ziekenhuis Antwerpen đã xác nhận như vậy. Chúng tôi đã chứng thực rằng ở Bỉ, sự xử trí điều trị thay đổi một cách đáng kể và luôn luôn không được thích ứng một cách tối ưu với mức độ nghiêm trọng của bệnh. Một điều trị tại chỗ chủ yếu được áp dụng, trong khi ít có ý nghĩa đối với những thể nặng nhất của bệnh trĩ. »

Những quan sát này đã trực tiếp đưa lại sự thảo một chỉ thị nhất trí (directive de consensus) của Bỉ. Nhờ sự cộng tác của những proctologue đại học, chỉ thị này từ nay có thể được tham khảo trong tạp chí Acta Gastroenterologica Belgica.

SỰ XỬ TRÍ TỪNG NẤC.

Để tránh không để cho những rối loạn trĩ bị lập lại, điều quan trọng là không những can thiệp vào sự xuất huyết và vào những trĩ bị sụt xuống, mà còn nguyên nhân của nó, GS De Schepper đã giải thích như vậy.

Nói chung đó là một biến đổi của transit intestinal. Một táo bón với sự tống xuất phân khó hay một ỉa chảy với đi cầu thường xuyên có thể là nguồn gốc của những rối loạn. Những yếu tố khác gây nên một sự gia tăng của áp lực trong petit bassin cũng có thể đóng một vai trò, thí dụ bệnh béo phì hay thai nghén.

ĐIỀU TRỊ MỨC ĐỘ MỘT : TRONG THỜI GIAN NGẮN

Chỉ thị quan tâm đầy đủ đến sự xử trí bởi médecin généraliste, bằng cách nhấn mạnh một examen proctologique có chất lượng. Những vấn đề hậu môn quá thường được gọi là những rối loạn trĩ (troubles hémorroidaires), trong khi một thăm khám trực tràng là thiết yếu để tránh cho những chẩn đoán khác hay một vấn đề nghiêm trọng không được nhận biết », GS De Schepper đã thêm như vậy.

Trong quá khu, những injections sclérosantes (tiêm xơ) gây bít trĩ thường được sử dụng. Tuy nhiên kỹ thuật này không phải là không gây biến chứng. Những viêm và xuất huyết, nhưng cũng những biến chứng nghiêm trọng hơn đă được báo cáo. Hôm nay chỉ thị không khuyên gây bít trĩ, bởi vì có những khả năng khác an toàn hơn và dễ dàng hơn. Đối với những trĩ sa nhẹ (độ 1 hay 2), photocoagulation infrarouge (đèn hồng ngoại) được khuyến nghị. Ở một giai đoạn tiến triển hơn, một ligature élastique (thắt bằng vòng cao su)) có thể được sử dụng. Đối với những trĩ lòi ra và không thể đưa vào lại (cấp độ 4), ngoại khoa là chiến lược được ưa thích hơn hết.

Chỉ thị là dứt khoát về sự sử dụng một điều trị tại chỗ. Những pommade analgésique dựa trên corticoides bán tự đó có thể hữu ích trong trường hợp cơn cấp tính, nhưng chỉ có thể được sử dụng tối đa 2 tuần. Thật vậy cortisol có thể gây những thương tổn da.  Chúng ta phải tránh không để cho các bệnh nhân tiếp tục điều trị này trong nhiều tuần và phát triển một eczéma de contact hay một irritation, GS De Schepper đã nói rõ như vậy.

Những thuốc phlébotrope có thể hiệu quả ở những bệnh nhân mà những trĩ chảy máu, nhưng không bị sa xuống, nhưng ở đây cũng vậy, một điều trị trong thời gian ngắn được khuyến nghị. Không có bằng cớ ủng hộ cho sự sử dụng các phlébotrope để phòng ngừa. Ở những bệnh nhân phát triển những rối loạn trĩ, như constipation du voyageur, cần nhấn mạnh về những thích nghi của lối sống, với một vệ sinh tốt của transit intestinal và một sự tiêu thụ đủ các sợi, có thể dưới dạng complément. Trong trường hợp các trĩ huyết khối, sự sử dụng thuốc phlébotrope cũng không được ủng hộ bởi những bằng cớ khoa học.

