Thời sự y học số 566 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1. NGÀY TIÊM CHỦNG : CHÂU ÂU TRẢI ” V-DAY” RA TRONG 3 NGÀYVài quốc gia, như Hongrie, Đức và Slovaquie, đã không chờ đợi ngày J. Những nước khác như Bỉ, đã đánh giá rằng tốt hơn là bắt đầu thứ hai 28/12 này. Nhưng trong toàn thể, đã bắt đầu hôm chủ nhật 27/12 : những bước đầu tiên của tiêm chủng chống Covid-19 của 446 triệu cư dân của Liên hiệp châu Âu.” Một giây phút nhất quán gây xúc động” Ursula von der Leyen, chủ tịch của Commision européenne, đã tweet như vậy hôm thứ bảy 26/12. Đối với bà,” tiêm chủng là phương tiện bền vững để thoát khỏi đại dịch “. Commission européenne là thợ cả (maitre d’oeuvre) của chiến dịch chưa từng có này trong những biên niên sử châu Âu.
Phải tiến hành nhanh : đại dịch vào hôm nay đã gây nên tử vong cho hơn 400.000 người của Liên Hiệp châu Âu, kể cả Vương quốc Anh.Khắp nơi, ưu tiên dành cho những người già. Ở Pháp, một cựu aide-ménagère 78 tuổi, Mauricette, đã là người đầu tiên được tiêm chủng trong một đơn vị điều trị dài ngày (unité de soins de longue durée) ở Sevran. Ở Đức, chính một résidente 101 tuổi của một nhà dưỡng lão trong vùng Saxe-Anhalt, đã nhận mũi chích đầu tiên. Ở Thụy Điển, một phụ nữ 91 tuổi đã được tiêm chủng trong một nhà dưỡng lão. Ở Slovénie, chính một tổng giám mục 84 tuổi, Franc Kramberger, đã mở đầu chương trình tiêm chủng.
Phương pháp của Liên Hiệp châu Âu khác hẳn phương pháp của Nga. Với vaccin Sputnik V, Moscou ưa thích hơn trước hết chủng những người từ 18-60 tuổi trong một thì đầu, chỉ bắt đầu chủng những lão niên trên 60 tuổi từ cuối tuần nay.
NHÂN VIÊN Y TẾ
Trong vài nước của Liên Hiệp châu Âu, như ở Pháp, nhân viên y tế trên 65 tuổi cũng ở đầu danh sách, cũng như những người làm việc trong các nhà dưỡng lão.
Roumanie mong muốn tuyên dương cô y tá Mihaela Anghel, 26 tuổi, nhân viên ở bệnh viện của các bệnh nhiễm trùng Matei Bals. Ý đã cho tiêm những liều đầu tiên cho cô ý tá Claudia Alivernini và cho giáo sư Maria Rosaria Capobianchi, giám đốc của một phòng thí nghiệm virus học ở Rome.
” Nước Ý tỉnh dậy, Thủ tướng Giuseppe Conte đã phản ứng như vậy trên Twitter, chào mừng một ngày “sẽ mãi mãi ghi khắc trong trí nhớ của chúng ta”.Ý (hơn 71.600 người chết), cùng với Tây Ban Nha (gần 50.000) và Pháp (khoảng 62.700), là một trong những nước của Liên Hiệp châu Âu bị ảnh hưởng nhất bởi đại dịch.
Cũng như ở Hoa Kỳ, vài nhà lãnh đạo của các nước châu Âu đã mong muốn nếu gương để khuyến khích dân chúng vượt qua nỗi sợ hãi.
Đó là trường hợp của Cọng hòa tchèque, ở đây Thủ tướng Andreij Babis, 66 tuổi, đã cho chích hôm chủ nhật 27/12 liều đầu tiên của vaccin, tiếp theo bởi một cựu chiến binh đệ nhị thế chiến 95 tuổi.
Vaccin Pfizer/BioNTech hiện là vaccin duy nhất được chuẩn thuận bởi EMA (autorité européenne des médicaments), phần lớn các vaccin đã được chuyển đến từ nhà máy Pfizer ở Puurs (Bỉ), dưới sự hộ tống của police.
Hãng dược phẩm Hoa Kỳ đã ký kết một thỏa thuận với châu Âu, dự kiến cung ứng 200 triệu liều và khả năng yêu cầu 100 triệu liều bổ sung. Commission européenne đã đặt mua ở những hãng chế tạo khác, trong lúc chờ đợi một sự chuẩn thuận của EMA để đáp ứng nhu cầu của toàn thể dân châu Âu.
Như thế Liên hiệp châu Âu theo bước Trung Quốc, nước này ngay từ mùa hè qua đã bắt đầu tiêm chủng dân chúng, tiếp theo vào tháng 12 bởi Nga, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Canada, Mexique và Chili.Ở Bỉ, chương trình tiêm chủng bắt đầu vào thứ hai 28/12 lúc 11 giờ trong 3 nhà dưỡng lão (maison de repos). Lực lượng đặc nhiệm tiêm chủng (task force Vaccination) đã hành động hiệp đồng với các nhà dưỡng lão. Một chuyến hàng đầu tiên khoảng 10.000 vaccin đã đến hôm thứ bảy 26/12 ở UZ Leuven. Những vaccin này đã tức thời được bảo quản trong một congélateur ở nhiệt độ -75 độ C. Hôm chủ nhật 27/12 chúng đã được đặt trong một máy lạnh (réfrigérateur) duy trì nhiệt độ từ 2 đến 8 độ. Chính chúng sẽ được tiêm vào thứ hai 28/12 này.
(LA LIBRE BELGIQUE 28/12/2020)

2. CHIẾN DỊCH TIÊM CHỦNG ĐÃ BẮT ĐẦU Ở PHÁP
Những bệnh nhân đầu tiên đã nhận một mũi tiêm chống coronavirus trong hai cơ sở bệnh viện, ở Sevran (Seine-Saint-Denis) và ở Dijon (Bourgogne)COVID-19. ” Ôi nóng !”, Mauricette đã phản ứng như vậy sau khi nhận mũi tiêm. Ở tuổi 78, cựu cư dân của Bourget (Seine-Saint-Denis), được tiếp nhận vào trong unité de soins de longue durée của bệnh viện René-Muret de Sevran (Assistance publique-Hôpitaux de Paris, Seine-Saint-Denis), hôm qua đã trở thành người Pháp đầu tiên nhận vaccin Pfizer và BioNTech chống Covid-19. Bà sẽ được tiêm một liều thứ hai trong 21 ngày nữa. Khi đó hệ miễn dịch của bà sẽ sản xuất những kháng thể hiệu quả để chống lại Sars-CoV-2, bảo vệ bà chống lại bệnh Covid-19, bệnh này đã gây hơn 60.000 người chết ở Pháp. Theo những dữ liệu được công bố bởi phòng thí nghiệm Đức, vaccin có thể ngay cả hiệu quả ngay ngày 11 sau liều đầu tiên.
