Thời sự y học số 572 – BS Nguyễn Văn Thịnh

I. NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ : ASTRAZENECA DƯỚI SỰ THEO DÕI

     AstraZeneca đã được nói nhiều về việc không có khả năng giữ lời cam kết với châu Âu và giao những liều được hứa hẹn, Từ ba tuần nay, hãng dược phẩm Anh-Thụy Điển cũng đối đầu với một sự hoài nghi gia tăng về những chất lượng của vaccin AstraZeneca chống Covid-19, bị nghi ngờ gây những tác dụng phụ nguy hiểm.                     

      Trong một buổi tọa đàm với nhật báo Ý Il Messaggero, hôm thứ ba 6/4, Marco Cavaleri, phụ trách về chiến lược tiêm chủng của Cơ quan dược phẩm châu Âu (AEM), đã xác nhận sự hiện hữu của một mối liên hệ giữa vaccin và những trường hợp đông máu (caillots sanguins), được quan sát sau khi tiêm vaccin, Từ nay chúng tôi có thể nói điều đó, rõ ràng là có một mối liên hệ với vaccin, ông đã tuyên bố như vậy.

      Vài chục trường hợp huyết khối (thromboses), trong đó vài trường hợp, rất không điển hình, đã dẫn đến tử vong. Những huyết khối này đã xuất hiện ở những người, thường nhất là những phụ nữ dưới 55 tuổi, được tạo miễn dịch với vaccin AstraZeneca. Giữa tháng ba, nhiều nước đã đình chỉ sự tiêm cho đến khi Cơ quan dược phẩm châu Âu xác nhận, 18/3, rằng không một mối liên hệ nhân quả nào với vaccin được chứng tỏ, mặc dầu không loại trừ điều đó.

    Từ đó, mặc dầu AEM theo tiếp tục sự xem xét, cơ quan đã tái xác nhận rằng những lợi ích của vaccin AstraZeneca tiếp túc hơn những nguy cơ mà việc tiêm nó có thể gây nên, Một cuộc họp báo của Cơ quan dược phẩm châu Âu, trong đó những kết luận được dự kiến, sẽ diễn ra hòm thứ tư 7/4. Không chờ đợi kết quả, Marco Cavaleri đã tuyên bố với tuần báo Ý: « Chúng tôi tìm cách để có được một bức tranh chính xác về điều xảy ra, xác định một cách chính xác hội chứng do vaccin này…Trong số những người được tiêm chủng, có một số trường hợp huyết khối não (thrombose cérébrale) ở những người trẻ, nhiều hơn điều mà chúng tôi đã dự kiến. Điều đó, chúng tôi sẽ phải nói.»

NHỮNG THAY ĐỔI TỪ NƯỚC NÀY QUA NƯỚC KHÁC

     Một thăm dò của YouGov, được công bố 22/3, đã cho thấy rằng những đình chỉ tạm thời của giữa tháng ba đã làm suy giảm niềm tin ở Pháp, hay 61% những người được hỏi đánh giá rằng vaccin Astra Zeneca không an toàn, ở Đức (55%), nhưng cũng ở Tây ban Nha và ở Ý,

     Ở Đức, theo điều tra dư luận Forsa-RTL-NTV, được thực hiện 31/3, vaccin AstraZeneca ngay cả gây nhiều do dự hơn vaccin russe Spoutnik V. Ngoài ra, trong nhiều quốc gia, số những công dân từ chối tiêm chủng gia tăng, Nhất là ở Pháp, ở đây sự hoài nghi tiêm chủng lan rộng và ở đây, theo những con số của Centre européen de prévention et de contrôle des maladies, chỉ được tiêm 53% những liều đã được giao.

     Trong khi đại dịch tiếp tục tiến triển, trong khi những biến thể ngày càng gây nhiều nạn nhân và trong khi sự tiêm chủng có vẻ là lối thoát duy nhất khỏi cơn khủng hoảng, nhiều vị nguyên thủ quốc gia đã chọn, trong những tuần qua, tiêm vaccin AstraZeneca, mà 30 triệu liều đã được giao cho 27 nước của Liên Hiệp châu âu trong tam cá nguyệt đầu tiên. Jean Castex ở Pháp, Boris Johnson ở Anh, hay Mario Draghi ở Ý.

      Những chủ trương của các giới hữu trách y tế về vaccin AstraZeneca thay đổi tùy theo nước. Ở Pháp, vaccin AstraZeneca được dành cho những người trên 55 tuổi ; Ở Đức, vaccin được khuyến nghị ở những người trên 60 tuổi. Hôm 1/4, ủy ban Đức về các vaccin đã khuyên những người dưới 60 tuổi đã nhận một liều đầu tiên sẽ được tiêm một liều thứ hai từ một hãng dược phẩm khác. Ở Thụy Điển và Phần Lan, vaccin chỉ được tiêm cho những người trên 65 tuổi. Còn ở Đan Mạch và Na Uy, vaccin AstraZeneca luôn luôn bị đình chỉ. Ở Ý, ngược lại, hiện nay, vaccin AstraZeneca không bị một hạn chế nào ; ở Tây Ban Nha, vaccin được khuyến nghị cho những người dưới 65 tuổi !

     Cho đến nay, chỉ những người Anh vẫn không thay đổi và tự tin. Nhưng, theo Channel 4 News, giới hữu trách Anh đang suy nghĩ hạn chế sự tiếp cận cho vài lứa tuổi. Mặc dầu những dữ liệu vẫn mơ hồ, càng ngày càng có nhiều luận cứ có tính chất biện minh rằng những người trẻ, dưới 30 tuổi, nên nhận một vaccin khác

NHỮNG HUYẾT KHỐI (THROMBOSES) : NHỮNG HƯỚNG GIẢI THÍCH ĐẦU TIỀN

     18/3, Cơ quan dược phẩm châu Âu đã chỉ rằng, mặc dầu không thể « loại bỏ một cách dứt khoát một mối liên hệ giữa những trường hợp huyết khối và vaccin này, vaccin AstraZeneca đã không liên kết với một sự gia tăng những biến cố huyết khối nghẽn mạch (événement thromboembolique) hay những cục máu đông. Tuy nhiên, những dữ liệu của cảnh giác dược (pharmacovigilance), được thu thập trong vài nước hội viên, gợi ý rằng nguy cơ này, mặc dầu rất hiếm, không phải là số không. Cơ quan dược phẩm của Anh đã báo cáo hôm 3/4, 30 trường hợp được phát hiện và 7 trường hợp tử vong ở những người được tiêm chủng, Đức đã báo cáo một số lượng bất thường cao những huyết khối tĩnh mạch não (TVC : thrombose veineuse cérébrale), một biến cố thường hiểm trong population générale.