ĐIỀU TRỊ MỨC ĐỘ HAI : NHỮNG KỸ THUẬT CÓ THỂ TIẾP CẬN

Nếu traitement de première intention không đủ, một traitement instrumental, photocoagulation infrarouge hay ligature élastique có thể được xét đến. Những kỹ thuật đơn giản này mang lại một sự thuyên giảm cho nhiều bệnh nhân nhưng đôi khi gây những rối loạn tương đổi nhẹ.

Những bệnh nhân có những triệu chứng báo động phải tức thời được đinh hướng nhằm một thăm khám sâu hơn : mất cân, malaise général, affection familiale hay tiền sử ung thư đại tràng. Ngoài ra, người ta khuyên thực hiện một soi đại tràng ở một người trên 45 tuổi bị đại tiện ra máu , mặc dầu những mất máu này được kiểm soát nhờ những biện pháp bảo tồn. Nếu sự mất máu có thể được quy cho trĩ và nếu không có những triệu chứng báo động khác, một colonoscopie không được thực hiện ở những bệnh nhân dưới 45 tuổi, ngoại trừ không thể kiểm soát những rối loạn hay nếu trĩ khó  có thể nhìn thấy rõ.

Những bệnh nhân có những trĩ cấp độ 4 phải được nhanh chóng hướng về polyclinique hay cấp cứu, bởi vì có một nguy cơ bị nghẹt và thiếu máu cục bộ (étranglement et ischémie). Những biến chứng có thể nghiêm trọng.

Trong mọi loại điều trị, một sự theo dõi là cần thiết sau 6 đến 8 tuần, để đảm bảo rằng sự mất máu là hoàn toàn được kiểm soát.

TÓM TẮT

 Những điều trị tại chỗ chống trĩ nhằm những triệu chứng, nhưng không tấn công vào nguyên nhân. Chúng không có vị trí trong điều trị mãn tính những rối loạn trĩ. Những tiêm xơ (injection sclérosante) tốt hơn cần phải tránh. Những thuốc phlébotrope có thể được sử dụng một cách hợp lý. Những kỹ thuật dụng cụ (technique instrumentale) hiện nay cho phép thầy thuốc chuyên khoa hậu môn trực tràng (proctologue) giúp đỡ nhiều bệnh nhân. Một sự hướng định tức thì về một chuyên gia được yêu cầu trong trường hợp trĩ cấp độ 4.

(LE JOURNAL DU MÉDECIN 10/6/2021)

Đọc thêm :

– TSYH số 579 : bài số 10 (Techniques)
– TSYH số 302 : bài  số 1, 2, 3 (Hémorroides)

VII. NGỪA THAI Ở PHỤ NỮ: ĐIỂM LẠI TÌNH HÌNH

Hỏi : Sự sử dụng thuốc ngừa thai thụt lùi. Vì những lý do nào ?

BS Olivier Ami (Gynécologue-obstétricien à Paris). Ba lý do chính. 

1. Những tác dụng phụ (lên cân, giảm libido, những rối loạn khí chất, nôn, mụn, xuất huyết không đều, nguy cơ méningiome với vài macroprogestatifs).

2. Sự không bồi hoàn bởi assurance vào năm 2013 những thuốc ngừa thai thuộc thế hệ thứ 3 và 4 chịu trách nhiệm một nguy cơ gia tăng bị những tai biến huyết khối nghẽn mạch, được gia tăng bởih chứng nghiện thuốc lá phụ nữ.

