Thời sự y học số 578 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1. PHÁP : HÀNH PHÁP TĂNG TỐC GIỞ BỎ NHỮNG BIỆN PHÁP HẠN CHẾ.

Thủ tướng Pháp đã tuyên bố chấm dứt việc đeo khẩu trang ở ngoài trời ngay hôm nay (17/6) và sự giở bỏ giới nghiệm bắt đầu từ chủ nhật (20/6).

Chúng ta sống một lúc hạnh phúc của một hình thức trở lại cuộc sống bình thường, Thủ tướng Jean Castex đã tuyên bố như vậy hôm thứ tư (16/6). Tiếp theo sau một Conseil de défense sanitaire dành cho sự quản lý dịch bệnh và của một Hội đồng Bộ trưởng, thủ tướng chính phủ đã tuyên bố, từ Elysée, hai tin vui cho những người Pháp. Trước hết việc mang khẩu trang ngoài trời không còn bắt buộc nữa kể từ thứ năm 17/6, ngoại trừ những nơi tụ tập (chợ, những xếp hàng chờ đợi, khán đài sân vận động…)
Lệnh giới nghiêm, luôn luôn có hiệu lực từ 23 giờ đến 6 giờ sáng, sẽ được giở bỏ kể từ chủ nhật 20/6, hoặc 10 ngày sớm hơn dự kiến trong lịch trình bạn đấu. Sau tám tháng hạn chế, những người Pháp sẽ có thể lưu thông tự do vào ban đêm. “Tình hình của đất nước của chúng ta đượccải thiện, và nó được cải thiện ngay cả nhanh hơn dự kiến, do đó chúng ta điều chỉnh những biện pháp của chúng ta là chuyện bình thường”, thủ tướng đã biện minh như vậy. Vì những lý lẽ đã rõ : số những lây nhiễm tiếp tục giảm, với trung bình 3200 trường hợp dương tính trong 7 ngày qua, vậy dưới ngưỡng 5000, cho phép khống chế dịch bệnh. Về áp lực bệnh viện cũng được cải thiện, với dưới 2000 bệnh nhân nhập viện hòm thứ tư 16/6 vì virus, Jean Castex đã định rõ như vậy. Thủ tướng chính phủ tuy vậy nói vẫn duy trì một mức độ cảnh giác cao”, nhất là ở Guyane, ở đây tỷ lệ tiêm chủng thấp.

“ PHẢI TỎ RA THỰC TẾ”
Ý tưởng thực hiện sớm hơn lịch trình giở bỏ phong tỏa, như được ấn định bởi Emmanuel Macron ngày 29/4, đã nảy mầm từ nhiều tuần qua. Gabriel Attal, đã nêu lên vấn đề Lễ hội âm nhạc, gợi ý một sự giở bỏ lệnh giới nghiêm sớm hơn dự kiến. “Giới nghiêm chẳng ích lợi gì hết. Phải tỏ ra thực tế, có những trận đấu bóng đá của Euro, chẳng bao lâu là Fête de la Musique”, một cố vấn của chính phủ đã tâm sự như vậy đầu tuần này. Đến độ quanh bàn của Conseil de défense sanitaire, sáng thứ tư 14/6, tất cả những người hữu trách đều đồng ý chấm dứt lệnh giới nghiêm và việc mang khẩu trang ở ngoài trời. Với những chỉ số dịch tễ như vậy, thật là đơn giản, nếu, hôm nay ta không có giới nghiêm, ta sẽ không thiết đặt nó, Olivier Véran, bộ trưởng y tế đă trình bày như vậy. Về việc mang khẩu trang ngoài trời, không có lý lẽ nữa để bảo vệ biện pháp này, không một cluster nào ở ngoài trời, và điều đó đã trở nên không thể chịu được đối với tất cả mọi người”, một bộ trưởng đã thốt ra như vậy.

Tuy vậy quyết định này không hiển nhiên đối với tất cả mọi người. Ví dụ, vài phút trước khi bắt đầu buổi hop của Conseil de défense sanitaire, Christophe Castaner đã kêu gọi những người Pháp vẫn “phải có trách nhiệm”, vẫn phải tôn trọng những động tác barrière. Hôm nay, chúng ta không thắng trận đấu chống Covid, nó không ở sau lưng chúng ta, ông đã bày tỏ sự dè dặt về một giở bỏ trước kỳ hạn của sự đeo khẩu trang. Những lời tuyền bố này làm bật cười những bộ trưởng hiện diện ở Conseil de défense sanitaire. Không khí bông đùa đã không ngăn cản những người tham gia gợi lên vài điểm cảnh giác. Vì sự lưu hành của biến thể Delta, cực kỳ thống trị ở Anh, nên buộc phải tăng cường những hành động theo dõi và phòng ngừa, Jean Castex đã nhấn mạnh như vậy.“Tổng thống của nước Cộng hòa đã yêu cầu rằng những kiểm soát ở biên giới phải được thích ứng và tăng cường trong những phi trường và trong các hải cảng’.
Chính phủ cũng theo dõi để cho sự giở bỏ trước kỳ hạn của vài biện pháp hạn chế không dẫn đến một sự giảm của nhịp độ tiêm chủng. Người ta sợ rằng có một sự trì trệ, rằng vài người cuối cùng không muốn đi tiêm chủng vi tự bảo rằng điều đó không cần thiết nữa. Thủ tướng đã hô hào những người Pháp không được buông lỏng và tiếp tục sự huy động. Hành pháp ấn định mục tiêu 35 triệu người Pháp hoàn toàn được tiêm chủng từ nay đến buổi tựu trường.
(LE FIGARO 17/6/2021)

2. COVID-19 : HƯỚNG VỀ SỰ CHẤM DỨT CỦA GIAI ĐOẠN ĐẠI DỊCH

Sau mùa hè, virus Sras-CoV-2 có thể trở nên endémique và xảy ra theo mùa (saisonnier). Với điều kiện phần lớn dân chúng đã được tiêm chủng hay bị nhiễm virus.

“Những mùa hè sẽ không hoàn toàn bình thường”.

Hôm 15/3, thủ tướng Pháp Jean Castex đă dội gáo nước lạnh lên những hy vọng của một mùa hè sắp đến không coronavirus. Tuy vậy, nếu ta nhìn còn hơi xa hơn, khi đó vâng, sự lạc quan được cho phép. Tình hình sẽ tiến triển như thế nào ? Giả thuyết khả dĩ nhất hôm nay là sau giai đoạn đại dịch (phase pandémique), nghĩa là sự thích nghi bùng nổ của virus trong một quần thể ngây thơ (population naive) theo nghĩa miễn dịch học, Sras-CoV-2 trở nên endémique và xảy ra theo mùa. Nói một cách khác, virus càng tầm thường hóa khi quần thể càng được miễn dịch, dầu đó là được gây miễn dịch nhờ vaccin hay do nhiễm virus. Chính sự chuyển tiếp từ giai đoạn đại dịch sang giai đoạn endémique của virus mà một équipe Hoa Kỳ đã mô hình hóa trong Science, bằng cách dựa trên những đặc điểm nhiễm trùng và miễn dịch học của 4 coronavirus của cảm cúm đã trở thành endémique và xảy ra theo mùa. Những coronavirus này là gần như vô hại, bởi vì “sự nhiễm tự nhiên trong thời thơ ấu cung cấp một miễn dịch bảo vệ sau này chống lại những thể nặng, mặc dầu nó không ngăn cản sự tái nhiễm định kỳ”, Jennie Lavine, nữ tác giả của nghiên cứu đã giải thích như vậy. Theo mô hình, Sars-CoV-2 phải theo lộ trình của những anh em họ của nó để làm cho Covid-19 trở thành một căn bệnh của trẻ thơ hiền tính trong đa số các trường hợp. Theo tốc độ nào ? Điều đó sẽ tùy thuộc vào nhịp độ mà quần thể được miễn dịch.

MỘT TƯƠNG TỰ VỚI NHỮNG ĐẠI DỊCH ĐÃ ĐƯỢC BIẾT KHÁC.