Vào buổi sáng, khoảng một chục lão niên khác trên 75 tuổi của cùng đơn vị điều trị, cũng như một trong những thầy thuốc của họ (tuổi trên 65), cũng được chích một liều vaccin đầu tiên. Vào đầu buổi chiều, được chủng khoảng một chục pensionnaire của centre gériatrique de Champmaillot, phụ thuộc CHU de Dijon, và một thầy thuốc chuyên khoa hơn 65 tuổi.(Le cardiologue Jean-Jacques Monsuez se fait injecter, dimanche 27/12, une dose du vaccin de Pfizer/BioNTech contre le Covid-19 à l’hôpital René-Muret de Sevran)
” Chúng tôi đã tham dự một coup d’envoi biểu tượng của chiến dịch tiêm chủng “, Jerome Marty, thầy thuốc đa khoa và chủ tịch công đoàn Union française pour une médecine libre (UFML) đã phân tích như vậy. Tuy nhiên BS Marty sợ rằng sự vận dụng của chiến dịch thật phức tạp hơn.” Protocole được phân phát bởi chính quyền là khá nặng, và dường như thích ứng hơn với những cấu trúc lớn như AP-HP hơn là thực tế của những nhà dưỡng lão (Ehpad).Tôi có những câu hỏi thật sự về năng lực thiết đặt một cách đúng đắn những cơ sở này.” Vấn đề lo lắng chính là sự đồng ý của các bệnh nhân. Vì vaccin không bắt buộc, nên mọi người phải bày tỏ một cách rõ ràng sự lựa chọn của mình. ” Trong những Ehpad, nhiều pensionnaire không có những năng lực nhận thức (capacité cognitive) của mình, vị thầy thuốc nói tiếp. Trong trường hợp này, phải huy động người thân tín. Ta làm gì khi người này không được chỉ định ? Nếu gia đình không đồng ý ? Đó không phải là một mũi chích đơn giản, có cả một thủ tục mà những nhân viên dường như không nắm rõ.”Từ nay đến cuối tháng hai 2021, một triệu người sẽ theo gương những pensionnaire của Dijon và Sevran trong 7000 Ehpad của Pháp. Sự tăng mạnh của chiến dịch tiêm chủng sau đó sẽ diễn ra dần dần. Nó sẽ xảy ra vào tuần đến ở 23 cơ sở trong những vùng của Paris, Lyon, Lille và Tours, trước khi tăng mạnh để đạt đến một trăm địa điểm trong hai tuần đầu của tháng giêng 2021. Chính vào lúc đó mà ta sẽ có thể đánh giá dispositif và sự chuẩn bị tốt của chúng ta, Jerome Marty đã đánh giá như vậy. Cho đến mùa xuân những người được tiêm chủng tiếp theo sẽ là những người về hưu trên 65 tuổi, rồi phần còn lại của những người 16 tuổi và hơn, luôn luôn trên cơ sở tình nguyện. Chính phủ hy vọng tiêm chủng 15 triệu người vào mùa hè này, với những vaccin 100% miễn phí cho toàn bộ những người được bảo hiểm.
MỘT CHIẾN THẮNG QUAN TRỌNG ĐẦU TIÊN
Cùng với Pháp, hôm chủ nhật 27/12 toàn thể các nước của Liên Hiệp châu Âu đã bắt đầu chiến dịch tiêm chủng chống Covid-19, chào mừng một chiến thắng quan trọng đầu tiên trong cuộc chiến chống lại coronavirus.” Chúng ta không thể cho phép để dịch bệnh bộc phát một lần nữa”, bộ trưởng y tế, Olivier Véran, đã phản ứng như vậy, trong khi từ những ngày đầu của tháng 12 dịch bệnh đánh dấu một bình nguyên hơi hướng thượng.” Nếu khuynh hướng gia tăng chậm này vẫn duy trì, các khoa bệnh viện sẽ vẫn trong tình trạng căng thẳng, équipe de modélisation de l’épidémiologie et de l’évolution des maladies infectieuses de Montpellier (CNRS, IRD, đại học Montpellier) đã giải thích như vậy. Nếu ta thêm vào một hiệu ứng của réveillon de Noel, bất hạnh thay điều đó sẽ đủ để làm lên trở lại dịch bệnh với một nguy cơ rõ rệt sẽ có hơn 3000 người ở ICU vào tháng hai 2021.” Được hỏi về khả năng của một sự phong tỏa lần ba, bộ trưởng y tế nói sẵn sàng áp dụng những biện pháp cần thiết nếu tình hình trở nên trầm trọng “.
Chiến dịch tiêm chủng sẽ có thể tránh cho chúng ta điều đó ? Chưa thể biết quỹ đạo dịch tễ học trong những ngày đến là gì, vì những lễ lạc cuối năm mở ra một thời kỳ hoàn toàn không thể tiên đoán được. Những tập hợp gia đình vào ngày 24 và 25/12 có nguy cơ làm gia tăng những lây nhiễm trong những hộ gia đình, trong khi những kỳ nghỉ, nhất là với sự đóng cửa trường học trong hai tuần, có thể góp phần cho tác dụng ngược lại. Về kỷ luật của những người Pháp trong réveillon de la Saint-Sylvestre, khó tiên liệu được.Trong một thời gian dài hạn hơn, những mô hình toán học được phát triển bởi Viện Pasteur và được trình bày bởi Haute Autorité de santé, chỉ rằng sự tiêm chủng 5 triệu người sẽ cho phép, năm 2021, tránh 47,6% đến 48,6 % những tử vong do Covid khi nhắm đến những người 75 tuổi và hơn với một vaccin hiệu quả 90%. Điều đáng lưu ý cần ghi nhận là những kết quả là rõ rệt ít gây ấn tượng hơn ở những lứa tuổi khác : thí dụ ta tránh 11,3% đến 11,5% những tử vong khi nhắm đến những người 65-74 tuổi, 3,6% khi nhắm đến 50-64 tuổi và 0,2% khi nhắm đến 18-49 tuổi
NGĂN CẢN NHỮNG THỂ NẶNG
Những dữ liệu củng cố HAS trong những khuyến nghị về ưu tiên của vaccin. Vaccin ngăn cản những thể nặng hay nó còn cho phép hạn chế sự lây nhiễm. ” Những kết quả của mô hình chỉ rằng những tử vong và nhập viện tránh được tối đa nhờ tiêm chủng có được bằng cách nhắm trước hết những người 75 tuổi và hơn “, ta có thể đọc được trong báo cáo của HAS. Ngược lại vấn đề ít rõ rệt hơn đối với sự thiết đặt ” làn sóng tiêm chủng thứ hai “. Nếu vaccin “chỉ” cho phép giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh, dường như thích hợp hơn tiêm chủng trong thì hai những người 65-74 tuổi có ít nhất hai bệnh nền và những người 50-64 tuổi có ít nhất hai bệnh nền. Như thế mục đích là tránh những người này phát triển những thể nặng. Ngược lại, nếu vaccin cho phép làm giảm sự lan truyền, có vẻ hữu ích hơn dành ưu tiên trong thì hai cho những nhóm góp phần nhiều hơn vào sự lan truyền này, nhất là những người 18-49 tuổi. Chỉ sự theo dõi chăm chú nhũng tiêm chủng đầu tiên sẽ cho phép có một ý tưởng chính xác hơn về tính hiệu quả lên sự lan truyền, và thích ứng chiến lược tiêm chủng tùy theo những thông tin có được.