3. Trong mười năm qua, những nghiên cứu, phần lớn của Hoa Kỳ, đã cho thấy rằng những pilule fortement dosées có thể làm dễ những ung thư vú, của cổ tử cung (thậm chí của gan), điều mà Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư của Lyon đã xác nhận. Vì những thuốc ngừa thai liều lượng mạnh (pilule fortement dosée) không còn ở Pháp nữa nên những nguy cơ này đã trở nên rất thấp. Những chống chỉ định phải được tôn trọng (đái đường, cao huyết áp, migraine, excès de cholestérol, những tiền sử  viêm tĩnh mạch, khám phụ khoa bất thường) và không ngăn cản sự ngừa thai. Tuy nhiên thuốc ngừa thai vẫn rất được sử dụng (1/3 những phụ nữ), trước vòng tranh thai (25%)

Hỏi : Các phụ nữ có những lựa chọn nào ?

BS Olivier Ami :

1. Contraception orale standard liên kết một oestrogène de synthèse (nhất là éthinylestradol) với một progestatif thay đổi tùy theo mục đích tìm kiếm hay những tác dụng phụ cần phải tránh. Những kích thích tố này phong bế sự rụng trứng (ovulation), có một hoạt tính chống sự làm tổ (activité antinidation) và làm giảm perméabilité của nước nhót cổ tử cung (glaire cervicale) đối với các tinh trùng. Sự dùng thuốc thường gián đoạn (dùng mỗi ngày trong 21 ngày, ngừng trong 7 ngày) để gây nên mỗi tháng những kinh nguyệt nhân tạo nhằm đổi mới đều đặn nội mạc tử cung. Nó có thể liên tục trong vài trường hợp (endométriose). Sự điều chỉnh liều lượng, bất biến hay biến thiên tùy theo giai đoạn (trước, trong hay sau sự rụng trứng), cho phép kiểm soát những tác dụng phụ có thể xảy ra và cá nhân hóa điều trị.

2. Nếu các oestrogène bị chống chỉ định (Tai biến mạch máu não, chứng nghiện thuốc lá, lupus…), một progestatif duy nhất (có thể microdosé) được kê đơn. Nó phải được dùng mỗi ngày vào giờ cố định, hay phải được nhận dưới dạng một dispositif à libération prolongée (implant dưới da hay stérilet aux hormones).

3. Trong trường hợp chống chỉ định với ngừa thai bằng kích thích tố (contraception hormonale) (thí dụ nguy cơ ung thư), phương pháp thay thế an toàn nhất là stérilet au cuivre : vòng phong bế một cách cơ học sự làm tồ nhưng với cái giá có thể có vài đau bụng hay xuất huyết. DIU (dispositif intra-utérin) là phương pháp được sử dụng nhất trên thế giới (200 triệu phụ nữ). Sự đặt nó trong 5 năm có thể được thực hiện bởi một thầy thuốc hay sage-femme.

Hỏi : Những giải pháp nào cho những người thường quên dùng thuốc ngừa thai ?

BS Olivier Ami :

1. Vòng âm đạo oestroprogestatif là ít dosé nhất trong số những phương thức minidosé và nói chung dung nạp rất tốt. Vòng được đặt và được rút ra dễ dàng , như một tampon. Nó được đặt tại chỗ trong 3 tuần trên 4 để gây kinh nguyệt. Kiểm tra tốt sự hiện diện của nó sau một giao hợp để vẫn được bảo vệ. 

2. Implant sous-cutané progestatif. Nó đuoc lấy đi sau ba năm qua một đường xẻ rất nhỏ 1 cm.

3. DIU au progestatif được đặt trong 3 đến 5 năm. Đó là một giải pháp thay thế DỊU bằng đồng khi kinh nguyệt dồi dào.

4. Từ ít lâu nay ta có những progestatif retard tiêm mông mỗi ba tháng.

5. Pilule du lendemain, sau một giao hợp không được bảo vệ nguy cơ có thai, phải sử dụng ngay khi có thể, và muộn nhất trong 5 ngày.Nó có thể có được ở hiệu thuốc không cần toa.

(PARIS MATCH 26/8-1/9/2021)

Đọc thêm :

– TSYH số 487 : bài số 9
– TSYH số 330 : bài số 5 (contraception hormonale masculine)
– TSYH số 366 : bài  số 10 

VIII. NHỮNG TRIỄN VỌNG MỚI ĐỐI VỚI BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC

SCLÉROSE EN PLAQUES.