“ Tiến triển này là không lay chuyển được, GS Bruno Lina, phụ trách Centre national de référence des virus respiratoires ở Lyon và thành viên của Conseil scientifique, đã xác nhận như vậy. Nhưng tôi không có lịch trình. Điều đó phải chăng sẽ xảy ra ngày mùa đông đến ? Thật khó trả lời. Tuy nhiên chuyên gia virus học đánh liều thiết lập sự tương tự với những đại dịch được biết khác, chủ yếu là cúm. Những đại dịch, mà ảnh hưởng đáng kể đã có thể được ghi nhận (cúm Tây Ban Nha 1918, cúm á châu 1957, hay cúm Hồng Kông 1968), đã tiến triển thành 3 làn sóng dịch lớn của hành tinh : làn sóng thứ nhất là một làn sóng lưu hành (vague de circulation), làn sóng thứ hai là làn sóng nhắc lại (vague de rappel), và làn sóng thứ ba là làn sóng chấm dứt su tọa vịcủa virus, trước khi nó bình thường hóa. Các coronavirus có một tiềm năng đại dịch ít nhất cũng quan trọng như virus cúm. “Xét vì năng lực lan truyền của nó và tỷ lệ tử vong cao hơn của nó, nếu Sras-COV-2 đã xảy ra nào năm 1918 thế chỗ cúm Tây Ban Nha, nó sẽ làm chết nhiều hơn nhiều 40 triệu tử vong”, nhà nghiên cứu tưởng tượng như vậy.
Bài học lịch sử qúy giá khác : kịch bản của đại dịch coronavirus vừa qua. Theo những dữ liệu di truyền, nó bắt nguồn tư 1889-1890. Hoặc chính vào lúc của đại dịch được gọi là cúm Nga năm 1890…mà tác nhân gây bệnh đã không bao giờ được nhận diện. “ Nếu ta chấp nhận giả thuyết rằng hiện tượng đại dich 1890 là do coronavirus OC43, ta có thể có một ý tưởng về điều mà Sras-CoV-2 sẽ trở thành”, Bruno Lina nói tiếp : một nguyên nhân của cảm cúm (rhume), thậm chí của những nhiễm không triệu chứng, đều đặn nhưng hiền tính. Dĩ nhiên với điều kiện mọi người đã được tiếp xúc lần đầu bởi sự tiêm chủng hay nhiễm virus.
Thế mà sự tăng sinh của các biến thể đã tập trung những lo ngại trong những tháng qua, đặc biệt biến thể “Anh” B.1.1.7, lây nhiễm hơn và 64% gây chết người hơn, không được làm hại kịch bản. “ Thật rất là lý thú khi thấy rằng khắp nơi trên hành tinh, gần như cùng lúc, đã xuất hiện nhiều biến thể (hơn 15), tất cảgần như có 4 hay 5 biến dị chung, Buno Lina đã nêu lên như vậy. Điều đó gợi ý rằng những vị trí nhạy cảm tiến triển (position de susceptibilité évolutive) của virus cuối cùng có không nhiều .” Đến đó, nếu chúng ta có cảm tưởng bị tấn công bởi các biến thể, “ có lẽ chúng ta ở trong một thời kỳ trong đó tiềm năng tiến triển của virus đi vào trong một loại ngõ cụt, điều này làm cho nó không còn có nhiều giải pháp nữa để tiến triển. Lý thuyết mà ta đề xuất, dưới ánh sáng của điều ta thấy trên những coronavirus chung, ổn định và không tiến triển nữa từ lâu, đó là làn sóng dịch thứ ba của mùa xuân có thể là giai đoạn tiến triển cuối cùng của Sras-CoV-2, báo hiệu sự cáo chung của sự thích nghi của nó với vật chủ mới.”
Dưới ánh sáng của những nghiên cứu được thực hiện từ những chiến dịch tiêm chủng đại trà, dầu đó là ở Israel, ở Vương Quốc Anh hay ở Hoa Kỳ, những biến thể không ngăn cản mục tiêu chính của tiêm chủng : làm biến mất những thể nặng của Covid-19 và sau cùng làm nhẹ gánh các hệ y tế .Thật vậy, nếu những biến thể “Nam Phi” và “Brésil” làm hạ mức độ bảo vệ đối với nhiễm virus bằng cách thoát một phần các kháng thể, chúng vẫn rất nhạy cảm với miễn dịch tế bào (immunité cellulaire) gây nên bởi những vaccin hay một nhiễm bởi chủng ban đầu của virus. Thế mà chính đáp ứng tế bào này cho phép tránh những thể nặng. Ngoài ra, những nghiên cứu trong đời sống hiện thực ở Israel hay ở Ecosse đã cho thấy một năng lực của vaccin Pfizer ngăn cản sự truyền của virus từ 75% đến 90%. Dường như đã nổi rõ một khởi đầu hiệu quả của sự tiêm chủng lên tỷ lệ tử vong trong các nhà dưỡng lão và những nhập viện ở những người trên 80 tuổi.
Vậy điều kiện sine qua none để chấm dứt giai đoạn đại dịch ở Pháp là giữ vững những mục tiêu tiêm chủng : 20 triệu người từ nay đến 15/5, theo chính phủ, 30 triệu vào đầu mùa hè, và như thế ít nhất 50% những người được chủng vào cuối mùa hè. Những mục tiêu có thể tin được mặc dầu sự đình chỉ tạm thời và những vấn đề về cung ứng của vaccin AstraZeneca. Thật vậy, Pháp sẽ nhận vào tháng tư nhiều liều hơn trong một tháng so với giữa tháng giêng và cuối tháng ba (gần 15 triệu liều). Ngoài một vaccin thứ tư được cho phép (Johnson & Johnson) từ tháng ba, hãng Pfizer, cung cấp 500.000 liều mỗi thứ ba từ tháng giêng, theo dự kiến chuyển giao 10 triệu vào 5 tháng tư. Như thế có thể tăng tốc chiến dịch tiêm chủng. Trong khung cảnh này, mùa hè 2021 sẽ không bình thường ở điểm nào ? Khuynh hướng của coronavirus trở nên xảy ra theo mùa (saisonnalité) không còn nghi ngờ gì nữa và, ngoài số lượng người được miễn dịch gia tăng, những điều kiện khí hậu phải tạo thuận lợi. “ Nếu chúng ta có những mức lưu hành thấp như năm vừa qua lúc giở bỏ phong tỏa, mùa hè sẽ diễn ra rất tốt. Ngược lại nếu chúng rất cao vào tháng năm và tháng sáu, tình huống có thể sẽ khác, Bruno Lina đã báo động như vậy. Động lực mùa hè (dynamique estivale) sẽ tuỳ thuộc bruit de fondkhi ta quyết định rằng ta có thể bắt đầu ra ngoài trở lại, đi đến restaurant, thậm chí cùng nhau hát không cần đeo khẩu trang. Dầu thế nào đi nữa, nếu hơn 60% dân số được tiêm chủng từ nay đến mùa thu, hoặc 40 triệu người, đại dịch Covid-19 sẽ vĩnh viễn bị tổn hại.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2021)

3. PHÁP : SỰ TIÊM CHỦNG ĐƯỢC MỞ RỘNG CHO NHỮNG THIẾU NIÊN TRÊN 12 TUỔI

Bộ y tế khuyến nghị tiêm chủng những người trẻ ngay 15 tháng sáu, trên cơ sở tự nguyện.
Hôm 3/6 Haute Autorité de santé (HAS) khuyến nghị chính phủ mở rộng sự tiêm chủng cho tất cả những người trẻ trên 12 tuổi.

Tổng thống Emmanuel Macron đã loan báo hôm thứ tư 2/6 rằng những thiếu niên từ 12 đến 18 tuổi có thể được tiêm chủng từ 15/6. Rồi thì, Bộ trưởng y tế, Olivier Veran, đã nói rõ rằng sự tiêm chủng này sẽ được thực hiện trên cơ sở tự nguyện và với sự đồng ý của cha mẹ. Giáo sư dược Mathieu Molimard chỉ rằng “đó là lần đầu tiên ở Pháp mà người ta sẽ tiêm chủng những người trẻ trước hết để bảo vệ cha mẹ và ông bà của chung. Đó là một thay đổi paradigme. Điều đó đáng được vài lời giải thích.

Ý kiến của HAS tiếp theo sau sự cho phép tạm thời, được đồng thuận hôm 28/5, bởi Cơ quan dược phẩm châu Âu, đối với vaccin Comirnaty của hãng dược phẩm Pfizer, để sử dụng ở những người trẻ bắt đầu từ 12 tuổi. FDA của Hoa Kỳ đã có cùng quyết định ngày 10/5 và bắt đầu từ 12/5, những thiếu niên Mỹ đã bắt đầu được tiêm chủng.
Các chuyên gia của HAS dựa trên một báo cáo 170 trang, được công bố bởi commission technique de vaccination của cơ quan dược phẩm, về các phương diện virus học, dịch tễ học, dược học và đạo đức học. HAS xem xét những lợi ích khác nhau mà vaccin mang lại cho các thiếu niên và những nguy cơ mà vaccin có thể gây nên cho chúng.

Về phía các nguy cơ, các chuyên gia có ít nghi ngờ. Những thử nghiệm lâm sàng đã không phát hiện một tác dụng phụ nghiêm trọng nào khả dĩ gây lo ngại.Ta quan sát một tính sinh phản ứng (réactogénicité) quan trọng, ở những thiếu niên 12-15 tuổi hơi cao hơn ở những thanh niên 16-25 tuổi, nhưng không có gì nghiêm trọng, pharmacologue Antoine Pariente, thành viên của comité d’évaluation des risques en pharmacovigilance của AEM, đã chỉ như vậy. Với những chiến dịch tiêm ch chủng ng đã được phát động, chúng ta có một ít thời gian nhìn lại và chúng ta đã không phát hiện một tín hiệu đặc biệt nào.

Một tín hiệu hiện đang được theo dõi. Những trường hợp viêm cơ tim (myocardite) đã được nêu lên ở những người trưởng thành trẻ tuổi, chủ yếu là những người đàn ông đã nhận liều thứ hai của vaccin Pfizer, trước hết ở Israel, rồi thì ở Hoa Kỳ, và ở châu Âu. Ở Pháp, những viêm cơ tim này đã xảy ra ở 5 người trên khoảng 25 triệu người đã nhận một mũi tiêm. Điều đó vẫn rất thấp và mối liên hệ với vaccin không được chứng minh, Antoine Pariente nói tiếp. Những người ta theo dõi rất sát điều đó. Vào lúc này đó là tín hiệu duy nhất đặc hiệu đối với những người trẻ trưởng thành và đối với các thiếu niên.

LỢI ÍCH CÁ NHÂN

Nhưng còn hơn những nguy cơ, chính những lợi ích đã tập trung sự chú ý của HAS. Trong ý kiến của mình, cơ quan đưa ra nhiều lợi ích. Mặc dầu phần lớn các thiếu niên bị nhiễm không bị những thể nặng. Nhưng 4295 trong số chúng đã bị nhập viện, 737 đã bị chuyển vào ICU. 13 bệnh nhân tử vong, theo những số liệu ngày 26/5, của cơ quan an toàn y tế Santé publique France. “ Điều này liên quan trước hết những thiếu niên có những bệnh nền, suy giảm miễn dịch, béo phì, đái đường, chiếm từ 45% đến 75% những nhập viện và chúng ta muốn dành ưu tiên cho chúng, Lise Alter, directrice de l’évaluation médicale, économique et de la santé publique của HAS, đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng những trẻ em có sức khỏe tốt cũng bị ảnh hưởng.”