(LE FIGARO 28/12/2020)

3. NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ : NHỮNG DỮ LIỆU VỀ AN TOÀN LÀM AN LÒNG
Trong khi chiến dịch tiêm chủng chống Covid-19 bắt đầu trong một bầu không khí ngờ vực, Cơ quan an toàn dược phẩm quốc gia (ANSM) đã tăng cường dispositif de surveillance để giám sát “en temps réel” những tác dụng phụ có thể tiên đoán hay bất ngờ. Các thầy thuốc, cũng như những người được tiêm chủng và những người chung quanh, có thể khai báo chúng, hoặc một cách trực tiếp ở trung tâm cảnh giác dược (centre de pharmacovigilance) của vùng, hoặc ở một portail trên internet.
Vaccin Comirnaty, được thương mãi hóa bởi Pfitzer và BioNTech, đã là đối tượng của một thử nghiệm giai đoạn 3, được thực hiện trên gần 44.000 người. ” Đại đa số các biến cố được quan sát không thật sự là những tác dụng phụ, BS Bruno Hoen, giám đốc nghiên cứu y khoa của Viện Pasteur đã chỉ như vậy. Chúng thuộc về điều mà chúng tôi gọi là tính sinh phản ứng (réactogénicité) nghĩa là những triệu chứng hiền tính xuất hiện trong 48 giờ sau khi chích và biến mất một cách nhanh chóng. Đau ở nơi chích, nói chung nhẹ hay vừa phải, đã được báo cáo bởi 80% những người được chủng. Sốt và run, mệt, đau đầu, đau cơ hay khớp cũng được mô tả. Những con số có thể làm ngạc nhiên : 86% những người tình nguyện của thử nghiệm Pfizer và 91% của thử nghiệm Moderna đã khai báo là đã cảm thấy đau dai dẳng ở điểm tiêm trong ít nhất một ngày. Lần lượt 63% và 68% những người tình nguyện của thử nghiệm Pfizer và Moderna đã cảm thấy mệt bất thường, 55% và 63% bị đau đầu, 38% và 60% bị đau cơ. Những dấu hiệu lâm sàng này, cũng được báo cáo trong nhóm đã nhận một placebo (30% những người tình nguyện của nhóm chứng khai báo đã cảm thấy một sự mệt bất thường sau khi được tiêm…placebo). Những dấu hiệu lâm sàng này ít phổ biến hơn ở những người trên 55 tuổi. Chúng thường gặp hơn sau mũi chích thứ hai. Nhìn toàn thể, Bộ y tế gợi lên những dữ liệu về dung nạp “hoàn toàn làm an lòng”.
Từ điều chứng thực đầu tiên này, các chuyên gia rút ra hai bài học. Thứ nhất là về kỹ thuật. ” Moderna tiêm 100 mcg ARN, Pfizer 30. Thêm vào ARN là enrobage lipidique, quan trọng hơn ở Moderna : điều đó giải thích một tính sinh phản ứng (réactogénicité) hơi quan trọng hơn ở vaccin de Moderna “, Bruno Pitard, giám đốc nghiên cứu của CNRS (Nantes) và chuyên viên về loại vaccin này đã giải thích như vậy. Ta gặp rất ít những phản ứng mức độ 3, khả dĩ ngăn cản một cuộc sống hàng ngày bình thường. Những phản ứng này dầu sao cũng xảy ra ở 9,7% những người tình nguyện của thử nghiệm Moderna và 4,6% những người tình nguyện Pfizer.Những phản ứng này sẽ biến mất nhanh chóng. Tuy nhiên ở Hoa Kỳ, CDC khuyến nghị dự kiến một ngày nghỉ việc, nhất là sau mũi tiêm thứ hai, nhạy cảm nhất.
Những thử nghiệm này ngược lại không phát hiện một tác dụng phụ nào thật sự nghiêm trọng, nói một cách khác,” những phản ứng kéo dài và không được chờ đợi “,
Tuy nhiên, hai báo cáo của FDA cập nhật một chủ đề gây tranh cãi : paralysie de Bell (liệt mặt). Thương tổn này của dây thần kinh mặt, hiện tượng thần kinh nghiêm trọng, thường biến mất trong vài tuần, vẫn còn không được biết rõ. 4 trường hợp đã được quan sát trong thử nghiệm Pfizer, tất cả trong nhóm được tiêm chủng ; 4 trường hợp khác trong nhóm placebo. Hai hãng dược phẩm bác bỏ mối liên hệ với vaccin của họ. FDA không được thuyết phục và khuyến nghị một sự chú ý đặc biệt.
CHOÁNG PHẢN VỆ
Những tác dụng phụ nghiêm trọng đã rất là hiếm. Trong số chúng, một thương tổn ở vai do một sự tiêm vaccin không đúng đắn và một dị cảm (cảm giác kiến bò) của cẳng chân. Một sự viêm của các hạch cũng đã được báo cáo bởi 64 người được tiêm chủng trong khung cảnh của những thử nghiệm lâm sàng. 4 trường hợp liệt mặt đã được báo cáo, nhưng chúng không thể được quy một cách rõ ràng cho tiêm chủng. Thật vậy số lượng những trường hợp liệt mặt này ở những người tiêm chủng không cao hơn population générale. Những triệu chứng này nói chung biến mất sau một tuần.
Những tai biến nghiêm trọng nhất, những phản ứng dị ứng nặng, đã xảy ra sau những thử nghiệm lâm sàng, trong khung cảnh của những chiến dịch tiêm chủng được phát động 8/12 ở Vương quốc Anh và vài ngày sau ở Hoa Kỳ. Chiến dịch tiêm chủng của Vương quốc Anh đã làm xuất hiện, ngay ngày đầu, những phản ứng nặng ở hai người đã có một tiền sử phản ứng cấp tính (một với trứng và một với thuốc), buộc họ luôn luôn mang theo người một stylo injecteur d’adrénaline. Hai người Mỹ cũng bị một phản ứng dị ứng nặng sau khi được tiêm chủng ở Alaska. Tổng cộng, 8 trường hợp choáng phản vệ đã được báo cáo trong những nước này. Những biểu hiện cực kỳ này đã được điều trị cấp cứu và đã không gây tử vong, nhưng chúng khiến giới hữu trách y tế gia tăng cảnh giác.