Sự điều trị của bệnh xơ cứng rải rác hôm nay không còn có thể so sánh chút nào với điều trị cách nay vài thập niên. Những tiến bộ về điều trị nằm ở những mức khác nhau, nhưng nhất là chính cái bảng rất rộng của những điều trị mở ra những triễn vọng mới.

Luôn luôn không có điều trị chữa lành chống lại bệnh xơ cứng rải rác, và các bệnh nhân bị bệnh này phải sống trong những thập niên dài với căn bệnh của mình. Ở Bỉ, tỷ lệ lưu hành được đánh giá là 1 trường hợp trên 1000 người. Vậy xơ cứng rải rác là một vấn đề quan trọng đối với xã hội của chúng ta, GS Guy Nagels, neurologue chuyện về xơ cứng rải rác ở UZ Brussel, đã nhấn mạnh như vậy.

Tùy theo thời kỳ lui bệnh lâm sàng (décours clinique), ta có thể phân biệt 3 dạng :

1) Ở 85% các bệnh nhân, bệnh xơ cứng rải rá  bắt đầu dưới một dạng tái phát-giảm từng hồi (forme récurrente-rémittente), với những cơn bộc phát đột ngột, nói chung được kèm theo bởi một sự hồi phục hoàn toàn không có phế tật kéo dài. 

2) Trong thì hai, nhiều bệnh nhân tiến triển về một xơ cứng rải rác thứ phát dần dần. Thuật ngữ dần dần (progressif) ở đây chỉ một sự thoái hóa không liên hệ với một cơn : phế tật gia tăng dần dần. 

3) Ở những bệnh nhân bị thể nguyên phát dần dần (forme primaire progressive), sự tiến triển dần dần này được quan sát ngay từ đầu, mà không có các đợt bộc phát.

CÀNG NGÀY CÀNG CÓ NHỮNG ĐIỀU TRỊ BIẾN ĐỔI BỆNH ?

Xơ cứng rải rác là một bệnh tự miễn dịch của hệ thần kinh trung ương, gây viêm (inflammation), mất bao thần kinh (démyélinisation) của các sợi thần kinh và thoái hóa thần kinh (neurodégénérescence). «Hôm nay chúng ta đi từ nguyên tắc rằng những thương tổn mới của chất trắng thể hiện viêm, trong khi sự teo não liên kết hơn với một thoái hóa thần kinh », GS Nagel đă định rõ như vậy.

Với 15 loại thuốc có sẵn, sự cung ứng những điều trị biến đổi bệnh hôm nay đã gia tăng một cách đáng kể.Vậy những thầy thuốc thần kinh chuyên về xơ cứng rải rác có một tính uyển chuyển lớn để xác định một phương pháp tùy theo mỗi bệnh nhân về mặt hiệu quả, profil an toàn và cách cho thuốc. Phần lớn các biệt dược nhắm viêm ; sự thoái hóa thần kinh dường như khó làm đổi hướng hơn, mặc dầu vài sản phẩm đã tỏ ra có một tác dụng lên sự teo não. Trái lại chúng ta chưa có trong thực hành lâm sàng một loại thuốc được công nhận nhằm vào remyélinisation.

Trong điều trị de première ligne của SEP récurrente-rémittente, chính sự chuyển từ một thuốc tiêm sang thuốc uống là một bước lớn tiến về phía trước đối với bệnh nhân. Trong điều trị en deuxième ligne, chúng ta có những thuốc càng ngày càng mạnh, mặc dầu với cái giá của những tác dụng phụ. Từ vài năm nay, chúng ta cũng có những điều trị biến đổi bệnh đối với những bệnh nhân bị một forme primaire progressive. Chúng không có hiệu quả trong tất cả các trường hợp, nhưng đó chắc chắn là một phương pháp cần thử khi tình trạng của bệnh nhân suy thoái. Hôm nầy cũng có những điều trị được chấp thuận trong SEP progressive secondaire, nhưng điều đó chủ yếu là đó ta đã tách ra khỏi  xếp loại truyền thống của bệnh để từ nay đề nghị những thuốc chống lại «SEP récurrente».