Lợi ích cá nhân, luôn luôn, mặc dầu nó ít trực tiếp hơn, đối với những thiếu niên sống gần những người đặc biệt dễ bị thương tổn. Một chiến lược được gọi là “cocooning”, đã được áp dụng với vài trẻ đến tuổi thành niên, được tiêm chủng sớm. Sau cùng, lợi ích cá nhân đối với 15% những thiếu niên bị nhiễm phát triển những thể kéo dài của bệnh. Tiêm chủng có thể tránh cho chúng những tháng sống khó nhọc.

Tìm lại một cuộc sống nảy nở : thật vậy, đó là lợi ích được phát triển bởi HAS, lần này liên quan đến tất cả những người trẻ. Sự phá vỡ của các tương tác xã hội trực tiếp và của học hành en présentiel đã có những hậu quả có hại trên sức khỏe tâm thần và xã hội của các thiếu niên (gia tăng những rối loạn lo âu và nhất là trầm cảm), về phương diện tâm lý dễ bị thương tổn hơn những trẻ emnhỏ tuổi hơn, HAS đã đánh giá như vậy trong ý kiến của mình. Do đó, một sự tiêm chủng các thiếu niên có một lợi ích cá nhân rõ rệt trên bình diện tâm lý và xã hội.” Một lý lẽ thiết yếu đối với Alexandre Belot, thầy thuốc nhi khoa ở hopital Femme-Mère-Enfant de Lyon. “ Đó là lần đầu tiên mà ta sẽ đi tiêm chủng để tránh một nguy cơ tâm lý xã hội

Nhưng ta đã lấy quyết định này mà không volet thứ ba, lợi ích gián tiếp ? Không có những thiếu niên, không thể đạt miễn dịch cộng đồng, miễn dịch sẽ cho phép bỏ những động tác barrière. “Theo Viện Pasteur, phải tiêm phủ không những tăng cao, mà còn đồng nhất, Lise Alter đã nhấn mạnh như vậy. Và những biến thể của virus, lây nhiễm hơn, đã còn làm tăng lên những yêu cầu. Như thế, ngay tiêm chủng 90% dân chúng trưởng thành không cho phép virus len vào các thiếu niên, nếu không thì bị một bảo hòa nhanh chóng các bệnh viện, theo Viện Pasteur.

Vậy HAS khuyến nghi bắt đầu “ một cách rất nhanh cóng sự tiêm chủng những thiếu niên bị những bệnh nền nghiêm trọng hay sống gần những người bị suy giảm miễn dịch hay đặc biệt dễ bị thương tổn và đã không thể được tiêm chủng.

LÚC TỰU TRƯỜNG THÁNG CHÍN

Điều đó dự kiến bắt đầu ngày 15/6, theo tổng thống của nước Cộng Hòa và bộ trưởng y tế. Trong thì hai,ngay khi tỷ lệ tiệm phủ dân chúng truong thành đã đủ tiến triển, để giảm sự lưu hành của virus, để cho phép những thiếu niên bình thường hóa đời sống xã hội của chúng và duy trì sự tiếp cận giáo dục của chúng, HAS khuyến nghị rằng sự tiêm chủng chống Covid-19 có thể được đề nghị cho tất cả các thiếu niên có sức khoẻ tốt, ý kiến đã chỉ như vậy.

Chân trời được ưu tiên là buổi tựu trường tháng chín. Bằng cớ, HAS khuyến nghị, về phía các thầy thuốc nhi khoa và đa khoa,sự nhờ đến y khoa học đường. Chờ đợi tháng chín cũng sẽ cho phép chúng ta quan sát điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ và ở Canada. Nhưng nếu tất cả diễn biến không có vấn đề ở đó, nếu sự tiến bước của chiến dịch tiêm chủng được theo đuổi với một nhịp tăng cao và nếu các liều vẫn có sẵn sàng, cơ quan không loại trừ đi trước date này.

Tuy nhiên, chương trình tham vọng để vài dấu chấm hỏi. Trước hết, sự đồng ý của các phụ huynh. Theo điều tra mới đây CoviPrev, được thực hiện vào cuối tháng năm, 47% các phụ huynh của các trẻ dưới 17 tuổi nói tán đồng sự tiêm chủng. Tỷ lệ chuyển lên 55% ở những người trên 40 tuổi. Trong mưa hè sự tán đồng này có thể tiến triển không ? Cai kho thu hai ve ky thuat, cac truong hoc se phai tiep nhan dong thoi nhung tre em duoc chung và khong duoc chung, nhat là nhung tre lop 6, noi chung 11 tuoi.Chung duoc to chuc nhu the nào ?
Sau cung duoc dat ra mot van de dao duc, mà OMS moi day da neu len. Phai chang ta co the tiem chung nhung thieu nien cua nhung nguoc giàu, it bi nguy hiem, trong khi nhung nguoi co nguy co van khong duoc bao ve trong nhung nuoc nghèo ? Doi voi HAS, su co duoc mot couverture mondiale “phai là mot uu tien”. Nhung nhung modélisation épidémiologique và nhung hau qua tam ly xa hoi cua dai dich o cac thieu nien yeu cau vuot qua nhung mau thuan dao duc này. (LE MONDE 4/6/2021)

BỈ : CHUẨN THUẬN TIÊM CHỦNG NHỮNG THIẾU NIÊN 16-17 TUỔI.

Conseil supérieur de la santé (CSS) khuyến nghị tiêm chủng một cách nhanh chóng tất cả những thiếu niên từ 16-17 tuổi với bệnh nền. Những người trẻ tuổi khác thuộc loại này phải được tiêm chủng “ theo những thể thức được dự kiến bởi Taskforce cho toàn dân”, cần biết rằng ta càng đi xuống trong những lứa tuổi, lợi ích cá nhân (bénéfice individuel) của sự tiêm chủng càng ít ỏi.

Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMA) hiện giờ đă chỉ chấp thuận vaccin Pfizer cho những người 16-17 tuổi. CSS nhắc lại rằng những tác dụng phụ trong thời gian ngắn hạn dường như hạn chế trong lứa tuổi này, nhưng còn có ít dữ liệu về chủ đề này.
Cũng như đối với những người lớn, CSS khuyến nghị rằng những thiếu niên co những yếu tố bệnh nền phải được tiêm chủng ưu tiên. Mặc dầu nguy cơ nhập viện hay tử vong ở những người trẻ mặc dầu rất thấp, nhưng sự tiêm chủng chủ yếu sẽ góp phần hạn chế sự lưu hành của virus, bởi vì những người trẻ có nhiều tiếp xúc xã hội hơn, nhưng không làm giảm một cách trực tiếp áp lực lên các bệnh viện.

Lý lẽ khác tán thành sự tiêm chủng ở lứa tuổi này : vaccin sẽ cho phép làm giảm stress liên kết với sự lưu hành của virus trong các trường học và tạo điều kiện cho một sự trở lại bình thường dễ dàng hơn đối với khu vực giảng dạy và đào tạo, bằng cách hạn chế tinh trạng vắng mặt quan trọng của các học sinh và sự cần thiết đóng cửa các lớp/trường học trong trường hợp các lây nhiễm lên trở lại trong tương lai.
Tuy nhiên, Conseil supérieur de la Santé nhấn mạnh ý niệm “ sự ưng thuận được soi sáng” (consentement éclairé) đối với những trẻ vị thành niên. Điều đó có nghĩa rằng “ sự tham gia tích cực của các người hành nghề y tế, của cha me và/hay của những người hữu trách hợp pháp, của trường học, của những tác nhân xã hội…là cơ bản để mang lại tất cả những câu trả lời thích đáng cho những câu hỏi của họ đối với sự tiêm chủng”.

Sau cùng, CSS đặt một câu hỏi đạo đức y khoa (éthique médical) : phải chăng có thể chấp nhận dự kiến tiêm chủng đại trà các thiếu niên trong những nước giàu trong khi những bệnh nhân già và yếu chưa được tiêm chủng trong phần còn lại của thế giới ? Câu hỏi sẽ đáng được đặt ra “ trong trường hợp quyết định tiêm chủng đại trà tất cả các trên em trong vài nước”, CSS đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MÉDECIN 27/5/2021)

Ở HOA KỲ, 3 TRIỆU THIẾU NIÊN ĐÃ ĐƯỢC TIÊM CHỦNG

¼ những bố mẹ của các thiếu niên từ 12 đến 15 tuổi đã cho tiêm chủng các con của họ, và 18% dự định làm điều đó một cách nhanh chóng.

Ở lối vào của salle polyvalente của Silver Spring (Mariland), được biến thành trung tâm tiêm chủng, bầu không khí là khá vui nhộn và sự tiếp đón những bệnh nhân trẻ rất thân mật, vào cuối tháng năm này. Vài ngày trước khi mở cửa tiêmchủng cho các trẻ từ 12 đến 15 tuổi, vào giữa tháng năm, ở Hoa Kỳ, một đội quân tình nguyện en gilet jaune hướng dẫn các cha mẹ và các thiếu niên trong những giai đoạn khác nhau của lộ trình đến tận các bàn, ở đây các kim tiêm và các lọ vaccin đang chờ đợi.
Những trẻ, nhận liều đầu tiên của vaccin Pfizer, vaccin duy nhất hiện nay có thể tiếp cận ở lứa tuổi này ở Hoa Kỳ, được hoan nghênh nhiệt liệt về sự can đảm của chúng. Sau mũi tiêm, các thiếu niên chờ ¼ giờ quy định trước khi rời trung tâm, với ngày lấy hẹn cho liều thứ hai

Từ khi FDA, 10/5 rồi Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật loan báo rằng những thiếu niên dưới 16 tuổi có thể, mà không bi nguy cơ, nối gót những triệu người Mỹ 16 tuổi và hơn (169 triệu đã được tiêm chủng vào 2/6), 24% các bố mẹ của những thiếu niên 12-15 tuổi đã xông đến những trung tâm tiêm chủng mở cửa cho lứa tuổi này và 18% dự định sẽ làm như vậy ngay khi có thể.“ Người ta bằng lòng có thể bảo vệ chúng, để chúng bảo vệ những người khác, đến độ người ta đã ào tới ngay khi có thể, Meredith Cabe, mẹ của ba trẻ 11, 15 và 17 tuổi, đã nói như vậy. “ Một giay phút làm xúc động, bà đã tam su như vậy, ám chỉ lòng nhiệt tình của các nhân viên.