” Choáng phản vệ là một tác dụng phụ được biết, có thể xuất hiện với phần lớn các vaccin (trung bình khoảng 1 trường hợp đối với một triệu liều được tiêm) “, Brigitte Autran, professeur émérite d’immunologie và thành viên của ủy ban Vaccin Covid-19. Theo một báo cáo của CDC (Centres américains de surveillance et de contrôle des maladies), một trong 6 biến chứng đã xảy ra ở một bệnh nhân đã từng bị một tai biến phản vệ sau đã được tiêm chủng chống bệnh dại. Ở Vương quốc Anh, hai người bị choáng phản vệ cũng có những tiền sử, và vì thế mang thường trực trên người một auto-injecteur d’adrénaline.
Nếu tỷ suất lợi ích/nguy cơ không bị xét lại đối với population générale, Bộ y tế đã quyết định không khuyến nghị tiêm chủng “ở những người đã có những biểu hiện dị ứng nặng như những phản ứng phản vệ “. Vaccin dĩ nhiên bị chống chỉ định trong trường hợp tính quá nhạy cảm (hypersensibilité) với hoạt chất hay với một trong những tá dược của nó. Polyéthylène glycol, một thành phần được sử dụng trong công nghiệp mỹ phẩm và hiện diện trong những vaccin à ARN messager được thương mãi hóa bởi Pfizer và Moderna, được coi như kẻ tình nghi chính. Những giả thuyết này còn xa mới được chuẩn nhận.
Giới hữu trách y tế chủ trương một sự theo dõi chăm chú những người được tiêm chủng trong 15 phút sau khi tiêm vaccin. Cũng như đối với mọi tiêm chủng, các thầy thuốc phải có sẵn một kit d’urgence, chứa nhất là adrénaline, để có thể điều trị một phản ứng dị ứng.
Sau cùng, vì không có sẵn những dữ liệu, vào lúc này vaccin không được khuyến nghị bởi HAS cho những phụ nữ có thai và cho những trẻ em dưới 16 tuổi. Ngoài ra, vaccin phải được tiêm xa những vaccin khác. Về những bệnh nhân đã bị một Covid-19 triệu chứng, vào giai đoạn này không nên tiêm chủng họ một cách hệ thống “. Nhưng họ phải có thể tiếp cận vaccin nếu họ muốn, tuy nhiên với “một thời hạn tối thiểu 3 tháng kể từ khi bắt đầu những triệu chứng”.
(LE FIGARO 28/12/2020)

4. NHỮNG LO NGẠI VỀ BIẾN THỂ MỚI CỦA CORONAVIRUS XUẤT HIỆNỞ VƯƠNG QUỐC ANH
Chủng biến dị của virus ở Kent dường như lây nhiễm hơn, nhưng nhiều câu hỏi vẫn chưa có câu trả lời
Những lễ hội cuối năm bị hỏng, những sự đi lại bị hủy đất nước bị phong tỏa..Sự khám phá một biến dị của Sars-CoV-2 nghi là nguồn gốc của một sự bùng phát dịch bệnh ở miền đông nam của Anh đã, trong vài ngày gieo rắc một sự hỗn loạn trong cả châu Âu.+ Tại sao ta lo ngại biến thể mới này của coronavirus ?
Được nhận diện lần đầu tiên 20/9, trong comté de Kent, ở đông nam của Luân Đôn, biến thế mới này của coronavirus, được gọi là VUI-202012/01 đã thành hình rất kín đáo trong nhiều tuần, trước khi đột ngột gia tăng tần số vào giữa tháng 11. Nó dần dần chiếm chỗ của những dòng khác của Sars-CoV-2 cho đến khi trở thành biến thể chiếm đa số trong vùng đông nam của nước Anh, đặc biệt ở Luân Đôn.
Virus biến dị không ngừng và hiện tượng này là bình thường. Các nhà khoa học ngay cả đánh giá rằng Sars-CoV-2 trung bình có một hay hải biến dị mỗi tháng. Và cho đến nay, phần lớn những biến dị này không có hay có rất ít những hậu quả.
Tuy nhiên, biến thể mới Anh lôi kéo sự chú ý. Trước hết, bởi vì nó đang chiếm chỗ một cách nhanh chóng những chủng khác, điều này khiến sợ rằng nó lây nhiễm hơn những coronavirus khác.
Biện thể mới này của SARS-CoV-2 có tổng công 17 biến dị của génome của nó so với coronavirus đã được séquencé vào tháng giêng 2020 ở Vũ Hán.
8 trong số 17 biến dị này xảy ra ở một phần rất quan trọng của virus : protéine để spicule (hay spike), nằm ở bề mặt của virus ; spike cho virus có hinh dạng couronne và cho phép nó bám và đi vào (gây nhiễm) những tế bào người (mang thụ thể ACE2). Đó cũng là đích của hệ miễn dịch của chúng ta và của các vaccin. Vài trong số những biến dị này đã được nghiên cứu và được biết là làm gia tăng năng lực của virus gây nhiễm những tế bào của chúng trong phòng thí nghiệm hay thoát những kháng thể của chúng ta. Nhưng điều đó không nhất thiết muốn nói rằng đó là trường hợp trong cuộc sống hiện thực.
Trong số những biến dị, hai được theo dõi sát vì lẽ vị trí chiến lược của chúng trên protéine de spicule : N501Y và P681H. Hai biến dị này đã được quan sát độc lập với nhau từ nhiều tháng nay, nhưng đã không bao giờ được phối hợp trước khi phát hiện biến thể mới này.
Thêm vào đó là 6 biến dị bổ sung, nhưng không gây nên một sự thay đổi thành phần của những protéine tương ứng, điều này dẫn đến tổng cộng 23 biến đổi di truyền, Con số này là chưa từng có so với điều đã được quan sát trước đây : theo một công trình nghiên cứu được công bố trong Annals of Surgery vào đầu tháng 11, génome của SARS-CoV-2 tích lũy một hay hai biến dị mỗi tháng, một nhịp độ hai lần ít cao hơn cúm và 4 lần ít cao hơn đối với HIV.
Tuy nhiên ta không thể thật sự nói đó là chủng mới bởi vì số những biến dị vẫn thấp so với kích thước của génome của virus (23 trên 29.903 nucléotide), và rằng hoạt động và những đặc tính của virus đã không thay đổi. Hiện nay thích đáng hơn là nói “biến thể” (variant)
+ Biến thể mới này đã xuất hiện ở đâu và như thế nào ?