    Nhiều trường hợp nghiêm trọng đã được khảo sát bởi một kíp những nhà nghiên cứu Đức. Những công trình của họ vạch ra những hướng giải thích đầu tiên về cơ chế sinh học gây nên những rối loạn như thế. 9 bệnh nhân được tiêm chủng, đã bị những huyết khối, đã được xem xét, những bệnh nhân này đã biểu hiện từ 4 đến 16 ngày sau khi tiêm chủng : 8 bệnh nhân đã bị huyết khối tĩnh mạch não và một bị nghẽn tắc động mạch phổi, 4 người bị tử vong.

CƠ CHẾ DỊ ỨNG MẠNH

     Trên nhiều trong số những bệnh nhân này, các nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng những cục máu đông được quan sát giống nhiều với một rối loạn nghiêm trọng và được biết rõ của sự đông máu : giảm tiểu cầu (thrombopénie) gây nên bởi héparine (thrombopénie induite par l’héparine :TIH). Thường thường, TIH là một biến chứng hiếm do điều trị với héparine, một thuốc chống đông máu. Khi héparine được tiêm, nó tạo một phức thể với một protéine hiện diện trong máu và được gọi là «fp4» (facteur plaquettaire 4). Nhưng ở vài bệnh nhân, sự tạo thành phức thể này gây nên một cơ chế dị ứng mạnh. Hệ miễn dịch khi đó sản xuất những kháng thể đến gắn vào phức thể qua trung gian của một protéine hiện diện trên bề mặt của các tiểu cầu : thụ thể FCGR2A. Chính vào lúc đó mà tất cả thay đổi, bởi vì thụ thể này khi đó sẽ kích hoạt các tiểu cầu này và dẫn đến sự tạo thành của những cục máu đông.

     Tuy nhiên, cơ chế được phát hiện bởi các nhà nghiên cứu văn còn là giả thuyết và cần những nghiên cứu tiếp theo. Hiện nay khó giải thích tất cả chuỗi của các biến cố, sau khi tiêm vaccin, dẫn đến sự tạo thành những huyết khối này và những định vị đặc biệt của chúng (những tĩnh mạch não, lách, và mạc treo ruột non (mésentères), ít hay không được quan sát trong TIH. Một câu hỏi chưa được giải đáp là tại sao vaccin AstraZeneca có thể gây nên những sự cố như thế trong khi ta đã không quan sát chúng với những vaccin à ARN messager.

(LE MONDE 8/4/2021)

II. «NGƯỜI TA BẮT ĐẦU CÓ NHƯNG CHỈ DẤU VỀ SỰ HIỆN HỮU CỦA MỘT HỘI CHỨNG MỚI GÂY NÊN BỞI VACCIN ASTRAZENECA»

     Vaccin AstraZeneca có liên hệ, có hay không, với sự tạo thành của những cục máu đông ở những người được tiêm chủng, và đặc biệt hơn ở những phụ nữ dưới 60 tuổi ? Đó là câu hỏi mà Cơ quan dược phẩm châu Âu phải trả lời vào ngày thứ tư 7/4 này

      Với BS Nicolas Daudy, chuyên gia về những bệnh nhiễm trùng ở CHU Saint-Pierre, và spécialiste post-doctorant FRS-FNRS (ULB), chúng tôi đã cố tìm hiểu những cơ chế của hội chứng mới này,

      Hỏi : Một cách tổng quát, trên cơ sở những trường hợp được mô tả cho đến nay, ta có thể nói gì về nguy cơ tiềm năng huyết khối (thrombose) liên kết với vaccin AstraZeneca chống Covid ?

      BS Nicolas Dauby : Trước hết, phải nhấn mạnh rằng không có nguy cơ cao hơn của tất cả hiện tượng huyết khối (huyết khối tĩnh mạch, nghẽn tắc động mạch phổi,,,), như điều đã từng được nghi ngờ lúc ban đầu.

      Hỏi : Thế thì, vào giai đoạn này giải thích như thế nào ?

     BS Nicolas Dauby : Đó đúng hơn là một hội chứng mới hay một biến chứng mới sau khi tiêm vaccin ; biến chứng này gồm một huyết khối của những tĩnh mạch của não (được gọi là xoang : sinus) liên kết với một sự giảm của các tiểu cầu trong máu. Những nhà nghiên cứu Đức đã làm một sự tương cận với một hội chứng khác, không được mô tả một cách cổ điển trong khung cảnh của sự tiêm chủng, đó là thrombopénie (giảm tiểu cầu), được gây nên bởi héparine, một thuốc được sử dụng để phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu (TVP : thrombose veineuse profonde). Ta có thể nói đó là một phản ứng dị ứng, tự miễn dịch (réaction allergique, auto-immune) với sự xuất hiện những kháng thể. Những người phát triển hội chứng này (thrombose và giảm tiểu cầu), có những đặc điểm sinh học giống với dị ứng với héparine. Ngoài ra équipe Đức đã sử dụng một acronyme mới để chỉ hội chứng cực kỳ hiếm này, dường như liên kết với vaccin AstraZeneca, đó là VIPIT (Vaccine-Induced Prothrombotic Immune Thrombocytopenia). Vậy ở giai đoạn này, người ta nghĩ rằng cơ chế của sự giảm tiểu cầu được liên kết với phản ứng miễn dịch của người được chủng. Tất cả điều đó vẫn còn rất sơ bộ, nhưng ta bắt đầu có những chỉ dấu về sự hiện hữu của một hội chứng mới gây nên bởi vaccin AstraZeneca này.

     Hỏi : Có những chỉ dấu như thế đối với những vaccin khác không ?

     BS Nicolas Dauby : Theo chỗ tôi biết, không, không có gì được báo cáo.

     Hỏi : Vậy cái gì có thể giải thích phản ứng dị ứng này ?

     BS Nicolas Dauby : Nói thật ra, chúng ta chưa biết rõ lắm. Phải chăng vecteur à adénovirus là nguyên nhân ? Phải chăng đó là đó kháng nguyên được gây nên bởi vaccin ? Cần biết rằng vaccin AstraZeneca cũng như những vaccin à ARN messager nhắm vào cùng protéine Spike, nhưng đó không phải cùng bộ phận được nhắm vào ? Phải chăng liên hệ với đáp ứng miễn dịch gây nên bởi vaccin ? Phải chăng do một yếu tố cấu thành vaccin ? Hay, như vài người gợi ý, do kỹ thuật tiêm ? Hiện giờ ta không thể nói.

     Hỏi : Phản ứng này phải chăng là dấu hiệu báo trước của những vấn đề nhiên hậu gây nên bởi vaccin?

    BS Nicolas Dauby : Ta không thể loại bỏ những tác dụng không được mong muốn khác trong thời gian dài hạn. Tuy nhiên, ta đã có thời gian nhìn lại đối với loại vaccin này bởi vì kỹ thuật dùng cho vaccin AstraZeneca đã có trước Covid-19 và đã được thử nghiệm ở người đối với những nhiễm trùng khác (MERS, lao, Zika…) mặc dầu chỉ trên một số giới hạn bệnh nhân, Dẫu sao đi nữa, sau khi được thương mãi hóa, luôn luôn có sự gia tăng vaccino-vigilance. Ngay khi ta quan sát điều gì bất thường, điều đó được báo cáo. Hãy nhắc lại rằng, Cơ quan dược phẩm châu Âu cho phép thương mãi hóa có điều kiện, điều này có nghĩa rằng, nếu vào một lúc nào đó, cán cân lợi ích/nguy cơ trở nên không thuận lợi, vaccin sẽ bị rút giấy phép và như thế sẽ bị rút ra khỏi thị trường.