Trong vòng chưa được 3 tuần, 3 triệu trong số những thiếu niên trẻ tuổi này, trên một population 17 triệu, đã nhận liều đầu tiên. Trên khắp đất nước, những thanh niên 16-17 tuổi đã đi trước chúng từ giữa tháng tư : vào ngày 1/6, 27 triệu trong số 8 triệu những người trẻ cùng đã đuoc tiêm chủng. Trung bình, tùy theo những tiểu bang, 23% những trẻ 12-17 tuổi từ nay được bảo về bởi ít nhất một liều. Nhưng vẫn tồn tại những chenh lech lớn : chứng chỉ được tiêm chủng 5% trong Alabama, so với 42% trong Massachusetts.
Sự nhiệt tình của nhiều bố mẹ, chính họ đã được tiêm chủng, đã cho phép duy trì nhịp của một chiến dịch viêm chủng Hoa Kỳ, đã bắt đầu dậm chân tại chỗ ở những người trưởng thành. Sau một cao điểm 3,3 triệu tiêm chủng mỗi ngày vào giữa tháng tư, từ nay nhịp dp trung bình được xác lấp dưới 1,5 triệu.

Như Meredith Cabe, nhiều bố mẹ hy vọng một sự trở lại bình thường đối với lớp tuổi này. Tuy nhiên bà mẹ một con này bị nhiều dị ứng công nhận đã tìm hiểu về tính hiệu quả và những tác dụng phụ tiềm năng.

Nhưng bà phấn khởi nhất là vì những món lợi, về y tế và xã hội, mà bà đã quan sát đối với gia đình bà. Người con trưởng, đã nhận hai liều vaccin, đã trở lại trường cách nay vài tuần.Nó sẽ có thể dự buổi lễ trao văn bằng, một giai đoạn quan trọng đối với những thanh niên, nhất là sau năm mà chúng vừa trải qua. Và, đối với ngày cuối của lớp học, nó đã có thể tổ chức một pizza party trong phòng của nó với các bạn, gần như ngạc nhiên về hạnh phúc mà “những liều nhỏ” này mang lại.
Cũng như đối với chiến dịch tiêm chủng ở người lớn, những người hữu trách y tế tin chắc rằng điều khó nhất vẫn là phải thuyết phục những người do dự và những người cứng đầu (20% những người Mỹ luôn luôn từ chối tiêm chủng).

“ KHÔNG CÓ THỜI GIAN NHÌN LẠI”

Vài bố mẹ luôn luôn biểu hiện một sự nghi kỵ đối với những khuyến nghị khoa học và làm chậm sự chuyển qua hành động. Alice nằm trong số những kẻ cứng đầu. Hai thiếu niên của bà, 14 và 18 tuổi, chưa được tiêm chủng. “ Người ta không có thời gian nhìn lại về những vaccin này. Người ta không biết gì về những tác dụng phụ trong thời gian dài hạn ; người ta chơi học làm phù thủy, bà mẹ gia đình đã lo lắng như vậy. Đối với tôi, vaccin tiềm năng nguy hiểm hơn Covid đối với những người trẻ, ở chúng ít có những trường hợp nặng.” Trên khoảng 593000 người chết vì Covid-19 ở Hoa Kỳ, 300 dưới 18 tuổi. Tuy vậy, mặc dầu những cảnh báo của bà, hai người con gái của bà chẳng bao lâu sẽ được tiêm chủng. “ Chính áp lực xã hội buộc chúng tôi phải quyết định. Không vaccin, người ta sẽ không còn có thể đi du lịch, các trẻ em không thể đến trường.”
Mặc dầu tính hợp pháp của quyết định vẫn còn phải được chứng mình, nhiều trường tư đã cho biết rằng họ sẽ yêu cầu một bằng cớ tiêm chủng lúc tựu trường. Theo Pfizer, các trẻ em có thể được tiêm chủng vào đầu năm 2022.
(LE MONDE 4/6/2021)

4. CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ KHÔNG PHẢI ĐEO KHẨU TRANG ?

Trừ trường hợp ngoại lệ, việc bỏ khẩu trang dường như sớm chừng nào dịch bệnh lưu hành tích cực trong đất nước.
Hỏi : Nếu ta được tiêm chủng, ta có thể lấy đi khẩu trang ?
Đáp : Các vaccin chống Covid làm giảm một cách đáng kể nguy cơ nhiễm và truyền virus. Nhưng “vào lúc này, mặc dầu được tiêm chủng, chúng ta hãy tiếp tục áp dụng những động tác barrière và mang khẩu trang”, Bộ y tế đã truyền lệnh như vậy. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật ở Hoa Kỳ (CDC) đã loan báo vào giữa tháng năm rằng những người được tiêm chủng đầy đủ có thể lấy khẩu trang đi, ngoại trừ trong những môi trường rất đông người như những buổi hòa nhạc ngoài trời hay những vận chuyển công cộng. Ở Israel, sự bắt buộc cũng đã được giở bỏ. “ So sánh với những quốc gia có 3 tháng đi trước chúng ta về mặt bao phủ tiêm chủng (couverture vaccinale) không phải là một ý tưởng tốt, GS Didier Lepelletier, trưởng khoa vệ sinh bệnh viện ở CHU de Nantes và chuyên gia của Haut Conseil de la santé publique, đã cảnh giác như vậy. Tỷ lệ của những người được tiêm chủng hoàn toàn vượt 40% ở Hoa Kỳ và khoảng 60% ở Israel trong khi Pháp vừa vượt quá 15%, vậy không đủ để bỏ khẩu trang ở nơi công cộng. “ Tuy nhiên ta có thể lấy đi khẩu trang nếu ta đến thăm ông bà về nếu tất cả những người hiện diện được tiêm chủng, người chuyên gia trấn an và nhấn mạnh tầm quan trọng của trách nhiệm hóa mỗi người.” Người ta càng ngày càng lơi lỏng, đó là bình thường. Vậy chúng ta phải cho họ tất cả những yếu tố thông hiểu để họ thích nghi hành vị của mình với các trường hợp.”
Hỏi : Không cần khẩu trang ở ngoài trời ?

Đáp : Trong một ý kiến được công bố vào tháng tư, Haut Conseil de la santé publique khuyến nghị thích nghi những biện pháp hạn chế với mức nguy cơ. Ở ngoài trời, điều này được đánh giá khả thi”. “ Theo vài nghiên cứu khoa học, sự truyền của coronavirus ở ngoài trời không chiếm hơn 10% nhưng lây nhiễm, GS Lepelletier đã chỉ như vậy. Tuy vậy, “ để giai đoạn 9/6 (đánh dấu ngày giờ bỏ những biện pháp cách lý sắp đến) thành công, cần giữ một thái độ thận trọng. Thật vậy nước Pháp ở trong một tình huống trung gian : virus tiếp tục lưu hành và nguy cơ liên kết với những biến thể tiềm năng lây nhiễm hơn không thể không biết. Didier Lepelletier khuyên tiếp tục mang khẩu trang trong một con đường rất đông người qua lại hay trên một bãi biển đông người lui tới, ở đây khó kiểm soát số người mà ta gặp. Ngược lại khẩu trang có thể đặt trong túi mỗi khi có thể ở cách xa, thí dụ trong một rừng hoang. Sau cùng thầy thuốc y tế cộng đồng nhắc lại rằng “ nếu những lây nhiễm qua aérosol hầu như được loại bỏ ở ngoài trời, sự tiếp xúc với những giọt nhỏ vẫn tồn tại trong những tình huống kếcận, như en terrasse”.

Hỏi : Khi nào ta có thể bỏ khẩu trang vĩnh viễn ?

Đáp : Mới đây Emmanuel Macron đã thú nhận “chan ngay” khẩu trang nhưng đã nhấn mạnh rằng phải giữ nó trong lúc chờ đợi virus luu hành ít hơn. Điều đó phần lớn tuỳ thuộc vào tỷ lệ tiêm chủng. “ Nhưng phải biết ta nói về miễn dịch nào, có phải là miễn dịch cóng đồng cần thiết để dập tắt đại dịch hay miễn dịch chỉ phép làm dẹt đường cong ở một mức có thể chấp nhận ?”, GS Daniel Camus, chuyên gia bệnh nhiễm trùng ở Viện Pasteur de Lille đã hỏi như vậy. Vào tháng tư Viện đã tiên liệu rằng 90% những người trưởng thành phải được tiêm chủng để có thể không cần tất cả những động tác barrière vào mùa thu. Tỷ lệ này có thể được hơi được hạ xuống, các nhà nghiên cứu đã nói như vậy, vì lẽ tính hiệu quả của các vaccin lên sự truyền của virus. Nhưng đích vẫn rất cao. “ Quyết định chị dựa trên những sự kiện khoa học là đơn giản hơn, những điều đó dường như khó. Đó cũng là một vấn đề xã hội và phải tìm một thỏa hiệp để nới lỏng vài sự gò bó ”, Daniel Camus đã đánh giá như vậy.