Dường như biến thể mới này của coronavirus đã xuất hiện ở Anh, nơi mà nó đã được khám phá.” Tôi sẽ rất ngạc nhiên rằng nó được du nhập từ một nước khác, Etienne Simon-Lorière, chuyên gia virus học ở Viện Pasteur đã đánh giá như vậy. Mặc dầu những người Anh có một hệ thống giám sát génome (système de surveillance génomique) rất tinh tế, gần như en temps réel. Nhưng nếu biến thể mới này xuất hiện ở nơi khác có lẽ ta đã thấy nó.” Một bộ phận của cộng đồng khoa học đánh giá rằng nó có thể phát xuất từ một bệnh nhân suy giảm miễn dịch bị nhiễm mãn tính bởi virus và được điều trị với những kháng thể của những người hiến lành bệnh (donneurs convalescents) và remdésivir. Ở những người bị suy giảm miễn dịch, ARN của virus vẫn có thể phát hiện được khoảng hai đến ba tháng. Thời gian này đủ để quần thể virus có một sự đa dạng gène lớn hơn. Một tình huống có thể gây nên nhiều biến dị.Thế mà biến thể mới này gồm 17 biến dị xuất hiện chỉ một lần, một số lượng rất trên mức trung bình ” Ở một bệnh nhân suy giảm miễn dịch, virus có thể nhân đôi trong nhiều tuần mà không bị phong bế bởi đáp ứng miễn dịch, điều này có thể dẫn đến nhiều biến dị khác nhau, nhà virus học đã giải thích như vậy. Sự kiện thêm những điều trị sau đó có thể gây nên một sức ép chọn lọc.
+ Biến thể mới này có thật sự lây nhiễm hơn không ?
Nếu biến thể Anh gây lo ngại giới hữu trách y tế của nước này, đó là bởi vì khả năng lây nhiễm (contagiosité) của nó dường như lớn hơn. “Trên thực địa, các vùng của Anh, ở đó dịch bệnh gia tăng, có đa số những nhiễm gây nên bởi biến thể mới “, Samuel Alizon, giám đốc nghiên cứu ở CNRS và thành viên của équipe de modélisation de l’épidémiologie et de l’évolution des maladies infectieuses de Montpellier đã ghi chú như vậy.
” Trong một cuộc chạy đua, để một trong những người tham dự tách ra khỏi đội, người này phải chạy nhanh hơn một cách đáng kể những người bên cạnh “, Etienne Simon Lorière đã nói như vậy.” Biến thể này có vẻ khuếch tán hơi nhanh hơn, dẫu sao chính đó là sự nhất trí khoa học. Nhưng chúng ta phải chờ đợi những sự kiểm tra sinh học trong vài tuần nữa để chắc chắn về điều đó.”
Đối với Bruno Lina, chuyên gia về virus học và người phụ trách Centre national de référence des infections respiratoires de Lyon : ” Vẫn có một ẩn số : phải chăng dịch bệnh gia tăng vì biến thể này, hay phải chăng ta phát hiện nhiều biến thể này bởi vì dịch bệnh gia tăng sau khi giở bỏ những biện pháp hạn chế cách nay vài tuần ở Anh ? ”
Thủ tướng Boris Johnson đã chỉ rằng những phân tích sơ bộ cho thấy một sự truyền “70% quan trọng hơn”. Theo các dữ liệu dịch tễ học, các nhà khoa học Anh cho rằng toàn thể những biến dị của biến thể này làm gia tăng 0,4 điểm tỷ lệ sinh sản của nó (RO). Nếu không có động tác barrière hay miễn dịch cộng đồng, vào tháng hai, mỗi bệnh nhân lây nhiễm trung bình 3 người khác, hoặc một RO bằng 3. Với biến thể mới này, mỗi bệnh nhân lây nhiễm trung bình 3,4 người. Một tin xấu, nhưng không thay đổi nhiều động lực của dịch bệnh. Tuy nhiên, mối liên hệ nhân quả này đã chưa được thiết lập và cộng đồng khoa học tỏ ra thận trọng về con số này. Cả Boris Johnson lẫn bộ trưởng y tế của ông, Matt Hancock đã không giải thích làm sao có được con số đó. OMS ngay cả đã nói trái lại điều đó, chỉ rằng con virus mới này không “ở ngoài tầm kiểm soát” như Hancock đã xác nhận như vậy.
” Những modélisation sơ bộ cho thấy một sự liên kết mạnh giữa sự hiện diện của biến thể mới này trong Kent, những vùng đông nam của nước Anh và tỷ lệ tăng cao của Covid-19 “, những nhà dịch tễ học của ECDC (Centre européen de prévention et de contrôle des maladies) đã viết như vậy 20/12. Nó chỉ là một sự tương quan (corrélation), chứ không phải là một nguyên nhân, của sự tăng tốc của dịch bệnh trong những vùng này. Ngược lại, điều đáng ghi chú, đó là biến thể này của virus đã trở nên nổi trội trong những trường hợp được phát hiện trong vài tuần. Ở Londres, biến thể này chịu trách nhiệm 28% những nhiễm virus vào đầu tháng 11 và 62% vào 9/12.
” Có nhiều yếu tố có thể góp phần để làm dễ những sự lan truyền, Bruno Canard, nhà nghiên cứu của CNRS ở laboratoire architecture et fonction des macromolécules biologiques ở Marseille, đã giải thích như vậy.Virus có thể có một tỷ lệ thành công gây nhiễm quan trọng hơn, nhờ một sự bám tốt hơn với các tế bào qua những thụ thể thích ứng hơn hay một cơ chế vào tốt hơn. Nhưng vào lúc này, ta không thể biết đó là gì. Để được như thế, phải thực hiện những phân tích virus trong phòng thí nghiệm.”
Vài trong số những biến dị của biến thể mới đã từng được biết hay có thể giải thích được, nhưng 4 biến dị là hoàn toàn mới và khó có thể đánh giá. ” Có thể rằng sự liên kết của vài trong số những biến dị này có thể mang lại một lợi thế cạnh tranh cho virus trong sự lây truyền “, Etienne Decroly, chuyên khoa virus học và giám đốc nghiên cứu ở CNRS đã nói như vậy.
+ Biến thể mới này có gây chết người hơn những biến thể khác ?
Vào lúc này, đã không được quan sát mối liên hệ giữa biển thể mới và những trường hợp nặng hơn của Covid-19. ” Không có một bằng cớ nào cho thấy rằng virus mới là nguy hiểm nhiều hay ít. Bất hạnh thay, chúng ta sẽ phải chờ đợi và xem những nhập viện và những tử vong tiến triển như thế nào để biết điều đó ” Simon Clarke, giáo sư vi trùng học ở đại học Reading, ở Science Media Center britanique đã giải thích như vậy. Nhà virus học Vincent Enouf cùng quan điểm : ” Hôm nay không gì cho phép xác định rằng biến thể này chịu trách nhiệm những thể nặng hơn của Covid-19. Ta sẽ chỉ có thể biết điều đó khi có nhiều dữ liệu lâm sàng hơn về tương lai của những bệnh nhân bị nhiễm bởi virus biến dị này.”