    Hỏi : Nhưng trong lúc chờ đợi, vaccin sẽ được tiêm cho hàng triệu người…

    BS Nicolas Dauby : Vâng và một cách rõ ràng vaccin đã cứu hàng ngàn mạng sống và ngăn ngừa hàng ngàn trường hợp nhập viện và biến chứng do Covid-19. Covid-19, chúng ta hãy nhắc lại, được liên kết với một nguy cơ quan trọng của mọi huyết khối, vì lẽ nó xảy ra ở khoảng 20% những bệnh nhân nhập viện.Vậy, ngoài nguy cơ cực hiếm huyết khối này, tiềm năng liên kết với vaccin AstraZeneca, không có một tác dụng phụ đáng kể nào được nhận diện vào lúc này trên hàng triệu liều được tiêm ?

    Hỏi : Tại sao hội chứng mới này được quan sát nhiều hơn ở những phụ nữ dưới 60 tuổi ?

    BS Nicolas Dauby : Cũng không có giải thích rõ ràng. Có thể điều này được liên kết với một phản ứng miễn dịch khác. Cơ chế vẫn phải được làm sáng tỏ.

    Hỏi : Ta biết gì về tỷ lệ lưu hành của hội chứng này ?

    BS Nicolas Dauby : Một điều chắc chắn, hội chứng này là cực hiếm.Tùy theo nước và những nghiên cứu, ta nói một trường hợp trên 100,000 hay 1 trên 1 triệu người được tiêm chủng.

    Hỏi : Ông nghĩ gì về những quyết định của vài nước đình chỉnh tiêm chủng hay dành nó cho những nhóm tuổi ?

    BS Nicolas Dauby : Thách thức ở đây là giữ niềm tin đối với vaccin. Vậy, đề nghị một vaccin có những tác dụng phụ cực hiếm có thể dẫn đến một sự mất niềm tin và tham gia của dân chúng đối với tiêm chủng. Vậy phải luôn luôn cần nhắc giữa những lợi ích và những nguy cơ. Do đó, nếu ta dành vaccin này cho những người trên 60 tuổi, ở họ nguy cơ huyết khối lại còn ngoại lệ hơn, thậm chí không hiện hữu, trong khi nguy cơ chết vì Covid là 1000 đến 100.000 lần cao hơn, điều đó vẫn có thể chấp nhận được, theo tôi.

   Hỏi : Quyết định của AstraZeneca ngừng những thử nghiệm ở các trẻ em liệu có khôn ngoan, logic, được dự kiến không ?

     BS Nicolas Dauby : Thật vậy, cho đến khi ta biết nhiều hơn về những cơ chế,  dường như là hợp lý đình chỉ những thử nghiệm này, nhất là hội chứng này có vẻ có một liên hệ với tuổi tác. Hiện giờ, các nhà nghiên cứu cố xác định những người có nguy cơ là những ai ?

     Hỏi : Có những lý do để lạc quan đối với vaccin này ?

    BS Nicolas Dauby : Vâng, nhất là các đồng nghiệp Đức đã định đặc điểm của hội chứng này. Về việc này, các thầy thuốc lâm sàng cảnh giác hơn nhiều. Hiện tại, họ có thể nhận diện biến chứng nhanh hơn nhiều, chẩn đoán và điều trị nó. Ngoài ra hiện giờ có những protocole xử trí điều trị đối với hội chung mới này. Vậy hiện ta hiểu rõ những biến chứng như thế nào và như thế làm giảm tỷ lê tử vong.

(LA LIBRE BELGIQUE 8/4/2021)

III. NHỮNG HUYẾT KHỐI (THROMBOSES) : VECTEUR ADENOVIRUS LÀ NGUYỄN NHÂN ?

     Được gọi là «possible» bởi Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMA) và «plausible», nhưng không được xác nhận bởi OMS, mối liên hệ giữa những trường hợp rất hiếm, đôi khi gây tử vong, của huyết khối không điển hình (thrombose atypique) và những vaccin AstraZeneca rồi Johnson & Johnson bắt đầu đưa ra những hướng giải thích đầu tiên.

     Điều đó, trong khi, sau những đình chỉ và hạn chế nối tiếp nhau của vaccin Thụy điển-Anh trong nhiều nước, Đan Mạch đã loan báo hôm thứ tư 14/4 ý định ngừng lại vĩnh viễn sự tiêm chủng với Vaccin AstraZeneca, và sau đó đình chỉ Johnson & Johnson

    Ở Bi, CIM Santé publique đã quyết định hoãn lại tạm thời nhưng liều tiêm đầu tiên của vaccin J&J theo yêu cầu của hãng chế tạo và dựa trên ý kiến của task force vaccination.

     1.Technologie à vecteur viral là gì ?

           Điểm chung chủ yếu giữa hai vaccin AstraZeneca và Johnson & Johnson : những adénovirus. Thật vậy hai vaccin này dựa trên cùng technologie. Một cách chính xác hơn, điều đó nghĩa là gì? Trái với những vaccin à ARM messager Pfizer và Moderna, vaccin AstraZeneca là một vaccin « à vecteur viral », phát xuất từ một virus chịu trách nhiệm những nhiễm trùng hô hấp ở khỉ. Vậy kỹ thuật cổ điển hơn này có nghĩa rằng ta dùng như vecteur một loại virus khác (một adénovirus de chimpanzé đối với vaccin AstraZeneca và một adénovirus người đối với Johnson & Johnson), đã được làm yếu đi để không còn có khả năng sinh bệnh nữa. Virus này mang một mật mã di truyền, đã được biến đổi để cho phép các tế bào trong đó nó đã được đưa vào bằng tiêm chủng, chế tạo một kháng nguyên của Covid-19.

      2. Điều gì xảy ra khi tiêm chủng và sau đó ?

          Được tiêm vào trong cơ thể của người cần được tiêm chủng, vecteur viral sẽ đi vào trong vài tế bào ; những tê bào này sẽ sản xuất những protéine Spike của SARS-CoV-2 ; những protéine Spike này sẽ được phát hiện bởi hệ miễn dịch, do đó gây nên đáp ứng miễn dịch mà cơ thể sẽ ghi nhớ và tái kích hoạt ngay khi cơ thể sẽ đối đầu với coronavirus.