Hỏi : Phải chăng việc mang khẩu trang sẽ trở thành thói quen ?
Đáp : Đó là hy vọng của các chuyên gia của phòng ngừa các nhiễm trùng.“Mang khẩu trang vào mùa đông trong trường hợp đợt dịch bệnh cho phép tránh những tử vong”, Didider Lepelletier, mong muốn rằng những geste barrière đi vào trong văn hóa Pháp. Điều đó cũng cho phép tránh những nghỉ việc, và làm nhẹ gánh hệ điều trị. Theo Santé publique France, không một dịch bệnh cúm nào đã được phát hiện năm nay và bệnh viêm dạ dày-ruột đã ít lưu hành, nhờ những biện pháp hạn chế và những gestes barrières. Là nhà sử học y tế ở Canada, Laurence Monnais tuy vậy sợ rằng khẩu trang sẽ bị bỏ xó nhanh chóng. Bà chuyên gia về châu Á này đã chứng thực điều đó sau dịch bệnh SRAS đã xảy ra ở Toronto vào năm 2003 : “Mặc dầu một bộ phận dân chung đã bắt đầu mang nó, nhưng thói quen này chỉ kéo dài vài , bà đã nói như vậy. Đối với giới hữu trách y tế, một trong những enjeu của thời kỳ hậu Covid sẽ là xây dựng những thực hành phòng ngừa mới”.
(LE FIGARO 31/5/2021)

5. TRÊN BÌNH DIỆN Y TẾ, CÁC PHỤ NỮ ÍT BỊ COVID HƠN ĐÀN ÔNG

2/3 bệnh nhân nhập viện trong hồi sức là những người đàn ông.

Trong tất cả các nước, điều chứng thực là giống hệt nhau. Trong khi các phụ nữ và đàn ông đều bị nhiễm như nhau bởi Covid-19, nhưng những người đàn ông bị chết nhiều hơn vì nó, mặc dầu tuổi là yếu tố nguy cơ chính của sự phát triển một thể nặng. “Những người đàn ông có nguy cơ hơn bị nhập viện vì Covid-19 và chiếm 58% những trường hợp tử vong ở bệnh viện. Họ cũng chiếm đa số ở hồi sức : họ đại diện khoảng 2/3 những người được đưa vào trong những khoa này, nhà dịch tễ học Daniel Lévy-Bruhl, phụ trách đơn vị nhiễm trùng hô hấp của Santé publique France đã nhấn mạnh như vậy.
“ Tỷ lệ gây chết (létalité) (xác suất chết trong trường hợp nhiễm virus) là hai lần cao hơn ở đàn ông trên 25 tuổi, Mirea Sofonea, chuyên gia dịch tễ học ở laboratoire Mivegec (những bệnh nhiễm trùng và vecteurs), ở đại học Montpellier, nói như vậy. Nhưng cần ghi nhớ rằng tỷ lệ các phụ nữ gia tăng lúc đi ngược lên pyramide des âges.

Làm sao giải thích sự khác nhau này ? “Những con số này chủ yếu phản ánh tỷ lệ khác nhau của những yếu tố nguy cơ tùy theo giới tính, Daniel Lévy-Bruhl đã giải thích như vậy. Những người đàn ông có một xác suất quan trọng hơn đàn bà có một bệnh nền, dieu này ảnh hưởng nguy cơ bị thể nặng. Thí dụ những người đàn ông bị nhiều hơn bệnh đái đường hay những bệnh tim-hô hấp mãn tính. Ở những người 65 tuổi hoặc hơn, nguy cơ bị một bệnh nền làm trầm trọng hay bệnh béo phì, ở đàn ông cao hơn đàn bà, một nghiên cứu của Bộ y tế được công bố vào tháng 7/2020 đã xác nhận như vậy.
Nhưng những khác nhau về những bệnh nền không giải thích tất cả. “ Có thể rằng sự việc là giới tính tự nó là một yếu tố nguy cơ, Daniel Lévy-Bruhl đã nói rõ như vậy. “ Ta bắt đầu hiểu vài cơ chế sinh học, mặc dầu nhiều điều cần phải làm, Jean-Charles Guéry, phụ trách équipe về những khác nhau giới tính trong miễn dịch ở Viện các bệnh nhiễm trùng và viêm ở Toulouse, đã chứng thực như vậy. Có những khác nhau liên kết với giới tính trong miễn dịch : các phụ nữ thường khả dĩ phát triển những bệnh tự miễn dịch hay dị ứng hơn đàn ông ; họ ít bị những thể nặng của Covid-19 hơn đàn ông;

HƯỚNG DI TRUYỀN

Trong trường hợp SARS-CV-2, những khác nhau về giới tính đã được quan sát trong sự sản xuất cytokine, những phân tử chống virus, như những interféron loại I, mạnh hơn ở phụ nữ. Trong số những bệnh nhân nhập viện, những bệnh nhân phụ nữ, ngay cả lớn tuổi, phát triển những đáp ứng miễn dịch với những tế bào bạch cầu như những tế bào lympho T, mạnh hơn so với đàn ông, theo một nghiên cứu của một équipe de Yale, được công bố trong Nature vào tháng tám 2020, Jean-Charles Guéry đã định rõ như vậy. Sự kiểm soát sơ nhiễm (primo-infection) sẽ hiệu quả hơn ở phụ nữ, ngăn cản nhiều hơn orage cytokinique, một phản ứng viêm dữ dội, trước một nhiễm virus.
Một équipe của CHU de Strasbourg và của Viện Pasteur đã cho thấy rằng, sáu tháng sau khi bị nhiễm virus, các phụ nữ có một bảo vệ miễn dịch hiệu năng hơn đàn ông, với những kháng thể trung hòa kéo dài lâu hơn. Một cách tổng quát ta biết rằng các phụ nữ có một đáp ứng thể dịch và tế bào mạnh hơn đàn ông, dầu đối phó với những bệnh nhiễm trùng khác hay đáp ứng với một tiêm chủng. Khía cạnh có hại của tính phản ứng (réactivité) lớn hơn này là các phụ nữ thường bị những bệnh tự miễn dịch, Samira Fafi-Kremer, giám đốc của Viện virus học của Strasbourg đã nhắc lại như vậy. Ngược lại,những người đàn ông có trong máu những nồng độ cytokine cao hơn, điều này tạo điều kiện cho những phản ứng viêm như interleukine 8 và interleukine 18, tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh ”, M. Sofonea đã nói như vậy.
Hướng di truyền cũng đuoc thăm dò. Các phụ nữ có một nhiễm sắc thể bằng hai bản, những người đàn ông chỉ có một. Thế mà nhiều gène của miễn dịch nằm trên nhiễm sắc thể sinh dục này. Trong số những gène này, có TLR7, một thành phần của miễn dịch bẩm sinh, nhận biết ARN của SARS-CoV-2. Năm 2018, équipe của BS Guéry đã cho thấy rằng gène này có thể được biểu hiện thành hai bản sao trong những tế bào miễn dịch của các phụ nữ, điều này có thể giải thích những đáp ứng tốt nhất đối với những nhiễm virus.

Một báo cáo của Yannis Michalakis, giám đốc nghiên cứu ở CNRS và thành viên của équipe de Mivegec, vào mùa hè 2020, đã đưa ra già thuyết rằng một bệnh nền khác, sự thiếu hut glucose-6-phosphate déshydrogénase (G6PDD hay favisme), một bệnh liên kết với nhiễm sắc thể X, tiềm năng có thể giải thích một phần của sự khác nhau về bệnh nền giữa hai giới tính. Trong phòng thí nghiệm người ta đã cho thấy rằng một sự thiếu hụt của enzyme này dẫn đến một sự nhân đôi virus lớn hơn. Yếu tố sinh học quan trọng khác, những kích thích tố sinh dục (oestrogène progestérone…) có thể tăng cường tính miễn dịch ở phụ nữ trước Covid-19. Nhưng đó là những giả thuyết : Những khác nhau về giới tính được quan sát ở tất cả các lứa tuổi của cuộc sống, điều này không nghiêng về một hiệu quả của các hormone, Jean-Charles Guréry đă nói như vậy.

Rộng hơn,những yếu tố này (của tuổi tác, các bệnh nền…) cũng tương tác với những yếu tố di truyền, nhưng cũng với khung cảnh xă hội-văn hóa (tình trạng bấp bênh, sự chung lộn, những thói quen di chuyển), Mircea Sofonea đă nói như vậy. Như thế có những khác nhau hành vi (như sự kiện hút thuốc lá) hay những nghề nghiệp buộc phải tiếp xúc nhiều hơn.

Tuy nhiên, khi đó là những trường hợp Covid kéo dài, nếu những người đàn ông có nguy cơ hơn bị những thể nặng, những phụ nữ dường như có thể bị những triệu chứng kéo dài hơn, nghiên cứu được thực hiện từ cohorte French Covid (4310 bệnh nhân) đã ghi chú như vậy.Ta có nhiều lý lẽ để nói rằng những thương tổn cơ quan liên kết với Covid (những thương tổn phổi, tim,…) giống nhau ở đàn ông và đàn bà, nhà dịch tễ học Việt-Thị Trần, coinvestigateur của ComPaRe, một plaque-forme d’e-épidémiologie đã nói như vậy. Những phụ nữ báo cáo nhiều triệu chứng hơn, như sự âu lo.
Một điều tra trong số một mẫu hơn 20.000 người dương tính với Covid-19 giữa 26/4/2020 và 3/2021, được thực hiện bởi Office national des stattistiques anglais, đã cho thấy rằng tỷ lệ lưu hành của những triệu chứng 12 tuần sau nhiễm ở phụ nữ (14,7%) cao hơn đàn ông (12,7%). Nhưng ta chưa biết những người đàn ông có ít bị Covid long hay không, bởi vì họ bị chết nhiều hơn.
(LE MONDE 6 & 7 JUIN 2021)