NEDA : ỔN ĐỊNH, MỘT MỤC TIÊU MỚI CUA ĐIỀU TRỊ.

Bảng lựa chọn rộng của những thuốc điều trị đã cho phép dành một chỗ cho khái niệm NEDA (No-Evidence-of-Disease-Activity : không có những dấu hiệu hoạt động của bệnh). Khái niệm này đi xa hơn sự giảm các cơn trong SEP récurrente-rémittente và nhằm có được một sự vắng mặt hoàn toàn của hoạt động của bệnh hay, nói một cách khác, một sự ổn định. Khái niệm NEDA-3 tương ứng với một sự vắng mặt các cơn bộc phát và sự nặng thêm của phế tật (không có sự tiến triển), nhưng cũng sự không có những thương tổn mới lúc IRM. Ngoài ra ý niệm NEDA-4 giả định sự vắng mặt của teo não bất thường (trên 0,3-0,4% mỗi năm).

HƠN NHIỀU NHỮNG ĐIỀU TRỊ BIẾN ĐỔI BỆNH

Ngoài những thuốc được đăng ký, những thứ nghiệm giai đoạn III hiện đang tiến hành và ngoài sự chú ý gia tăng dành cho những dữ liệu chứng rõ của đời sống thực, những công trình rất lý thú cũng được thực hiện không dùng thuốc, trong đó có công trình của GS Van Schependom về sự nhờ đến kích thích thần kinh (neurostimulation) để làm dễ rémyélinisation ở những bệnh nhân xơ cứng rải rác », GS Nagels đã nói thêm như vậy.

Ông cũng nhận xét rằng sự tổ chức xử trí điều trị của bệnh xơ cứng rải rác càng ngày càng tiến triển theo chiều hướng của một sự cộng tác nhiều chuyên khoa (une collaboration multidisciplinaire), điều này cho phép nhờ đến một y tá chuyên môn về bệnh xơ cứng rải rác, một thầy thuốc chuyên về revalidation (phục hồi chức năng), một kinésithérapeute và một psychologue. Một sự chú ý gia tăng cũng được dành cho difficultés cognitives. Có khi bệnh nhân hoạt động rất tốt trong công việc suốt buổi sáng, rồi gia tăng những sai lầm vào buổi chiều, một hiện tượng do một loại fatigabilité cognitive», GS Nagels đã giải thích như vậy. 

Vậy điều trị mệt và trầm cảm cũng rất là quan trọng, mặc dầu không hẳn là đơn giản (thí dụ tối ưu sự điều trị duy trì, tái huấn luyện hay học những chiến lược bù…).

Một cách song hành, điều trị triệu chứng cũng tiến triển với điều mà ta gọi là những functional enhancers. Thí dụ, fampridine đôi khi có thể góp phần cải thiện sự bước. Ta cũng có thể xét đến việc kê đơn cannabis médicinal, đặc biệt ở những bệnh nhân bị một spasticité débilitante, không đáp ứng đủ với những điều trị cổ điển.

Hôm nay chúng ta có nhiều khả năng để giúp những bệnh nhân bị bệnh xơ cứng rải rác. Khi hoạt động của bệnh tưởng như không được kiểm soát tốt hay khi bệnh nhân dung nạp kém những thuốc của mình, có thể thích hợp chuyển bệnh nhân đến một thấy thuốc thần kinh chuyên về bệnh xơ cứng rải rác. Một tính hiệu quả không đủ và một sự không dung nạp là hai lý do có thể biện minh cho sự chuyển qua một loại thuốc khác.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 27/5/2021)

Đọc thêm :

– TSYH số 480 : bài số 7, 8
– TSYH số 442 : bài số 6, 7
– TSYH số 400 : bài số 10
– TSYH số 434 : bài số 5, 6, 7

