Cấp cứu tai mũi họng số 7 – BS Nguyễn Văn Thịnh

VIÊM XOANG
(SINUSITIS)

+ Người ta ước tính 31 triệu người ở Hoa Kỳ bị bệnh xoang (sinus disease) mỗi năm ; bệnh này chiếm 16 triệu lần khám bác sĩ mỗi năm
+ Chẩn đoán thông thường thứ năm khiến một kháng sinh được kê đơn
+ Viêm của các xoang quanh mũi (paranasal sinuses) : xoang trán (frontal sinus), xoang hàm (maxillary sinus), xoang sàng (ethmoid sinus), và xoang bướm (sphenoid sinus)
+ Xếp loại
– viêm xoang cấp tính (acute sinusitis) : > 3 tuần
– Viêm xoang mãn tính (chronic sinusitis) : > 3 tháng

I. SINH BỆNH LÝ– Tắc các lỗ thông xoang (ostia) với giảm thông khí và thoát niêm dịch dẫn đến sự phát triển của viêm xoang
– Thường nhất được gây nên bởi nhiễm đường hô hấp trên do virus.
– Những yếu tố làm dễ khác gồm viêm mũi dị ứng (allergic rhinitis), những thủ thuật nha khoa, chấn thương mặt, thông khí cơ học, những ống mũi-dạ dày (NG tubes), chèn gạc trong mũi (nasal packing), vẹo vách mũi, polype mũi, phì đại sùi vòm họng (adenoids)/amidan (tonsils), bệnh nhân suy giảm miễn dịch, và loạn năng niêm dịch-tiêm mao (mucociliary dysfunction)
– Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, và Moraxella catarrhalis là những tác nhân gây bệnh thông thường nhất trong viêm xoang mãn tính
– Những vi khuẩn kỵ khí và Tụ cầu khuẩn vàng thường gặp hơn trong viêm xoang mãn tính
– Pseudomonas aeruginosa liên kết với HIV và cystic fibrosis (mucoviscidose)
– Aspergillus species có thể gây viêm xoang cấp tính ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch và đái đường.

II. LÂM SÀNG
1. Những triệu chứng gồm có :
+ Đau đầu, sung huyết mũi (nasal congestion), đau trên vùng xoang bị viêm, đau răng ở vùng tương ứng xoang hàm (maxillary toothache), sốt, mũi chảy dịch nhầy-mủ (mucopurulent discharge), nặng hơn khi nghiên mình về phía trước, khi ho hay hách xì, bệnh hai giai đoạn (nhiễm trùng đường hô hấp trên cải thiện, sau đó sung huyết và đau trở lại), không cải thiện với thuốc chống sung huyết (decongestant) hay antihistamine.

2. Những dấu hiệu vật lý gồm có
+ Ấn chẩn gây đau trên vùng xoang bị viêm, transillumination xoang bị nhiễm trùng bất thường, turbinate (cornet) bị sung huyết và sưng

III. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

IV. XỬ TRÍ Ở KHOA CẤP CỨU
1. CHẨN ĐOÁN
– Viêm xoang cấp tính chủ yếu là chẩn đoán lâm sàng
– Chụp hình ảnh thường không cần thiết trong đánh giá và điều trị những bệnh nhân với những dấu hiệu lâm sàng gợi ý viêm xoang cấp tính
– Tuy nhiên, chụp X quang có thể hữu ích trong những trường hợp không chắc chắn hay tái diễn, có thể phát hiện mờ xoang (sinus opacity), những mức khí-dịch (air-fluid levels), hay dày niêm mạc >/= 6mm
– CT scan tốt nhất khi nghi ngờ viêm xoang sàng/bướm, viêm xoang mãn tính, hay khi nhiễm trùng lan rộng vượt quá những xoang quanh mũi
2. ĐIỀU TRỊ+ Có ít chứng cớ rằng các kháng sinh là có lợi trong viêm xoang cấp tính. Mặc dầu vậy, điều trị chuẩn gồm có một đợt kháng sinh bằng đường miệng
+ Những bệnh nhân với một khả năng cao bị viêm xoang do vi khuẩn (bacterial sinusitis) có the duoc điều trị kháng sinh.
– Amoxicillin, 500 mg bằng đường miệng, 3 lần mỗi ngày trong 14 ngày. hay
– SMX-TMP (Bactrim) 1 viên bằng đường miệng hai lần mỗi ngày trong 14 ngày
+ Viêm xoang mãn tính có thể đòi hỏi những đợt kháng sinh lâu hơn và, có thể, mổ tưới rửa (operative irrigation) và dẫn lưu bởi thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.
+ Những điều trị phụ gồm hơi nước (steam), nước rửa mũi (saline nasal rinses), thuốc chống sung huyết dùng tại chỗ (décongestionnant local), thuốc chống sung huyết bằng đường miệng (décongestionnant oral), và, có thể, thuốc tiêu niêm dịch (mucolytique) hay corticosteroide inhalé (Flixonase Aqua).
– Phenylephrine nasal 0,25%, 2 spray mỗi lỗ mũi, mỗi 4 giờ.
– Vasoconstricteurs par voie nasale : Nesivine (oxymétazolone),
Rhinospray (tramazoline), Otrivine (xylométazoline)
+ Sử dụng thuốc chống sung huyết tại chỗ (local desongestant) nên được giới hạn 2-3 ngày vì khả năng viêm mũi dội ngược (rebound rhinitis).
+ Không có cơ sở hợp lý để dùng antihistamine trong điều trị viêm xoang mãn tính (có thể làm khô niêm mạc và ngăn chặn các lỗ)
+ Hầu hết các bệnh nhân có thể được điều trị ngoại trú với theo dõi bởi thầy thuốc tuyến đầu hay thầy thuốc chuyên khoa TMH. Những bệnh nhân với biến chứng lan rộng ra khỏi xoang mặt, những bệnh nhân nhiễm độc, hay những bệnh nhân với những dấu hiệu thần kinh nên được cho kháng sinh tĩnh mạch, khám TMH, và nhập viện.

EMERGENCY MEDICINE.
QUICK GLANCE

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/2/2021)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu tai mũi họng, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s