Đọc thêm :
-TSYH số 567 : bài số 7

6. CORONAVIRUS : BILDEN LẠI ĐẨY MẠNH GIẢ THUYẾT RÒ RỈ PHÒNG THÍ NGHIỆM

Gây sự tức giận của Bắc Kinh, tổng thống của đảng dân chủ Joe Biden ủy thác cho các cơ quan đào sâu hướng được mở ra bởi Trump.
PANDEMIE. Giả thuyết về nguồn gốc tai nạn của đại dịch Covid-19 cuối cùng đã được cho là quan trọng. Hôm thứ tư 26/5, Joe Biden đã ra lệnh cho các cơ quan tình báo gia tăng cố gắng trong điều tra về những bước đầu của dịch bệnh, bằng cách đưa vào giả thuyết của một tai nạn xảy ra trong một phòng thí nghiệm Trung Quốc. Ông đã yêu cầu rằng một báo cáo phải được đệ trình cho ông từ nầy đến 3 tháng nữa, và yêu cầu các phòng thí nghiệm Hoa Kỳ góp phần vào cuộc điều tra.
 Về sự việc muốn biết virus có một nguồn gốc động vật hay phát xuất từ một phòng thí nghiệm, Biden đã giải thích rằng các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã nhất trí về sự hiện hữu của “ hai kịch bản khả dĩ, nhưng không đạt đến một kết luận dứt điểm. Hiện nay, hai cơ quan nghiêng về kịch bản thứ nhất và một cơ quan về kịch bản thứ hai, mỗi kịch bản với một độ tin cậy thấp hay vừa phải ; phần lớn không nghĩ rằng có đủ thông tin để đánh giá một kịch bản như là có khả năng hơn kịch bản kia, Biden đă nói thêm như vậy.Hoa kỳ cũng sẽ tiếp tục với những đối tác trên khắp thế giới, áp lực lên Trung quốc để nước này tham gia vào một điều tra quốc tế hoàn toàn, mình bạch và có căn cứ, và rằng Trung quốc cho phép tiếp cận tất cả những dữ liệu và bằng cớ cần thiết.

Sự quay ngắt này xuất hiện sau khi chính quyền mới đă giảm nhẹ trong nhiều tháng khả năng rằng một phòng thí nghiệm Trung quốc là nguồn gốc của đại dịch, giả thuyết được xem như một lý thuyết âm mưu. Sau khi nhậm chức, giới hữu trách mới của Hoa Kỳ đã chấm dứt một điều tra của Bộ ngoại giao, được phát động vào cuối chánh quyền Trump để chứng tỏ rằng coronavirus xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc, viện dẫn những lo ngại về chất lượng của công trình. Cuộc điều tra này vào mùa thu vừa qua đã được Ngoại trưởng thời đó, Mike Pompeao giao cho Bureau de la vérification et du controle des armements. Ông đã quyết định chứng minh rằng nghiên cứu quân sự Trung Quốc về vũ khí sinh học có thể đã có những liên hệ với sự tạo thành virus.

NHỮNG TRÙNG HỢP GÂY BỐI RỐI

Nghi ngờ đối với tất cả những quyết định bởi chính quyền Trump, những đảng viên dân chủ, và phần lớn những truyền thống Hoa Kỳ, đã xem những lời buộc tội được đưa ra vào thời đó bởi tổng thống Trump chống lại trung quốc như là một trong những lời cáu kỉnh lệ thường nhằm quở trách ai khác và không có căn cứ. Mặc dầu trước hết được bảo vệ bởi vài khoa học gia và những điều tra viên riêng rẻ, nhưng bị bác bỏ công khai bởi phần lớn các cơ quan, Hoa Kỳ và quốc tế, tuy vậy giả thuyết của một nguồn gốc người của virusđã giành được sự tin cậy.

Nhiều sự kiện và những trùng hợp gây bối rối đã tích tụ. Sự trùng hợp đầu tiên là sự hiện hữu của những phòng thí nghiệm chuyên môn trong nghiên cứu về các coronavirus trong ngay thành phốVũ Hán, từ đây dịch bệnh đã xuất phát. Việc không có những bằng cớ được cung cấp bởi Trung Quốc để làm nòng cốt cho nguồn gốc động vật của virus, giả thuyết chính thức của Bác Kinh và nhất là năng lực được triễn khai bởi chính quyền Trung Quốc để ngăn cản một điều tra nghiêm túc, không cho phépcommission de l’OMStiếp cận các dữ liệu, tất cả điều này củng cố những nghi ngờ.

Cuộc tranh luận đã được phát động trở lại bởi nhật báo Hoa Kỳ Wall Street Journal. Tờ báo đã tiết lộ một báo cáo của tình báo Hoa Kỳ, theo đó nhiều nhà nghiên cứu làm việc ở Viện virus học Vũ Hán đã được nhập viện vào đầu tháng 11 năm 2019, hoặc 6 tuần trước lúc đại dịch bắt đầu chính thức, với “ những triệu chứng tương ứng với hoặc long Covid-19, hoac là cúm mùa”.
Vào tháng ba vừa qua, David Asher, chỉ đạo cuộc điều tra của Bộ ngoại giao về nguồn gốc của đại dịch, đã bày tỏ sự nghi ngờ của ông về sự kiện các nhà nghiên cứu đã có thể chỉ là nạn nhân của một bệnh mùa. “ Có thể rằng đó là cúm, nhưng tôi rất nghĩ rằng ba người làm việc trong những điều kiện rất được bảo vệ trong một phòng thí nghiệm mức độ 3 chuyên về coronavirus, tất cả đều bị cúm và được nhập viện hay trong một tình trạng nghiêm trọng trong cùng một tuần, và rằng điều đó không có liên hệ gì với coronavirus. Thật rất khó tin”, ông đã nói như vậy.
Ngày 15 tháng giêng vừa qua, hoặc vài ngày trước khi chấm dứt nhiệm kỳ của Donald Trump, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã đề cập những nhập viện này, cũng tiết lộ rằng Viện virus học Vũ Hán thực hiện những thí nghiện mutations à gain de fonction trên những coronavirus này, và rằng viện đã làm việc với những chương trình quân sự trung quốc. Những tiết lộ này đã tương đối không được nhận thấy, được các người dân chủ và giới truyền thông Hoa Kỳ xem như tất cả những gì phát xuất từ Chính quyền Trump.

Sự thay đổi ý kiến đột ngột của chính quyền mới Hoa Kỳ đã gây sự nổi giận của chánh quyền trung quốc. Phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Dương kiết Trì đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ “ không bận tâm về các sự kiện và sự thật, và cũng không quan tâm bởi một nghiên cứu khoa học nghiêm túc về các nguồn gốc của đại dịch”.

Vụ việc cũng hàm chứa một ý nghĩa lớn về chính sách đối nội đối với Joe Biden, mà những thông tin của Wall Street Journal và sự tiết lộ về sự đình chỉ cuộc điều tra của bộ ngoại giao đã đặt ông ta vào thế thủ. Trong chiến dịch bầu cử, những người thuộc đảng dân chủ đã trách Trump đã rút Hoa Kỳ ra khỏi OMS với lý do tổ chức này phụ thuộc Trung Quốc và Biden đã trở lại cơ quan này ngay khi nhậm chức. Những người cọng hòa hiện cáo buộc tổng thống của đảng dân chủ yếu ớt trước Trung Quốc, và không xét đến những tiết lộ của chính quyền tiền nhiệm.
“ Chúng ta phải biết những điều đã xảy ra”, cựu Bộ trưởng ngoại giao Mike Pompeo đã nói như vậy trên đài Fox News. “ Đảng cộng sản Trung quốc biết những điều đã xảy ra. Họ biết ai là bệnh nhân zéro. Họ biết một cách chính xác ở đâu điều đó đã bắt đầu.”

“ Hôm nay mọi người nhất trí nói rằng tôi đã có lý khi tôi đã rất sớm chỉ Vũ Hán như là nguồn của Covid-19, đôi khi được gọi là virus trung quốc, Trump đã nói một cách đắc thắng như vậy trong một courriel. “ Đối với tôi, điều đó rõ ràng ngay từ lúc đầu, nhưng tôi đã rất bị chỉ trích, như thường lệ. Bây giờ, mọi người đều nói : ông ấy có lý ! Cảm ơn !”

Sự ngờ vực được biểu lộ một cách công khai bởi Trump đối với những cơ quan tình báo Hoa Kỳ và với Bộ ngoại giao, sự chính trị hóa cực kỳ của những lời tuyên bố của ông ta, và sự từ chối hợp tác với chính quyền mới cũng đã có thể góp phần làm mất tín nhiệm những thông tin này.

Dấu hiệu khác chứng tỏ rằng lý thuyết về phòng thí nghiệm như là nguồn gốc kh dĩ của Covid từ nay khó phủ nhận ? Facebook, cho đến nay vốn đã chận đứng sự phổ biến những thông tin về giả thuyết này, bây giờ đã giở bỏ sự cấm đoan này.
(LE FIGARO 28/5/2021)

7. BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG : MỘT LIỆU PHÁP MỚI CHO MỘT ĐỜI SỐNG MỚI

Nhờ ghép các đảo tụy tạng, từ nay được bồi hoàn bởi assurance-maladie ở Pháp, những bệnh nhân bị đái đường loại 1 sau cùng hy vọng sống một cuộc sống bình thường.

Đây là một cách đẹp đề kỷ niệm một trăm năm sựkhám phá insuline, vào năm 1921, bởi người Canada Frederic Banting : những bệnh nhân đái đường người Pháp bị bệnh nặng nhất sẽ có thể hưởng một liệu pháp chưa từng có, cho phép họ một đời sống mới. Đó là ghép cho họ những đảo tụy tạng (hay những đảo Langerhans), những tế bào này bình thường có nhiệm vụ sản xuất insuline trong tụy tạng nhưng bị tiêu hủy ở những bệnh nhân đái đường loại 1 (10% các trường hợp). Những toan tính đầu tiên của những ghép này bắt nguồn từ những năm 1970. Từ đầu những năm 2000, chúng được thực hiện trong khung cảnh nghiên cứu và chỉ dành cho những trường hợp nặng của bệnh đái đường loại 1, hoặc ở dưới 100 bệnh nhân ở Pháp. Nhưng tin trúng vào ngày 5/3 : từ nay assurance-maladie sẽ đảm trách phí tổn của các bệnh nhân này. Một sự thay đổi cho phép Pháp đuổi kịp sự chậm trễ của mình. Vào lúc này, hoạt động vẫn là thứ yếu ở Pháp so với những nước châu Âu khác », GS Lionel Badet, trưởng khoa niệu học, chirurgie de la transplantation, ở bệnh viện Edouard-Herriot (Lyon) và chủ tịch của réseau national Trepid (quy tụ phần lớn những équipe nationale liên quan trong phương pháp thérapie cellulaire này) đã báo cáo như vậy.