+ Mối liên hệ nào với biến thể Nam Phi
Một biến thể khác của coronavirus, biến thể 501.V2, đã được phát hiện ở Nam Phi. Bộ trưởng y tế, Zweli Mkhize, đã loan báo hôm thứ sau 18/12 rằng các nhà nghiên cứu, sau khi đã séquencé nhiều trăm mẫu nghiệm từ lúc đầu dịch bệnh, da “nhận xét rằng một biến thể đặc biệt nổi trội các kết quả trong hai tháng qua”. Biến dị này là khác với biển dị Anh.
Nhưng theo phòng thí nghiệm nam phi Kwazulu-Natal Research Innovation and Sequencing Platform (Krisp), có những điểm tương tự, ” bởi vì cả hai cùng chia sẻ sự thay đổi trong protéine de spicule”, biến dị N501Y. Dạng mới này có thể giải thích tốc độ lan tràn của bệnh trong nước nam phi, bị tấn công bởi một làn sóng thứ hai từ vài tuần nay. Nếu biến thể này dường như được truyền nhanh hơn, ta vẫn chưa biết nó có được liên kết với một charge virale lớn hơn hay các vaccin hiện được phát triển có sẽ hiệu quả không.
+ Biến thể mới có đe dọa tính hiệu quả của các vaccin được phát triển cho đến nay ?
Vào lúc này không gì chỉ rằng những biến dị này sẽ có một tác động lên tính hiệu quả của các vaccin và sẽ cần những nghiên cứu bổ sung cho vấn đề chủ yếu này. Giới hữu trách y tế tỏ ra làm an lòng. ” Hiện nay, không có một bằng cớ nào gợi ý rằng vaccin này không hiệu quả chống lại biến thể mới này”, Emer Cooke, tổng giám đốc của Cơ quan dược phẩm châu Âu đã tuyên bố như vậy khi bật đèn xanh cho vaccin được phát triển bởi Pfizer-BioNTech. Bộ trưởng y tế Olivier Véran đã giải thích rằng ” các kháng thể được phát triển bởi hai vaccin Pfizer-BioNTech và Moderna không nhắm vùng của virus bị biến dị “.
Đó cũng là kết luận của những công trình được công bố trong tạp chí Cell vào tháng chín bởi một équipe trung quốc, đã cho thấy rằng biến dị N501Y này đã không có, ở chuột, hậu quả lên năng lực trung hòa hay lượng của các kháng thể được chế tạo chống virus. Những biến dị của gène mã hóa protéine de spicule liên quan 9 nucléotide trên 3821 nucléotide mà gène chứa. Các vaccin sản xuất những kháng thể mà tác dụng trung hòa hướng chống lại nhiều vùng của protéine de spicule. Mặc dầu ta không loại trừ điều đó, nguy cơ này được đánh giá là rất giới hạn.
” Ý tưởng về vaccin là protéine Spike (spicule) được trình cho hệ miễn dịch của anh và anh sẽ học nhận biết nhiều phần khác nhau của nó “, Emma Hodcroft, nhà dịch tễ học ở đại học Berne đã giải thích như vậy. ” Ngay cả khi vài phần thay đổi, anh vẫn luôn luôn có tất cả những phần khác để nhận biết” virus, bà đã nói như vậy.
+ Những test PCR có thể phát hiện biến thế mới của virus ?
Hiệu năng của những test rapide antigénique không bị ảnh hưởng bởi những biến thể mới của coronavirus. Lý do ? Những biến dị được quan sắt trên những “chủng mới ở Anh và ở Nam Phi nằm ở protéine spike (những spicule, những chỏm bao quanh virus). Thế mà, may mắn thay, chính protéine của nucléocapside (bọc ARN) mới được phát hiện bởi những test antigénique “, BS Catharina Boeme, chủ tịch của ONG Find đã giải thích như vậy. Nhưng đích thật sự của mọi test antigénique thuộc về bí mật công nghệ.” Chúng tôi không biết có một hay hai protéine được đo bởi những test rapide “, chuyên gia virus học đã nói như vậy.
Các nhà khoa học Anh đã báo cáo rằng biến dị đi truyền đặc hiệu trên những acide aminé thứ 69 và 70 của protéine de spicule (protéine S), được quan sát với biến thể mới này, có thể bị “bỏ sót” bởi vài test RT-PCR và như thế cho một kết quả âm tính lúc điều tra phát hiện.
Trong báo cáo của mình, các chuyên gia của ECDC khuyến nghị không được chỉ dựa vào RT-PCR (nhắm gène của protéine S) ” để phát hiện nguyên phát nhiễm SARS-CoV-2″, bởi vì ” những biến dị có khả năng hơn xảy ra ở gène này”. Nhưng những trắc nghiệm PCR khác có thể phát hiện virus bằng cách nhắm vào những vùng khác trong génome ; những vùng này không nhạy cảm với biến thể mới. Chính phủ Anh đã chỉ rằng những “trắc nghiệm có thể được thích ứng một cách nhanh chóng để đáp ứng với biến thể mới này”.
+ Biến thể mới của virus đã hiện diện ở Pháp ?
” Trong những ngày qua, 500 chủng virus đã được phân tích và biến thể mới này đã không được tìm thấy. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng nó không lưu hành”, bộ trưởng y tế Olivier Véran đã chỉ như vậy hôm thứ hai 21/12. Ở Pháp, sự theo dõi những biến dị dựa trên những Centre national de référence (CNR), ở Viện Pasteur, và dựa trên vài phòng xét nghiệm bệnh viện có séquenceur à haut débit. Những máy rất mạnh này cho phép phân tích génome của virus được lấy ở những bệnh nhận được điều trị ở bệnh viện và ở thành phố. Carte génétique có được, liên kết với ngày tháng và nơi lấy mẫu nghiệm, sau đó được đưa vào cơ sở những dữ liệu quốc tế “Gisaid”. Vai trò của Gisaid, Vincent Enouf định rõ : ” Báo động cộng đồng khoa học, thí dụ, một biến dị có trở nên nổi trội hay lan tràn không.”
” Từ đầu dịch bệnh Covid-19, 3000 mẫu nghiệm được lấy ở Pháp, đã được thông báo trong cơ sở các dữ liệu này, GS Bruno Lina đã chỉ như vậy. Điều đó cho phép chúng tôi có một cái nhìn khá trung thực về điều đang xảy ra trên lãnh thổ.” Tuy nhiên, so với tỷ lệ của phần lớn các nước châu Âu, tỷ lệ của sự lên trở lại của dịch bệnh ở Pháp là rất dưới tỷ lệ của Anh. Vương quốc Anh, đã đầu tư ngay từ đầu của cuộc khủng hoảng vào một dispositif de surveillance centralisé, đã một mình nó chỉ dẫn 25% của cơ sở các dữ liệu quốc tế. ” Vì thiếu ý chí chính trị và đầu tư, nước Pháp không có organisation centralisée de séquençage du génome viral, Philippe Froguel, chuyên gia di truyền học đã phàn nàn như vậy.