      3. Cho đến nay ta đã quan sát thấy gì trên thế giới ?

          Trong những trường hợp rất hiếm, ta đã quan sát ở những người được tiêm chủng với vaccin AstraZeneca và hiện nay với J&J, sự tạo thành của các cục máu đông hay huyết khối (thrombose), liên kết với một sự giảm của các tiểu cầu (thrombopénie) và với những xuất huyết. Trong trường hợp AstraZeneca, vào thời điểm 4/4, ta đã liệt kê 222 trường hợp huyết khối không điển hình (trong đó 18 bị tử vong) trên 24 triệu lần tiêm được thực hiện ở Liên hiệp châu Âu và Vương quốc Anh, theo EMA. Những huyết khối xảy ra trong hai tuần sau khi tiêm chủng. Về vaccin Johnson & Johnson, giới hữu trách y tế Hoa Kỳ đã ghi nhận 6 trường hợp (trong đó một tử vong) trên hơn 6,8 triệu liều được tiêm ở Hoa Kỳ. Những triệu chúng đã xuất hiện 6-13 ngày sau khi tiêm.

      4. Những huyết khối không điển hình (thromboses atypiques) nghĩa là gì  ?

          Ở không phải là nhung huyết khối cổ điển, loại viêm tĩnh mạch (phlébite) hay nghẽn tắc động mạch phổi, mà đúng là những huyết khối không điển hình. Một mặt do định vị của chúng, vì lẽ chúng gây thương tổn những tĩnh mạch của não (được gọi là xoang : sinus) và, trong một mức độ ít hơn, những tĩnh mạch của bụng. Ngoài ra, một đặc điểm khác của những huyết khối này là chúng được kèm theo bởi một sự sụt giảm nồng độ tiểu cầu trong máu (thrombopénie), nghĩa là những tế bào giúp đỡ trong sự đông máu. Một cách nghịch lý, điều này có thể dẫn đến những xuất huyết, ngoài những cục máu đông.

      5. Vecteur adénovirus phải chăng có thể chịu trách nhiệm những huyết khối này ?

          Sự việc những vấn đề tương tự đã được quan sát với hai vaccin à vecteur viral này « có thể gợi ý rằng vấn đề phát xuất từ vecteur adénovirus », David Fisman, chuyên gia dịch tễ học ở đại học Toronto đã đánh giá như vậy.Ông không phải là nhà khoa học duy nhất đã đưa ra hướng giải thích này, vì lẽ cho đến nay ta đã không quan sát loại phản ứng này với những vaccin à ARN messager. Có lẽ, vaccin Nga Spoutnik V, được tiêm trong 60 nước, sẽ mang lại sự xác nhận giả thuyết này vì lẽ vaccin này cũng sử dụng hai adénovirus làm vecteur.

      6. Những hướng khả dĩ giải thích những tác dụng phụ hiếm này là gì ?

        «Trong số những hướng có thể giải thích những tác dụng phụ rất hiếm này là giả thuyết của một phản ứng tự miễn dịch (réaction autoimmune), liên quan một messager chimique được sản xuất bởi các tiểu cầu máu, yếu tố tiểu cầu 4 (PF4). Các giáo sư Michel Goldman (miễn dịch học-ULB) và Cédric Hermans (Huyết học-cliniques universitaires Saint-Luc), đã giải thích trong một bài báo được công bố trong The Conversation. Những thăm dò đã cho thấy rằng huyết thanh của những nạn nhân bị những tác dụng phụ này chứa những chất tự đông máu (autocoagulants) hướng chống lại chính những tiểu cầu của họ, và chính xác hơn chống lại «facteur plaquettaire», một messager chimique mà chúng chế tạo. Những cơ chế của phản ứng tự miễn dịch sau tiêm chủng này vẫn còn cần được làm sáng tỏ. Về sự liên hệ khả đĩ của vecteur adénovirus, điều này đã được gợi lên liên quan với khả năng của các adénovirus kích hoạt những tiểu cầu và những thành của các huyết quản.

     7. Ta có thể nhận diện những yếu tố nguy cơ ?

        Trong hầu hết các trường hợp, đó là những phụ nữ dưới 60 tuổi. Đối với 6 trường hợp được ghi nhận ở Hoa Kỳ, đó là những phụ nữ tuổi từ 18 den 48.             «Theo những yếu tố mà ta có hiện nay, ta đã không nhận diện những yếu tố nguy cơ đặc hiệu, EMA đã cho biết như vậy.» Xét vì tính chất cực kỳ hiếm của những huyết khối giảm tiểu cầu (thrombose thrombopénique) này, những nghiên cứu phải hướng về sự nhận diện những yếu tố nguy cơ cá nhân, có thể khiến vài người phát triển loại phản ứng này, hai chuyên gia về miễn dịch học và huyết khối, đã viết như vậy. Nhất là đó là những yếu tố nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique). Thật vậy, ngoài những hướng khác, có những hướng ở các thụ thể bề mặt (récepteurs de surface), khác nhau từ người này đến người khác, vì những biến đổi di truyền. Những huyết khối này là cực hiếm, sự chẩn đoán và điều trị của chúng từ nay được tiêu chuẩn hóa. Những kiến thức mới này cho phép quản lý chiến dịch tiêm chủng một cách hiệu quả và an toàn, để duy trì hay phục hồi không khí tin tưởng cần thiết cho sự thành công.

 (LA LIRE BELGIQUE 15/4/2021)

IV. CHÂU ÂU NGÀY CÀNG CÀNG TIN TƯỞNG VÀO CÁC VACCIN À ARN MESSAGER.

      « Chúng tôi đã đạt được một thỏa thuận với BioNTech/Pfizer để tăng tốc một lần nữa sự chuyển giao các vaccin », Ursulan von der Leyen, chủ tịch của Commission européenne đã loan báo như vậy hôm thứ tư 14/4. Hãng dược phẩm Hoa Kỳ Pfizer và đối tác Đức của nó BioNTech đã cam kết giao trước tháng sáu 50 triệu liều. Những liều này, lúc đầu dự kiến chỉ đến Liên hiệp châu Âu vào tam cá nguyệt thứ tư của năm 2021. Một của trời ơi, trong khi sự đe dọa của các biến thể của Covid-19, nhất là biến thể Ba Tây xuất hiện và trong khi chiến dịch tiêm chủng châu Âu bị chậm lại vì những nghi ngờ liên kết với những tác dụng phụ của những vaccin được phát triển bởi AstraZeneca và Johnson & Johnson ;

1, 25 TRIỆU LIỀU CHO BỈ

     « Những vaccin Pfizer bổ sung là một tin rất tốt lành, nhất là xét vì vai trò quan trọng của các vaccin trong feuille de route dẫn đến sự mở cửa lại của xã hội, văn phòng của Thủ tướng Bỉ, Alexander De Croo, đã chỉ như vậy. Theo sự phân bố giữa các quốc gia hội viên của EU, Bỉ sẽ nhận 1,25 triệu trong số 50 triệu liều sẽ đến thêm vào 200 triệu liều của vaccin BioNTech/Pfizer, để được dự kiến cho tam cá nguyệt thứ hai ;

     Sự loan báo này như thế bù cho nhiều tin xấu đối với chiến dịch tiêm chủng châu Âu. Johnson & Johnson theo dự kiến sẽ chuyển giao 50 triệu liều cho EU vào tam cá nguyệt thứ hai. Nhưng hãng dược phẩm Johnson & Johnson đã quyết định hôm thứ ba 13/4 hoãn lại sự triển khai » vaccin một liều của mình cho châu Âu, trong khi những điều tra được tiếp tục sau khi Hoa Kỳ báo cáo những cục máu đông ở những người được tiêm chủng. Mặc dầu J&J vẫn có ý kiến rằng «  những ưu điểm của vaccin Johnson & Johnson trong phòng ngừa Covid-9 hơn những nguy cơ bị những tác dụng phụ, nhưng Cơ quan dược phẩm châu Âu sẽ công bố một khuyến nghị về vấn đề này tuần sau. Bỉ đã cho biết rằng những liều nhận được sẽ không được tiêm, trong khi chờ đợi ý kiến này.