MỘT GIẤC MƠ CỦA CÁC CHUYÊN GIA VÀ BỆNH NHÂN ĐÁI ĐƯỜNG TRỞ THÀNH HIỆN THỰC.
Các thầy thuốc tiến hành như thế nào ? Bằng cách thực hiện một thao tác tài tình cho phép biến doi một lá gan thành tụy tạng ! Được hiệu chính trong những năm 2000 theo protocole được gọi là Edmonton (Alberta, Canada), tham chiếu một trong những trung tâm mũi nhọn nhất của thế giới, phương pháp này nhằm phục hồi sự tiết insuline. Đó là tiêm trực tiếp vào trong tuần hoàn tĩnh mạch của gan (cơ quan đích của insuline, có ưu điểm là được phân bố mạch mạnh), những tế bào tụy tạng lành mạnh phát xuất từ một người hiến, và có khả năng tiết kích thích tố quý giá. Trên thực hành, cần tiêm từ hai đến ba mũi những tế bào của đảo Langerhans, cách nhau vài tháng. Đó là giấc mơ của chuyên gia đái đường và của bệnh nhân đái đường được thực hiện, Pierre Yves Benhamou, giáo sư ở CHU Grenoble-Alpes, một trong những nhà nghiên cứu Pháp, đã tóm tắt như vậy trong hội nghị vừa qua của Société francophone du diabète vào tháng ba 2021.
Chúng ta hãy nhắc lại rằng insuline (insula : chữ latin có nghĩa là đảo) là hormone duy nhất hạ đường huyết được sản xuất bởi cơ thể, nghĩa là tác dụng là làm hạ nồng độ của đường trong màu (glycémie), để duy trì nồng đó quanh 1g/l. Một chức năng được thực hiện một cách tế nhị vì lẽ sự tiết này của hormone đo đặc điểm tự thích ứng một cách thường trực với đường huyết, thí dụ tăng lên sau mỗi bữa ăn, hay giảm xuống sau một cố gắng vật lý. Vậy những bệnh nhân dãi đường loại 1 phải tự tiêm insuline một cách đều đặn bằng đường dưới da nhờ seringue, stylo hay pompe, có thể được nối với những cap teur de glucose. Nhưng đôi khi, không thể quân bình bệnh nhân đái đường, đường huyết thay đổi liên tục. Kết quả : những malaise thường xảy ra, voi, trong thời gian ngắn hạn, những nguy cơ hôn mê, và, trong thời gian dài hạn, nhiều biến chứng và trầm trọng (mù, bệnh tim mạch, suy thận…)

25% CÁC BỆNH NHÂN KHỎI PHẢI TIÊM 10 NĂM SAU

« Những ứng viên ghép luôn luôn là những bệnh nhân có chất lượng sống rất bị biến đổi vì tính chất không ổn định và nghiêm trọng của bệnh đái đường của họ », BS Sandrine Lablanche, diabétologue ở CHU Grenoble-Alpes đã nói như vậy. Bà nói tiếp : Sau nhiều thập niên nghiên cứu, sự cho phép này là một sự đỡ đần và một sự thỏa măn lớn. Bây giờ, chúng ta sẵn sàng. Các chuyên gia đái đường vẫn còn phải nhận diện trong số những bệnh nhân của họ những người khả dĩ nhất có thể nhận phương pháp này để chuyển họ đến những trung tâm chuyên môn khác nhau. Mục tiêu là có thể ghép khoảng 150 bệnh nhân mỗi năm, GS Franois Pattou, thầy thuốc ngoại khoa ở CHU de Lille và là một trong những người tiền phong của cuộc phiêu lưu này, đă thực hiện ghép đầu tiên ở Pháp năm 2003. Với équipe của mình, ông cũng đă công bố năm 2019 trong tạp chí Diabetes Care những kết quả đầu tiên cho thấy rằng, 10 năm sau ghép, 75% các đảo vẫn luôn luôn hoạt động và rằng 25% những bệnh nhân từ nay hoàn toàn khỏi phải tiêm. Nhưng chưa thể nói trước sự độc lập đối với insuline (insuline-indépendance) này sẽ được dành cho ai », Françoise Pattou đã nói như vậy, mặc dầu những kết quả tốt nhất được quan sát ở những người trẻ và phụ nữ.

Ngoài ra, động tác không phải là vô hại và sau đó cần, như trong mọi ghép, sự sử dụng một điều trị suy giảm miễn dịch suốt đời, mà phải theo dõi sát vì những nguy cơ bị nhiễm trùng và ung thư. Ngoài ra, nhiều hạn chế còn kềm hãm sự phát triển của kỹ thuật : sự thiếu những người hiến, những cơ quan đôi khi quá xuống cấp, sự cần thiết một số lượng quan trọng các đảo (ít nhất 10.000 đảo cho mỗi trọng lượng cơ thể của người nhận) để đảm bảo một ghép cơ năng trong thời gian dài hạn. Điều này được thể hiện bởi sự cần thiết nhờ đến hai đến ba tụy tạng của những người hiến cho một ghép duy nhất », Lionel Bodet đã xác nhận như vậy. Ông nói tiếp : « Nếu ta muốn ghép nhiều bệnh nhân hơn sẽ phải cần nhiều tụy tạng hơn và sẽ cần rằng tất cả các équipe transplanteurs bắt tay vào công việc.»
Hướng nghiên cứu và cải thiện khác, tìm những đích khác với gan để làm dễ phẫu thuật. Những thử nghiệm đầy hứa hẹn đang được tiến hành với một cơ nằm trong bụng, omentum. Nhưng các nhà nghiên cứu cũng dự kiến thoát khỏi điều trị suy giảm miễn dịch. Một satrt-up Pháp, Adocia, đã phát triển một hydrogel có khả năng duy trì hoạt tính của những tế bào đồng thời bảo vệ chúng chống lại sự thải bỏ. Những start-up khác (Viacyte, Vertex) đưa vào những tế bào gốc để sản xuất trực tiếp những tế bào beta và cũng đã phát động những nghiên cứu trên người.

 Cũng còn phải chứng minh ưu điểm y tế-kinh tế của ghép. Thử nghiệm Stabilot (được điều hợp ở CHU Grenoble Alpes bởi BS Sandrine Lablanche) theo dự kiến so sánh ảnh hưởng kinh tế của ghép đảo tụy tạng với phương pháp bằng pompe với capteurs trên 30 bệnh nhân. Câu trả lời cuối năm 2022 .
 (SCIENCES ET AVENIR JUIN 2021)

8. CÁC CAPTEURS DE GLUCOSE CHO PHÉP PHÓNG THÍCH INSULINE MỘT CÁCH TỰ ĐỘNG

Tất cả đã xuất phát từ một bước nhảy công nghệ thật sự xảy ra trong những năm 2000 : sự xuất hiện của các capteur de glucose cho phép một sự đo liên tục ngoại trú của đường trong máu. Được gọi lầm tụy tạng nhân tạo», chúng luôn luôn được liên kết với một pompe externe à insuline và với một algorithme. Chúng cho phép một sự phóng thích tự động hóa insuline tùy theo những biến thiên của đường huyết. Tùy theo những hệ thống, algorithme hoặc được đặt trong pompe, hoặc trong một boitier informatique độc lập (một smartphone) ; hộp này nhận tín hiệu của capteur trước khi truyền một signal de commande (tín hiệu ra lệnh) cho pompe. Để theo kèm tốt hơn những thầy thuốc thực hành và những bệnh nhân trong cuộc cách mạng công nghệ này, Société francophone du diabète đã công bố vào năm 2020 một tài liệu nhất trí dành cho các thầy thuốc, định rõ những chỉ định.

Nhưng chú ý, «những hệ thống này không thần diệu cũng không hoàn toàn tự trị và luôn luôn cần sự can thiệp của bệnh nhân vào lúc của các bữa ăn và trong trường hợp hoạt động vật lý », các chuyên gia trong hội nghị mới đây của Société francophone du diabète đều nhất trí phát biểu như vậy. Vào lúc này, những kết quả của những nghiên cứu lâm sàng, báo cáo một sự giảm một nửa thời gian bị hạ đường huyết, điều này sẽ được xác nhận bởi sự sử dụng trong đời sống hàng ngày. 4 hãng công nghệ, Diabeloop của Pháp, Medtronic và Tandem của Hoa Kỳ cũng như Camdiab của Anh đã phát triển những hệ thống có thể sử dụng từ 6 tuổi. Trong tất cả các trường hợp, tốt nhất là phải có động cơ, được đào tạo và không đề kháng lại những công nghệ mới ! Mặc dầu hiện nay chúng chỉ dành cho những bệnh nhân đái đường loại 1, những nhà chế tạo nhiên hậu cũng nhắm đến những bệnh nhân đái đường loại 2.
(SCIENCES ET AVENIR JUIN 2021) Page 61

9. TĂNG CHOLESTEROL MÁU : ĐIỀU TRỊ SỚM LÀ THIẾT YẾU

Đó là nguyên nhân chính của xơ vữa động mạch (athérosclérose), chịu trách nhiệm những bệnh tim mạch. Bàn về điều trị hiện nay.
Hỏi : Cholestérol là gì, sự ích lợi và những nguy hiểm của nó ?