+ Trong những nước nào biến thể mới đã được phát hiện ?
Với sự đóng cửa các biên giới với Vương quốc Anh, biến thể mới này của virus đã vượt qua các biên giới. Ý đã loan báo đã phát hiện hôm chủ nhật 20/12 một trường hợp lây nhiễm đầu tiên ở Rome, về một bệnh nhân trở về từ Anh. Đan Mạch cũng đã phát hiện 9 trường hợp của chủng mới này của virus trên lãnh thổ của mình và 3 trường hợp khác đã được khám phá vào đầu tháng 12 ở Hòa Lan, và một ở Á , theo OMS.
Ngoài châu Âu, hai du khách đến từ Anh và cũng mang biến thể mới này đã được đặt quarantaine ở Úc. Chủng mới của Sars-CoV-2, được phát hiện ở Nam Phi, có thể giải thích tính chất nhanh chóng của những lan truyền trong nước này, không giống chủng được quan sát ở Vương quốc Anh, mặc dầu chúng cùng chung một biến dị được gọi là N501Y.
(LE FIGARO 22/12/2020), (LE MONDE 23/12/2020)

5. NHỮNG BIẾN DỊ LÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA MỘT SỰ TRUY NÃ THƯỜNG TRỰCCác virus tiến hóa không ngừng. Khi nó đi vào trong một tế bào, Sars-CoV-2 tự sao chép để lan truyền, hay nó có thể làm những sai lầm trong quá trình nhân đôi (réplication) này, điều này gây nên một biến dị. Vậy khá logic, virus càng nhân đôi, những biến đổi này càng nhiều.
Từ lúc đầu của cuộc khủng hoảng y tế, những biến dị di truyền của coronavirus mới này được truy nã trên toàn thế giới bởi các nhà nghiên cứu ; họ phân tích kỹ génome của nó để quan sát vô số biến đổi của nó. Họ chia sẻ collection trên một cơ sở các dữ liệu quốc tế, Gisaid, nguyên thủy được xây dựng cho cúm gia cầm vào năm 2006. “Hiện nay ta có khoảng 250.000 génome được đưa vào trong các cơ sở dữ liệu”, phylogénéticien Thụy Sĩ François Balloux, đồng tác giả của một tài liệu xuất bản về những biến dị của virus, đã chỉ như vậy. Trên những génome này, khoảng 20.000 biến dị khác nhau đã có thể được phát hiện.
Cho đến nay, không một công trình nghiên cứu khoa học nào cho thấy một tác động thật sự của những biến dị này lên năng lực lây nhiễm hay mức độ nguy hiểm của Sars-CoV-2. Sự xuất hiện của chủng mới Anh, dường như có một tác dụng lên năng lực lan truyền của virus, có thể thay đổi tình thế, mặc dầu vấn đề chưa được giải quyết. ” Có hai lúc quan trọng trong tiến triển của Sars-CoV-2, Bruno Lina, chuyên gia virus học và thành viên của hội đồng khoa học, đã đánh giá như vậy. Lúc đầu tiên vào tháng hai-ba với sự xuất hiện của chủng D614, đã lan tràn nhanh hơn những chủng khác từ châu Âu (từ nay nó chiếm đa số trên thế giới). Rồi sự xuất hiện của virus đột biến được quan sát ở Anh, mang cùng một lượt 24 biến dị.” Vậy còn cần phải biết xem chủng mới này có thể có một ảnh hưởng lên sức khỏe của chúng ta và tính hiệu quả của các vaccin hay không.
ĐỒNG HỒ PHÂN TỬ
Dầu thế nào đi nữa, ” khi virus càng gặp những phòng vệ miễn dịch, nó sẽ càng buộc phải biến dị, Bruno Canard, giám đốc nghiên cứu CNRS ở đại học Aix-Marseille đã giải thích như vậy. Càng có những người được chữa lành hay những người được tiêm chủng, virus sẽ càng phải tiến hóa để tiếp tục lưu hành.”
Khảo sát những biến dị của virus không chỉ để nghiên cứu hiện tại và tương lai của nó. Những bộ génome này (mỗi bộ có khoảng 30.000 “mẫu tự”), cũng được sử dụng để đi ngược thời gian đến tận những nguồn gốc của virus. Thí dụ các nhà nghiên cứu của Université college để Londres đă tái tạo cây phả hệ(arbre généalogique) của Sars-CoV-2, mà họ đã có thể tạo lại bằng cách liệt kê những biến dị được ghi nhận suốt trong năm, để vạch lại lịch sử theo chiều ngược lại. ” Ta có được một đồng hồ phân tử cho phép tương quan thời gian với số những biến dị. Điều đó cho phép chúng ta đi ngược lên đến dòng của đại dịch này, tổ tiên chung của các virus được lấy mẫu “, François Jaloux mới đây đã giải thích như vậy. Theo những công trình của họ, virus được truyền lần đầu tiên cho người giữa 6/10 và 11/12/2019
(LE FIGARO 22/12/2020)

6. NHỮNG VACCIN À ARN VÀ HIỆU QUẢ MẶC DẦU NHỮNG BIẾN DỊ CỦA VIRUSSự khám phá biến thể mới của Sars-CoV-2, bị nghi là nguyên nhân của một đợt bộc phát của dịch bệnh ở miền đông nam của Anh đã gieo rắc nhiều lộn xộn trong toàn châu Âu, với một câu hỏi : phải chăng các vaccin sẽ vẫn hiệu quả mặc dầu những biến đổi này trong cấu trúc của virus ? May mắn thay, những yếu tố đầu tiên là khá tích cực.Theo những mô hình được phát triển trên các động vật, nhiều biến dị hiện diện trên biến thể mới này dường như không ngăn cản tác dụng của các kháng thể. Thật vậy, những biến dị gây lo ngại nhất (bởi vì chúng nằm ở một vùng chủ yếu của virus, protéine Spike) đã được quan sát ở các con chuột nhưng chúng không ảnh hưởng sự vận hành chức năng của hệ miễn dịch. Những yếu tố này đã được xác nhận ở người bởi một công trình nghiên cứu của Rockfeller University de New York, được công bố vào tháng 10 vừa rồi. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng ít nhất 3 loại kháng thể vẫn hiệu quả mặc dầu những biến dị này. Vậy đáp ứng miễn dịch gây nên bởi các vaccin của Pfizer hay của Moderna sẽ đủ ngay cả đối với biến thể mới Anh.