      Trong khi đó Cơ quan dược phẩm châu Âu tiếp tục theo dõi những trường hợp rất hiếm của những cục máu đông xuất hiện sau tiêm chủng với vaccin AstraZeneca. Tuy nhiên Đan mạch đã trở thành nước đầu tiên của châu Âu hủy bỏ sử dụng vaccin này, biện minh cho sự lựa chọn này là những tác dụng phụ hiếm nhung nghiêm trọng được quan sát. Vậy Đan Mạch tiếp tục chiến dịch tiêm chủng của mình duy nhất với những vaccin Pfizer/BioNTech và Moderna. Cả hai loại vaccin này sử dụng technologie de l’ARN messager (ARNm), trái với Johnson & Johnson và AstraZeneca theo phương thức cổ điển, dựa trên những vacteur viral.

VACCINS ARMm « ĐÃ CHỨNG TỎ HIỆU QUẢ CỦA MÌNH »

     Trong cuộc chạy đua phát triển vaccin chống Covid-19, một chiến thắng của các vaccin à ARNm dường như được vạch ra. Và hiện giờ, Pfizer/BioNTech, đang dẫn đầu, ngoài cho vaccin hiệu quả nhất của thị trường, luôn luôn tôn trọng lịch trình chuyển giao cho Liên Hiệp châu Âu « Tôi thiết tha cám ơn công ty BioNTech-Pfizer. Công ty đã tỏ ra một đối tác đáng tin cậy, Bà Von der Leyen đã tuyên bố như vậy.

     Hôm thứ tư, nhật báo Ý báo cáo rằng Commission européenne vào năm đến sẽ không renouveler những hợp đồng mua vaccin với Johnson & Johnson và AstraZeneca. Mặc dầu không xác nhận những thông tin này. Ursula von der Leyen đã loan báo khởi động những thương thuyết với BioNTech-Pfizer để ký kết một contrat mua 1,8 tỷ liều vaccin trong thời kỳ 2021-2023, để dự kiến nhu cầu tiêm nhắc lại vaccin hay sự xuất hiện của những biến thể đề kháng. « Chúng ta phải tập trung vào những technologie đã chứng tỏ hiệu quả của chúng, và đó là trường hợp của các vaccin à ARNm », Bà von der Leyen đã giải thích như vậy.

(LA BELGIQUE 15/4/2021)

V. CHÍ LỢI : DỊCH BỆNH NGOÀI TẦM KIỂM SOÁT, MẶC DẦU MỘT SỰ TIÊM CHỦNG Ồ ẠT.

     Từ nhiều tuần nay, Chí lợi thu nhận nhiều thắng lợi, Là nước châu Mỹ Latin đầu tiên tiêm chủng nhiều như thế, với hơn 7 triệu liều được tiêm cho 19 triệu dân. Nước đứng thứ ba trên thế giới, sau Israel và Vương Quốc Anh, xét về tỷ lệ dân số (37% dân  Chí Lợi đã nhận ít nhất một liều). Lịch trình tiêm chủng chống coronavirus của Chili luôn luôn có điều gì đó gây sự thèm muốn của đa số các quốc gia : trong những ngày này, chiến dịch kêu gọi những người 50 tuổi có sức khoẻ. Đó là một chiến công, Bộ trưởng y tế Enrique Paris đã tự hào, ngay cuối tháng hai và đánh giá : « Ta có thể rất tự hào.» « Tiêm chủng đại trà là hy vọng để tái tục cuộc sống trước đây của chúng ta và để ôm hôn những người mà ta thương trong những cánh tay của chúng ta », tổng thống Sebastian Pinera đã tuyên bố một cách tự tin như vậy khi vào 12/2 ông nhận liều đầu tiên của vaccin trung quốc Sinovac, được tiêm một cách ào ạt trong nước,

      Nhưng, đi ngược với hy vọng được vạch ra bởi chiến dịch hiệu quả này, giờ đây chinh những chỉ dấu kỷ lục khác đang thắng thế : hôm thứ năm 8/4, 8195 trường hợp dương tính đã được xác nhận, điều chưa bao giờ thấy. Nhắc lại thời kỳ u tối của mùa thu năm 2020, khi các bệnh viện gần như bảo hòa, các khoa hồi sức lại kiệt lực : 95% các giường bệnh bị chiếm.

     « Dịch bệnh ở ngoài tầm kiểm soát và virus nhân lên với một tốc độ lớn hơn trong đỉnh dịch vào tháng sáu 2020. Đã có một discours triomphaliste hơn nhiều, điều này đã khiến nghĩ rằng vaccin là một blanc-seing . Những biện pháp barrière đã không được tôn trọng đủ », Gabriel Cavada, nhà dịch tễ học và chuyên gia về biostatistique đã lấy làm lo lắng. Đứng trước làn sóng dịch, chính phủ đã ban hành một sự phong tỏa vào cuối tháng ba với những hạn chế mạnh mẽ trong việc ra khỏi nhà và di chuyển, và đóng cửa những trường học đã được mở.

      Theo một nghiên cứu được thực hiện mới đây bởi đại học Chili, trong nước, tiêm chủng có tỷ lệ hiệu quả 56,5% đối với những lây nhiễm mới, hai tuần sau khi tiêm liều thứ hai. Sau khi tiêm liều thứ nhất, tỷ lệ hiệu quả gần như số không: 3%. Dưới 1/4 dân số đã được tiêm chủng hai liều.

      Tuy nhiên sự tiêm chủng không phải là một phép màu. Những đường cong dịch tễ của những người già đã hạ xuống, bây giờ chính những người 50-70 tuổi là bị bệnh nặng hơn, những người này chưa được tiêm chủng theo schéma vaccinal. Khuynh hướng được phản ảnh trong những nhập viện, và những bệnh nhân trẻ tuổi hơn này, đề kháng hơn, chiếm lâu hơn những soins intensifs. Ở Chili, gần 24,000 người bị chết sau khi đã mắc phải Covid-19. Ngoài ra ta có thể đánh giá rằng có một sự lưu hành của biến thể Ba Tây, gây nhiễm hơn nhiều, Gabriel Cavada đã tuyên bố như vậy. Điều chắc chắn, đó là đất nước đã chậm trễ trong việc đóng cửa biên giới với Brésil, nhà dich tễ đã phản nàn như vậy.