GS Jean Ferrières. Đó là một stéroide thuộc họ của các lipide. 20% xuất phát từ thức ăn, 80% được chế tạo bởi những tế bào của chúng ta. Nó có nhiều chức năng làm nó trở nên thiết yếu cho sự sống : đó là một thành phần quan trọng của màng tế bào và một yếu tố cần thiết cho sự tổng hợp các stéroide (kích thích tố sinh dục, cortisone, adrénaline, noradrénaline, aldostérone). Nó được thải trong mật. Nếu nó được sản xuất quá nhiều hay không được loại bỏ tốt, nồng độ của nó trong máu vượt norme, với một nồng độ LDL-cholestérol trên 1,3 g/l. LDL là một particule vận chuyển cholestérol xấu. Nó gồm có một đoạn protéine, apolipoprotéine B (apo B), và những lipide. Khi quá mức, LDL-cholestérol lắng trong các mạch máu và tạo thành những mảng xơ mỡ, có thể làm hẹp các động mạchvà/hay vỡ, khi đó gây nên một sự tắt đột ngột của huyết quản, sinh ra một tai biến tim mạch cấp tính nghiêm trọng

(nhồi máu cơ tim hay tại biến mạch máu não).
Hỏi : Những tăng cholestérol huyết nguy hiểm nhất là gì ?
GS Jean Ferrières : Những thể gia đình mà nguồn gốc là di truyền. Chung là nguyên nhân của nhồi máu cơ tim hay chết đột ngột ở những người trẻ (ngay18-20 tuổi, thường trước 40 tuổi ở đàn ông và 50 tuổi ở dàn bà). Khi một bệnh nhân trẻ khám vì một tỷ lệ LDL-cholestérol 2g/l hay hơn và khi bệnh nhân này biết những trường hợp tượng tự trong bà con họ hàng, một khảo sát di truyền (étude génétique) bắt buộc. Khi đó ba loai biến dị được tìm kiếm. 1.Trên gène mã hóa protéine duoc dùng làm thụ thể màng cho LDL-cholestérol (80% các trường hợp). 2. Trên gène mã hóa cho apo B (18% những trường hợp). 3. Trên gène mã hóa protéine PCSK (2%). Một nồng độ tăng cao của LDL-cholestérol hiếm khi được nghiên cứu ở Phap ở những trẻ trước 6 tuổi, trong khi điều này được thực hiện một cách hệ thống trong những nước khác. Tuy vậy đó là một bệnh ảnh hưởng gần 350.000 người Pháp ! Điều trị những bệnh nhân này ngay khi còn rất trẻ (ngay cả ở một nồng độ dưới 2 g) cho phép bình thường hoá tuổi thọ bởi vì chính thời gian tiếp xúc với LDL-cholestérol từ khi sinh là quantrọng.

Hỏi : Phương pháp điều trị hiện nay là gì ?
GS Jean Ferrières : Có những người mà tăng cholestérol huyết được liên kết với chế độ ăn uống ; ngoài một LDL tăng cao, họ thường có những triglycéride trên 1,5 g/l. Ở họ, chế độ ăn uống (địa trung hải) hiệu quả và đôi khi đủ. Nhưng nếu ít tác dụng lên LDL, đó là bởi vì nguyên nhân là nội tại (sản xuất quá mức hay biến dị di truyền). Khi đó statine là điều trị lựa chọn. Chúng ức chế sử tổng hợp cholestérol tế bào nhưng không gây thiếu hụt, mặc dầu LDL được đưa xuống những nồng độ rất thấp. Sự đề kháng với statine là ngoại lệ. Trong trường hợp chuột rút, tác dụng phụ chủ yếu, ta giảm liều : tính hiệu quả thường sẽ tồn tại. Nếu cần, ta sẽ liên kết một chất ức chế sự hấp thụ của cholestérol (ézétimibe). Trong trường hợp thất bại dai dẳng ta sẽ cho, bằng đường dưới da, mỗi 15 ngày, một kháng thể đơn dòng là một anti-PCSK9 (alirocumab hay évolocumab). Những kháng thể này, còn đắt, là điều trị của tương lai vì tính hiệu quả, độ dung nap và tính thực tiễn của chúng.
(PARIS MATCH 27/5-2/6/2021)

Đọc thêm :
– TSYH số 218 : bài số 1, 2 (Cholestérol)
– TSYH số 423 : bài số 3 (Hyperlipidémie)

Hỏi : Bệnh lac nội mạc tử cung (endométriose) là gì ?

Professeur Horace Roman : Đó là một bệnh mãn tính, ảnh hưởng 5 đến 10% các phụ nữ nhưng chỉ một thiểu so bị bệnh. Tần số của nó dường như gia tăng trong những nước phát triển. Bệnh lac nội mạc tử cunglà do sự hiện diện của mảnh mô tương tự với nội mạc tử cung (endomètre) (niêm mạc tử cung), nằm ngoài tử cung, mà cơ chế xuất hiện không được làm sáng tỏ. Những thương tổn này nhạy cảm với các kích thích tố theo cùng cách với nội mạc tử cung. Chúng xuất hiện ở tuổi thiếu niên, phát triển theo nhịp của các kinh nguyệt và ổn định sau mãn kinh.

Hỏi : Những triệu chứng và những hậu quả khả dĩ là gì ?

Professeur Horace Roman : Một cách điển hình, những triệu chứng đi kèm kinh kỳ. Chúng tùy thuộc vào vị trí của các thương tổn (buồng trứng, trực tràng, bàng quan, cơ hoành, plexus sacré). Vậy chúng thay đổi và có thể không điển hình : douleurs pelviennes và/hay đau lúc giao hợp, những rối loạn tiêu hóa (crampes haybuồn đi câu giả) và/hay đường tiểu (khó tiểu), những kích thích thần kinh khác nhau. Cường độ đau (không tương quan với mức độ nghiêm trọng của các thương tổn) có thể hướng lầm về những chẩn đoán khác. Một chẩn đoán đáng sợ là vô sinh.

Hỏi : Phải luôn luôn mổ ?
Professeur Horace Roman : Không. Khoảng 60 đến 70% các phụ nữ không cần phải điều trị. Nhiều phụ nữ khác cảm thấy tốt hơn nhờ sử dụng liên tục một viên thuốc ngừa thai, chận đứng kinh kỳ, làm dừng sự tăng trưởng của các thương tổn và làm giảm những triệu chứng. Điều trị này cải thiện chất lượng sống nhưng không thanh toán căn bệnh. Nếu sự cải thiện không đủ, ngoại khoa trở nên được biện minh. Sự cắt bỏ những thương tổn làm giảm, thậm chí hủy những đau đớn. Phẫu thuật cũng gìn giữ khả năng sinh sản (fertilité). Căn bệnh này vì hiền tính, nên động tác ngoại khoa không đuoc gây nên những di chứng xấu hơn căn bệnh được điều trị. Trong tất cả các trường hợp, hiện nay, ngoại khoa là ít xâm nhập (mini-invasif), được thực hiện bằng nội soi, không mở bụng. Việc nhờ đến ngoại khoa ở những phụ nữ mong muốn có thai khi các buồng trứng bị thương tổn, sẽ được thảo luận, vì phẫu thuật đôi khi có thể làm ảnh hưởng dự trữ buồng trứng và chức năng của nó.

Hỏi : Còn những thể nặng hay phức tạp thì sao ?

Professeur Horace Roman : Đó là những lạc nội mạc tử cung sâu (80% của hoạt động ngoại khoa của tôi). Chúng thâm nhiễm các cơ quan của hố chậu, đó là trực tràng, bàng quang, các niệu quản hay plexus sacré. Khi đó sự sử dụng một hỗ trợ robot bổ sung cho nội soi là thiết yếu : cũng vi xâm nhập, nó cho phép một sự cắt loc tinh tế và chính xác các nerf pelvien phân bố cho bàng quang hay trực tràng, hay tái lập tính liên tục của một niệu quản, mà vùng bệnh được cắt bỏ. Những thương tổn rộng của cơ hoành là một chỉ định lý tưởng khác của robot. Những can thiệp này được thực hiện với gây mê tổng quát và kéo dài 2 đến 3 giờ. Những đau hậu phẫu được kiểm soát tốt bởi những thuốc giảm đau thông thường, sự nhập viện sau loại phẫu thuật này hiếm khi vượt qua 2 đến 3 ngày. Sự trở lại một cuộc sống bình thường là nhanh (từ một đến ba tuần).

Hỏi : Những kết quả là gì ?
Professeur Horace Roman : Tất cả tùy thuộc vào những cơ quan đã được mổ. Phẫu thuật trực tràng có thể, trong 2 đến 3% các trường hợp, bị biến chứng bởi những rò tiêu hóa (fistules digestives) (có thể sửa chữa). Sự cắt lọc của các dây thần kinh chậu có thể sinh ra trong 10 đến 15% các trường hợp, những khó tiêu tạm thời. Những điểm dương: chất lượng sống được cái thiện bền lâu. Một thai nghén lại trở nên có thể trong 70 đến 80% của những thế phức tạp này. Những tái phật là hiếm. Chúng có thể được phòng ngừa bằng cách sử dụng liên tục một thuốc ngừa thai (pilule) cho đến khi mãn kinh ? Kết luận: nói chữa lành là quá đáng. Nói thuyên giảm bền lâu là thích đáng.
(PARIS MATCH 6/5-12/5/2021)

Đọc thêm :
– TSYH số 292 : bài số 1, 2, 3 (endométriose)
– TSYH số 439 : bài số 2 (endométriose được điều trị bằng siêu âm)
– TSYH so 458 : bài số 1, 2 (điều trị ), 3, 4 (infertilité)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/6/2021)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 578 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 581 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 584 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s