IX. VIRUS SIDA : THẤT BẠI MỚI CỦA VACCIN

Từ ba thập niên qua, tất cả những toan tính hiệu chính một vaccin chống VIH đã thất bại. Hãng dược phẩm Hoa Kỳ Johnson & Johnson vừa loan báo rằng hãng sẽ dừng sớm sự phát triển vaccin của mình, mà công nghệ (một adénovirus được dùng làm vecteur) cũng giống với công nghệ được sử dụng cho vaccin chống Covid-19 : sau hai năm nhìn lại, tỷ lệ bảo vệ được mang lại đã tỏ ra rất không đủ (25%), ở 1079 phụ nữ châu Phi được phân tích trong một nghiên cứu đã đưa vào 2600 người. Những virus biến dị nhiều, như VIH, làm cho tính hiệu quả của vaccin tạm thời, trong thời gian ngắn hạn. May mắn thay những thuốc chống virus hiện hữu.

(PARIS MATCH 16-22/9/2021)

 Đọc thêm :

– TSYH số 572 : bài số 10
– TSYH số 366 : bài số  8 & 9

X. MADELEINE BRES : NỮ BÁC SĨ HỮU XUNG TẢ ĐỘT

Vào năm 1875, bà trở thành phụ nữ đầu tiên tốt nghiệp một đại học y khoa Pháp. Một chiến thắng các thành kiến của thế kỷ XIX.

Ngày 18/1 của năm nay, Bưu điện đã ấn hành 600.000 bản của một con tem có hình của Madeleine Brès, sinh ở Gebelin, người phụ nữ Pháp đầu tiên đã được vinh dự, ngày 3/6/1875, nhận tước hiệu tiến sĩ y khoa trong đất nước chúng ta. Bà sinh ngày 25/11/1842 ở Bouillargues, trong Le Grad. Cha của bà là thợ bịt móng ngựa (maréchal-ferrant) và thợ đóng xe (charron) (người sửa chữa những bánh xe hơi mắc vào ngựa). Ông phụ trách nhất là những bánh xe hơi  của bệnh viện Nimes, ở đây ông thường đến và ở đây Madeleine, ngay lúc10 tuổi, thích đi kèm cùng cha. Bà tranh luận với các bệnh nhân trong các hành lang, khám phá một cách thán phục công việc của các bác sĩ và y tá. Một nữ tu sĩ, bị quyến rũ bởi tính tò mò của Madeleine và sự hoạt bát của bà, đã  dạy cho bà nghệ thuật băng bó. Bà chỉ còn một ý nghĩ trong đầu : trở thành thầy thuốc. Một giấc mơ không thể thực hiện, không phải vì một đạo luật cấm điều đó một cách chính thức, nhưng chẳng khác nào như thế. Để ghi danh vào y khoa, phải đậu tú tài, một kỷ thi bị cấm đối với phụ nữ. Ngoài ra, cha mẹ cố gã Madeleine ngay năm 15 tuổi cho Adrien Brès, một người lái xe bus. Thế mà, trong luật của Pháp thời đó, các phụ nữ cưới chồng không ở tuổi thành niên (majorité civile). Do đó dề thi một văn bằng, họ phái có sự đồng ý của cha hay chồng. Một kế hoạch mà những người đàn ông khiêm tốn này không dự kiến cho bà.