      Nhưng với hiệu quả của những biện pháp hạn chế và sự tiến triển của chiến dịch tiêm chủng, các chuyên gia hy vọng một sự giam của những lây nhiễm rồi của sự chiếm các giường bệnh ở soins intensifs từ nay đến cuối tháng tư. Chính phủ hy vọng tiêm chủng 80% dân số trước 30/6/2021.

(LE MONDE 11&12/4/2021)

VI. ĐAU MÃN TÍNH : NHỮNG PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI

    Hỏi : Ở Pháp bao nhiều người bị chứng đau mãn tính

   GS Frédéric Aubrun : 25 đến 30% population adulte, nhiều hơn sau 65 tuổi, phụ nữ hơi nhiều hơn đàn ông, và 3 đến 5% các trẻ em. Đau mãn tính có 3 loại, 1. Douleurs nociptives, được gây nên bởi những thương tổn thực thể hay mô: hư khớp (arthrose), discopathie racidienne, viêm khớp viêm (arthrite inflammatoire), u rắn (tumeur solide) hay chấn thương mà đau kéo dài sau giai đoạn cấp tính. Chúng sinh ra một quá trình viêm phóng thích những chất trung gian hóa học (médiateur chimique) kích thích những thụ thể ở đầu mút của các sợi thần kinh. 2, Douleurs neuropathiques (7% những trường hợp) do những thương tổn thần kinh trực tiếp : hậu phẫu hay liên kết với bệnh đái đường, với bệnh zona, với vài ung thư hay với sự điều trị chúng. 3. Douleurs dysfonctionnelles, do khuếch đại trong não những tín hiệu bình thường ít hay không đau : ví dụ migraine, syndrome du colon irritable, fibromyalgie,

     Hỏi : Điều trị chuẩn là gì ?

    GS Frédéric Aubrun : Prise en charge standard là pluridisciplinaire và liên kết những kỹ thuật không dùng thuốc (tâm lý liệu pháp, châm cứu, hypnose, auriculothérapie, méditation,,,) và dùng thuốc. Vào năm 1986, OMS đã mô tả 3 palier de traitement theo cường độ của đau. 1.Sử dụng những antalgiques non opioides (paracétamol, néfopam, anti-inflammatoires non stéroidiens). 2.Sử dụng những opioides légers (poudre d’opium, codéine, tramadol). 3.Nếu vẫn còn không đủ, sử dụng opioides forts (morphine, oxycodone, fentanyl sublingual hay en patch). Những opioides (nhất là tramadol) phải được sử dụng một cách thận trọng để tránh những nguy cơ suy giảm hô hấp và phụ thuộc (dépendance). Sự xếp loại của năm1986 này đã trở nên lỗi thời bởi vì nó không biết một số lớn những sản phẩm và những phương tiện được sử dụng hôm nay : những thuốc gây tê tại chỗ (anesthésiques locaux), những thuốc chống trầm cảm, những thuốc chống động kinh, những thuốc chống co thắt (antispasmodiques), những antihyperalgésiques, tiêm dưới da toxine botulinique, có khả năng làm giảm hypersensibilité douloureuse,

      Hỏi : Những điều trị cải tiến có được sử dụng hay đang được nghiên cứu ?

      GS Frédéric Aubrun : Tôi sẽ kể hai. 1. Kétamine, bằng tiêm tĩnh mạch hay tiêm mông, gây mê toàn thân ngắn. Với liều 10 lần thấp hơn, người ta đã nhận thấy rằng nó có những tính chất giảm đau với ít những tác dụng phụ. Ta tiêm truyền chậm kétamine, từ một đến nhiều giờ, ngoại trú, một hay nhiều ngày liền, cho đến khi người bệnh thuyên giảm. Đợt điều trị này được lập lại nhiều lần mỗi tháng hay mỗi năm, tùy theo những trường hợp, Kétamine được chỉ định trong đau trơ ì với mọi điều trị và những đau bất trị trong soins palliatifs avancés, Một forme galénique en spray đang được nghiên cứu. 2. Tétrahydrocannabinol (cannabinoide de sythèse, có thể gây nghiện), có thể được sử dụng dưới dạng thuốc viên (gélule) đối với douleurs neuropathiques chỉ đáp ứng với sản phẩm duy nhất này. Những cannabinoide khác hiện hữu; chúng đang là đối tượng của một nghiên cứu quốc gia rộng rãi, đang được tiến hành trên 3000 bệnh nhân, trong đó 700 sẽ được theo dõi ở những trung tâm chuyên khoa,

     Hỏi : Ở Pháp đau mãn tính có đúng là được xét đến không ?

   GS Frédéric Aubrun : Với tư cách chủ tịch danh dự của Société française d’étude et de traitement de la douleur, tôi nói rằng gần 40% của 243 trung tâm chống đau đang gặp khó khăn về tài chánh để hoàn thành sứ mạng của mình. Và chúng tôi chỉ có 38 đơn vị dành cho douleurs pédiatriques. Từ 2010, chúng tôi vẫn chờ đợi một kế hoạch, trở nên cần thiết để cải thiện sự điều trị các triệu chứng đau và làm giảm những sử dụng sai.

(PARIS MATCH 11/3-17/3/2021)

Đọc thêm : TSYH số 469 : bài số 1, 2, 3, 4

                   TSYH số 255 : bài số 1 (toxine botulique).

VII. NHỮNG BỆNH MÃN TÍNH : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THỂ THAO

     Santé publique France mới đây đã công bố một số báo về vai trò của hoạt động vật lý trong sự ngăn ngừa và điều trị những bệnh mãn tính, dựa trên một expertise collective của Inserm, đã thu thập hơn 2000 ấn bản trong lãnh vực này, Hoạt động vật lý từ nay là một liệu pháp hoàn toàn tách riêng, có thể áp dụng cho 11 bệnh có thời gian kéo dài (ALD : affections de longue durée) : bệnh đái đường loại 2, bệnh béo phì, những bệnh viêm phổi tắc nghẽn mãn tính, hen phế quản, các ung thư, hội chứng động mạch vành cấp tính, suy tim, cac tai biến mạch máu não, những bệnh xương khớp, bệnh trầm cảm và bệnh tâm thần phân liệt. 3 người Pháp trên 4 sau 65 tuổi bị ít nhất một trong những bệnh này và 1 trên 4 trước lứa tuổi này. Hai thí dụ : sau một nhồi máu cơ tim, hoạt động vật lý làm giảm 30% tỷ lệ tử vong do tim mạch, 26% tỷ lệ tử vong toàn thể và 31% nguy cơ tái nhập viện. Trong ung thư, hoạt động vật lý cải thiện chất lượng sống và thời gian sống bằng cách làm giảm lo âu, những tác dụng thứ phát của các điều trị, nguy cơ tái phát và nguy cơ di căn. Hoạt động vật lý chống lại sự mất năng lực (incapacité), tình trạng phụ thuộc, gia tăng khả năng chịu đựng (endurance), kích thích tinh thần (mental). Sự kê đơn y khoa phải thích ứng với bệnh lý, năng lực và sở thích của mỗi bệnh nhân. 3 buổi mỗi tuần là tối thiểu được khuyến nghị. Các thầy thuốc chuyên khoa réadaptation physique biết đánh giá những nhu cầu và đề nghị một chương trình, dầu ALD (affection de longue durée) là gì. Sự nghỉ ngơi, trong một thời gian lâu là một trụ cột của điều trị, từ nay phải được thay thế bởi thể thao và điều đó cũng càng sớm càng tốt trong parcours de soins.

(PARIS MATCH 11/3-17/3/2021)

Đọc thêm : TSYH số 293 : bài số 1, 2, 3, 4

VIII. ĐIỀU TRỊ HIỆN NAY CỦA LEUCÉMIE LYMPHOIDE CHRONIQUE

     Docteur Vincent Ribrag, trưởng khoa huyết học của Gustave-Roussy, Villejuif : « Thường đuoc khám phá nhân dịp một xét nghiệm máu, bệnh lý này cần một sự theo dõi đều đặn »

     Đó là dạng thường gặp nhất của leucémie ở người lớn, Những hậu quả của căn bệnh mãn tính này lên sức khỏe của các bệnh nhân là đa dạng.

    Hỏi : Leucémie lymphoide chronique (LLC) là gì ?

   BS Vincent Ribrag : Những tế bào lympho B bình thường là những tế bào miễn dịch chế tạo các kháng thể, Chúng chết sau một thời hạn lâu hay mau và không ngừng được đổi môi, Leucémie lymphoide chronique được đặc trưng bởi sự hiện diện trong máu của những tế bào lympho bất thường, có những đặc điểm: 1. Không phải là những tế bào ác tính trẻ (nguyên thủy), như những tế bào của bệnh bạch cầu cấp tính (leucémie aigue), nhưng là những tế bào trưởng thành. 2. Không có khả năng tạo các kháng thể. 3. Bất diệt vì ác tính và tích tụ trong máu mà không bị loại bỏ, điều này có thể tạo những biến chứng.     

    Hỏi : Nó có thường gặp không ?

    BS Vincent Ribrag : Ở Pháp, ta đếm được khoảng 4000 trường hợp mới mỗi năm, xảy ra ở đàn ông hơi thường hơn ở đàn bà. Rất hiếm trước 40 tuổi, tỷ lệ mắc phải của LLC gia tăng một cách liên tục với tuổi. Bệnh 30 lần thường gặp hơn ở 70 tuổi và 45 thường hơn ở 80 tuổi, Không có nguyên nhân, cơ chế được nhận diện, cũng không có yếu tố làm dễ được biết đến, ngoài tuổi tác.

    Hỏi : Những dấu hiệu và những loại LLC khác nhau?

    BS Vincent Ribrag : Trong 8 trường hợp trên 10, LLC không có triệu chứng, được khám phá tình cờ khi xét nghiệm máu, số lượng các tế bào lympho trong máu trên 5.500/mm3. Sự gia tăng quá mức này xác lập chẩn đoán, Đó là giai đoạn A. Chỉ 20% những bệnh nhân có những dấu hiệu lâm sàng : các hạch khuếch tán, có thể ấn chẩn, đôi khi kèm theo gan to và/hay một lách lớn (giai đoạn B) ; giai đoạn C với khó thở liên kết với một thiếu máu (bởi vì các tế bào ác tính tràn ngập tủy xương sản xuất các hồng cầu). Một thrombopénie (giảm tiểu cầu do cùng cơ chế) thường được liên kết. Những dấu hiệu toàn thân có thể hiện diện : sốt, mệt, mất cân, đôi khi nghiêm trọng (đến 10% trọng lượng cơ thể). Một phénotype của những tế bào lympho B bất thường khi tìm kiếm những chỉ dấu đặc trưng được thực hiện ở tất cả những bệnh nhân. Một caryotype kiểm tra tình trạng của các nhiễm sắc thể : những bệnh nhân, bị mất một gène đặc biệt được gọi là P53 trên nhiễm sắc thể 17, là ít nhạy cảm nhất với hóa trị quy ước (chimiothérapie conventionnelle).

    Hỏi : LLC tiến triển như thế nào ?

    BS Vincent Ribrag : 7 trường hợp trên 10 sự thặng dự của những tế bào lympho trong máu vẫn lâu dài, thậm chí vĩnh viễn, nhưng không gây hậu quả. Những bệnh nhân này không cần điều trị, chỉ được theo dõi, trước hết mỗi 3 tháng trong khoảng hai năm, rồi một cách cách quãng. Trong 3 trường hợp trên 10, LLC tiến triển và ảnh hưởng hy vọng sống (espérance de vie). Khi đó 3 loại biến chứng có thể được liên kết với bệnh, độc lập với sự tiến triển của ung thư: 1. Sự xuất hiện của một bệnh tự miễn dịch (thiếu máu dụng huyết, giảm tiểu cầu) khi các kháng thể tấn công những hồng cầu hay tiểu cầu của chính bệnh nhân. 2. Những nhiễm trùng nặng của các cơ quan (phổi, thận và đường tiểu, TMH). Một theo dõi đều đặn cho phép ngăn ngừa chúng. 3. Sự phát triển của những u ác tính rắn (nhất là đại tràng, phổi) do giảm tính miễn dịch,

   Hỏi : Điều trị hiện nay là gì ?

   BS Vincent Ribrag : Chỉ điều trị những thể tiến triển : 1. Những bệnh nhân ít cao tuổi nhất và không có bệnh nền nhận một hóa trị liên kết với một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) (anti-CD20), kháng thể này chủ yếu tiêu hủy những tế bào lympho B bất thường (4 hay 6 buổi cách nhau một tháng). 2. Những người lớn tuổi hơn nhận một hóa trị bằng đường miệng ít xâm nhập hơn (chlorambucil). 3. Những bệnh nhân mất gène P53 trên nhiễm sắc thế 17 sử dụng một loại thuốc bằng đường miệng, ức chế một enzyma được gọi là BTK, phong bế một signal de survie của những tế bào ác tính và gây chết những tế bào này. 4. Mới đây một chất ức chế enzyme khác (anti-BCL2) rất hiệu quả đã xuất hiện. Khi nó được liên kết với inhibiteur de BTK và với anti-CD20, ta quan sát những thuyên giảm hoàn toàn và bền lâu (hiện nay hơn 5 năm), điều này đối với vài bệnh nhân tương tự với sự chữa lành

(PARIS MATCH 1/4-7/4/2021)

 Đọc thêm :