Vào năm 1866, 24 tuổi, là mẹ hiền và vợ ngoan, Madeleine có ba người con và rất buồn chán khi phải ở nhà.Vợ chồng Brès đến ở tại Paris. Không chịu nổi nữa, Madeleine, viết rất hoàn hảo, tả xung hữu đột và dành được một buổi hội kiến với Charles Adolphe Wurtz, khoa trưởng đại học y khoa Paris. Bị quyến rũ bởi nhân cách của bà, Wurtz sẽ giúp bà suốt cuộc đời. Ông khuyến khích bà thi tú tài, mà các phụ nữ có thể tiếp cận từ 1861…nhưng chỉ dành cho các gia đình tai to mặt lớn. Vả lại không có một cơ sở nào đồng ý nhận bà. Vậy với tư cách là ứng viên tự do, với sự đồng ý của chồng, mà bà chuẩn bị kỳ thi và có được điều đó năm 1868. Nhưng vẫn còn một chướng ngại quan trọng : học y đại học bị cấm đối với phái nữ. Sự tẩy chay của những người đàn ông chống lại sự đi vào của các phụ nữ trong y sĩ đoàn gần như ở mọi nơi. Phó chủ tịch của Société de médecine de Paris đưa ra chuẩn mực : « Để là một thầy thuốc, phải có một trí thông mình mở và nhanh nhẹn, một học vấn chắc chắn và đa dạng, một tính chất nghiêm trang và chắc chắn, một máu lạnh lớn, một sự pha trộn của lòng tốt và năng lượng, một sự làm chủ hoàn toàn tất cả các cảm giác, một sự mạnh mẽ về tinh thần và nếu cần, một lực cơ bắp. Đó không phải là điều trái với bản chất phụ nữ hay sao ? » Đối với đa số những người đàn ông, phụ nữ nhiều lắm chỉ có thể là một garde-malade xuất sắc ! 

 Được ủng hộ bởi Wurts và được thúc đẩy bởi một sự khăng khăng không thể lay chuyển, Madeleine gởi một thỉnh nguyện thư đến ministre de l’Instruction publique, Victor Duruy, yêu cầu cho phép các phụ nữ được học y khoa. Vấn đề này một hôm qua Hội đồng Bộ trưởng, tại đây, thật may mắn, hội đồng được chủ tọa bởi hoàng hậu Eugénie, bà yêu cầu đơn được chuẩn thuận : « Tôi hy vọng rằng những phụ nữ trẻ này sẽ tìm thấy những người bắt chước, vì bây giờ con đường được mở ra », khi đó bà sẽ tuyên bố như vậy.

Với sự chấp thuận của chồng, Madeleine ghi danh vào đại học y khoa Paris. Tuy nhiên vẫn tồn tại một luật cấm các phụ nữ thực hành như ngoại hay nội trú trong những bệnh viện của Paris. Giáo sư Paul Broca, thầy thuốc thần kinh thiên tài, đồng ý nhận bà như «sinh viên thực tập ». Một cơ hội được mở ra : từ năm 1870 Pháp chiến tranh với Phổ. Những thầy thuốc trẻ đi chiến đấu, các bệnh viện thiếu nội trú. Khi đó Madeleine được tuyển mộ. Hạnh kiểm của bà trong thời kỳ Paris bị vây hãm là gương mẫu. 7 năm sau khi vào trường y, bà trình luận án của mình, «De la mamelle et de l’allaitement», cho thấy rằng thành phần hóa học của sữa mẹ bị biến đổi theo thời gian để thích ứng với những nhu cầu của em bé. Mention «extremement bien»!  Sau cùng bà trở thành bác sĩ và có một phòng mạch ở Paris, ở đây bà chỉ săn sóc phụ nữ và trẻ em.

Vào  năm 1885, bà thành lập nhà trẻ của riêng mình, một loại kiểu mẫu, trong đó phí tổn đó bà đài thọ, các trẻ em được giữ và được săn sóc miễn phí cho đến 3 tuổi. Marie-Louise Loubet, vợ của tổng thống Cọng Hòa, sẽ viếng thăm nhà trẻ. Bộ trưởng nội vụ sẽ giao phó cho bà những sứ mang nghiên cứu. Bà sẽ lănh đạo tờ báo « Vệ sinh của phụ nữ và của trẻ em », sẽ viết những cuốn sách về puériculture. Bà mất năm 1921, ở tuổi 79, nửa mù, cô độc và trong nghèo nàn. Hôm nay, những phòng mổ, những nhà trẻ và một con đường của quận XIII ở Paris mang tên bà. Nhờ bà, nước Pháp là một trong những quốc gia đầu tiên cho phép phụ nữ học y khoa, điều này góp phần phổ biến biện pháp này khắp nơi trên thế giới.

(PARIS MATCH 5/8-11/8/2021) 

BS NGUYỄN VĂN THỊNH  

(22/9/2021)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s