        – TSYH số 255 : bài số 7 (leucémie lymphoide chronique)

        – TSYH số 332 : bài số 3 (leucémie lymphoide chronique)

        – TSYH số 395 : bài số 8 (traitement de LLC)

IX. GIẤC NGỦ CỦA CÁC THIẾU NIÊN, VAI TRÒ TAI HẠI CỦA CÁC ÉCRAN

     Observatoire régional de santé d’Ile-de-France đã công bố những kết quả của một điều tra của mạng Morphée, được thực hiện giữa 2015 và 2019 ở 2513 học sinh Pháp. Trong khi thời gian ngủ ở chúng phải từ 8 đến 10 giờ, thời gian này không ngừng giảm do một sự sử dụng thái quá vào ban đêm (ở 25% của những học sinh này) các điện thoại cầm tay, console de jeux, ordinateur và télévision. Hiện thời gian ngủ trung bình là 7 giờ 49 phút. Gần một thiếu niên trên năm bị mất ngủ (17,8%), 26% lên chương trình báo thức để tập trung học bài vào ban đêm, 50% những học sinh, nhìn écran hơn 2 giờ vào buổi chiều, ngủ dưới 7 giờ mỗi đêm.Sự thiếu ngủ mãn tính tạo điều kiện cho sự xuất hiện các bệnh (đái đường, béo phì, các bệnh tim mạch). Vấn đề của các écran ở các thiếu niên đã trở nên một thách thức của y tế công cộng.

(PARIS MATCH 1/4-7/4/2021)

X. VACCIN CHỐNG HIV: HƯỚNG CỦA CÁC NIÊM MẠC

     Vaccin chống virus của bệnh sida đi từ thất bại này quá thất bại khác. Phải chăng đó là một sai lầm chiến lược ? Con đường mà Morgane Bomsel theo đuổi có thể thay đổi tình thế

     Morgane Bomsel là nữ giám đốc nghiên cứu ở CNRS, Vien Cochin, Paris

     Hỏi : Nguyên tắc chung của các vaccin chống HIV ?

    Morgane Bomsel : Một vaccin có thể gây hai loại miễn dịch : 1. Miễn dịch tế bào (immunité cellulaire), trong đó những tế bào lympho T (tueurs) có nhiệm vụ tiêu diệt quân thù. 2. Miễn dịch thể dịch (immunité humorale), được sử dụng nhất, trong đó vai trò này thuộc về các kháng thể (immunoglobulines G và M được sản xuất bởi những tế bào lympho B). Sự gây nên trong máu, bằng đường mông, của hai loại miễn dịch này, đã được trắc nghiệm chống HIV.

    Hỏi : Với những kết quả nào cho đến nay ?

   Morgane Bomsel : Đó là những thất bại. Vaccin có quy mô  lớn đầu tiên (các hãng dược phẩm Merck), được trắc nghiệm ở 12.000 người tình nguyện, nhằm kích thích miễn dịch tế bào (immunité cellulaire), được cho là có hiệu quả hơn miễn dịch được mang lại bởi các kháng thể (miễn dịch thể dịch).Thử nghiệm bị dừng lại năm 2008, vì ở những người được tiêm chủng, những người bị nhiễm HIV nhiều hơn những người không được tiêm chủng ! Thử nghiệm tiếp theo (những hãng dược phẩm Sanofi, Genentech, quân đội Hoa Kỳ, những Viện y tế quốc gia, Hoa Kỳ), được thực hiện ở Thái Lan ở 16.000 người và được chấm dứt năm 2009, vaccin này kích thích miễn dịch thể dịch (immunité cellulaire). Nó sử dụng một vecteur mang như là kháng nguyên một protéine của vỏ của VIH được gọi là GP120. Vaccin đã có thể gây nên một sự bảo vệ ở chỉ 31% những người được chủng. Sau đó, cùng vaccin này, được thích ứng với virus châu Phi và được trắc nghiệm ở Nam Phi, là một thất bại. Hiện nay, một vaccin «mosaique», được phát triển bởi giáo sư Dan Barouch (Havard, Hoa Kỳ), được gọi như thế bởi vì vecteur của nó (một adénovirus inerte) mang nhiều protéine de surface của VIH, phát xuất từ những chủng virus khác nhau lan tràn trên thế giới, đang được thử nghiệm, Những kết quả được dự kiến năm 2022. Tất cả những chiến dịch này đều giống nhau : kích thích tính miễn dịch khi virus ở trong máu,

     Hỏi : Phương pháp của bà là gì ?

    Morgane Bomsel : Vì đó là một sự truyền theo đường sinh dục qua các niêm mạc. Nên có vẻ hợp lý là làm ngừng virus ở nơi này trước khi nó đi vào trong máu, ở đây kiểm soát nó là khó. Điều có thể thực hiện : 1. Có một hệ miễn dịch đặc hiệu đối với các niêm mạc, làm can thiệp các immunoglobuline A (IgA),  được sản xuất tại chỗ bởi các tế bào lympho B. 2. Trong một quần thể những phụ nữ không bị nhiễm virus có những giao hợp không được bảo vệ, một nghiên cứu của những năm 1990 đã quan sát rằng khoảng 1% những người tham gia vẫn huyết thanh âm tính. Tất cả đều có trong những chất tiết sinh dục một tỷ lệ tăng cao IgA có khả năng ức chế sự nhiễm các tế bào in vitro bằng cách nhắm một cách đặc hiệu Gp41 (một protéine bề mặt khác của virus). Protéine này là bền nhất trong số những protéine của vỏ virus, chỉ thay đổi rất ít từ chủng HIV naà đến chủng HIV khác và do đó khả dĩ hơn GP120 gây một bảo vệ đầy đủ hơn.Vaccin của chúng tôi, được trang bị bởi một vecteur độc đáo rất mạnh, được tiêm mông phối hợp với đường mũi  và bắt chước sự bảo vệ được quan sát ở những phụ nữ đề kháng. Với société Mymetics, chúng tôi đã cho thấy, ở những macaque femelle : 1. Rằng ngay cả khi được tiếp xúc với một nồng độ virus 50 đến 100 lần hơn chuẩn, 100% những động vật được tiêm chủng đã không bị nhiễm. 2. Rằng ở những macaque, những IgA được sinh ra do tiêm chủng ngăn cản virus gây nhiễm in vitro những tế bào niêm mạc. Trong một nghiên cứu trên người (giai đoạn 1), được thực hiện ở 24 phụ nữ, sự sản xuất IgA đã không gây nên những tác dụng phụ. Không một vaccin nào khác trên thế giới đã có được những kết quả như thế ở giai đoạn này. Giai đoạn sắp đến là một nghiên cứu quy mô lớn hơn (giai đoạn 2), ở 2000 người có nguy cơ.

(PARIS MATCH 24-30/9/2020)

 Đọc thêm : TSYH số 366 : bài số 8

BS NGUYỄN VĂN THỊNH    

(18/4/2021)      

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s