Ngoài ra, những dữ liệu khoa học, được công bố bởi các phòng thí nghiệm với 3 giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, cho những lý do khác để hy vọng : các vaccin sinh một đáp ứng miễn dịch hoàn toàn, ngoài các kháng thể. Miễn dịch là một quá trình phức tạp, trong đó các kháng thể chỉ là một bộ phận. Cơ thể phát triển một đáp ứng khác mà ta gọi là tế bào (immunité cellulaire) : các tế bào lympho T sẽ nhắm những tế bào bị nhiễm virus để trừ khử nó. Các tế bào lympho này hơi ít đặc hiệu hơn so với các kháng thể, bởi vì nó không chỉ nhắm một bộ phận duy nhất của virus.” Nó được giáo dục bởi vaccin để nhận biết trên tế bào bị nhiễm những mảnh của protéine S, vậy khả năng bảo vệ là lớn hơn so với các kháng thể “, Bruno Pitard, giám đốc nghiên cứu CNRS ở Centre de recherche en cancérologie et immunologie Nantes-Angers, đã giải thích như vậy. Vậy mặc dầu các biến dị của virus làm cho các kháng thể không hiệu quả, nhưng tế bào lympho T vẫn có thể phong bế virus ” Không có các kháng thể trung hòa, đáp ứng hơi chậm hơn và không ngăn cản sự xuất hiện của vài triệu chứng, giáo sư di truyền học ở University College de Londres François Balloux đã giải thích như vậy. Nhưng nó có thể đủ để ngăn cản những thể nặng.”
Biến thể Anh vậy không ảnh hưởng quá âm tính những vaccin đầu tiên. Những nguy cơ của một biến dị khá rộng, cũng có thể đóng một vai trò lên tính hiệu quả của những tế bào lympho T, vẫn là có thật. Tuy nhiên ông chủ của Pfizer, Ugur Sahin, tỏ ra làm an lòng : ông đã loan báo là ” về mặt kỹ thuật có khả năng sản xuất một vaccin mới trong 6 tuần”. ” Trên quan điểm kỹ thuật, thời hạn này là hoàn toàn khả tín, Bruno Pitard đã đánh giá như vậy. Đó là một trong những ưu điểm lớn của những vaccin à ARN, chúng rất uyển chuyển.” Nguyên tắc của những vaccin này là tiêm vào trong cơ thể của bệnh nhân một dây thông tin di truyền (un brin d’information génétique) ; một khi đi vào trong tế bào, chính thông tin di truyền này sẽ chế tạo protéine virale mà hệ miễn dịch phải học chống lại. Thông tin đi truyền này được chứa trong một capsule lipidique (một hòn mỡ rất nhỏ).” Nếu virus biến dị, chỉ cần biến đổi dây thông tin di truyền của capsule, Bruno Pitard đã nói như vậy. Brin d’information génétique được chứa là một mật mã, một chuỗi 4 mẫu tự. Đó là khá dễ thay đổi mật mã này một khi ta đã nhận diện những biến dị cần chống lại. Để cho một so sánh, điều đó cũng như là biến đổi màu của các ghế ngồi trong một nhà máy chế tạo xe hơi.
Thế mà, những biến đổi này cần thời gian ít hay nhiều tùy theo loại vaccin. Đối với những vaccin à ARN, sự chế tạo rất là nhanh và vaccin có thể được thích ứng theo dòng thời gian của một dịch bệnh. Nhưng đó không phải là trường hợp của những loại vaccin khác, như vaccin chống cúm : sự chế tạo nó, qua một loạt những quá trình không thể giảm bớt, đòi hỏi thời hạn nhiều tháng. Tỷ lệ hiệu quả không đều, và vài nam tỷ lệ này không vượt quá 20%.
Ta chưa biết virus của Covid-19 có hành xử như cúm khi biến dị thường xuyên, nhưng điều đó vẫn là một khả năng rất khả tín. Thế mà điều này nhất là khi sự tiêm chủng càng gia tăng virus sẽ chịu một sức ép chọn lọc ngày càng mạnh, như thế gia tăng khả năng xuất hiện những chủng biến dị. Một câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ : các phòng thí nghiệm có sẽ phải qua lại 3 giai đoạn thử nghiệm lâm sàng cho một vaccin được cập nhật, như họ thường phải làm như thế đối với một vaccin mới. Trong trường hợp cúm, vì vaccin tương đối an toàn, ta chỉ cần những khảo sát đơn giản về tính sinh miễn dịch (immunogénicité) (để kiểm tra đáp ứng miễn dịch) trên vài chục bệnh nhân. Đối với Sars-CoV-2, ” giai đoạn 1 về tính vô hại (innocuité) dường như không bắt buộc vì lẽ vaccin không thay đổi, Bruno Pitard đã đánh giá như vậy. Những giai đoạn 2 và 3 nhằm kiểm tra tính hiệu quả của virus, trước hết trên một số lượng nhỏ những người tình nguyện, rồi trên một tập hợp lớn hơn. Có thể rằng ta sẽ có thể bằng lòng với một quá trình tăng tốc, nhưng đó là sự lựa chọn của giới hữu trách”.
(LE FIGARO 28/12/2020)

7. COVID-19 : HY VỌNG MIỄN DỊCH NÀO ?
Thời gian và chất lượng của bảo vệ do nhiễm Sars-CoV-2 mang lại, hay có lẽ cũng do một vaccin, là những yếu tố sẽ quyết định hay không sự dai đẳng hay sự tái diễn của đại dịch. Những chìa khóa để hiểu.Nếu tính miễn dịch tỏ ra mạnh và bền lâu, đại dịch sẽ tự nó biến đi. Nếu tính miễn dịch yếu hay ít bền lâu, đại dịch sẽ tồn tại hay tái xuất hiện không dứt. Thách thức là ở đó !
Ở đây chúng ta nói về tính miễn dịch “thích ứng” (immunité adaptive), mà vai trò là bảo vệ cơ thể trong trường hợp lại bị tấn công bởi quân thù. Tính miễn dịch có hai dang, thể dịch (humoral) và tế bào (cellulaire), bổ sung nhau và cùng nhau hành động. Miễn dịch thể dịch (immunité humorale) chế tạo, từ những bạch cầu được gọi là những tế bào lympho B, những kháng thể (immunoglobuline), chủ yếu những IgM và IgG, trung hòa tác nhân gây bệnh. Miễn dịch tế bào (immunité cellulaire) làm can thiệp những bạch cầu khác, những tế bào lympho T, có thể là cytotoxique (CD8+), nghĩa là những tueur (chúng tiêu hủy những quân địch tấn công), hay régulateur (CD4+), điều hòa và chỉ đạo những tấn công của các CD8+
MIỄN DỊCH THỂ DỊCH GÂY NÊN BỞI VIRUS
Miễn dịch thể dịch (immunité humorale) hiện diện ở tất cả những người với Sars-CoV-2 dương tính, dầu họ có triệu chứng hay không, ngay tuần lễ thứ hai sau nhiễm virus. Những IgM (trong máu) và những IgA (trong những dịch tiết của ruột, của tuyến nước bọt, mucus và những chất dịch khác) xuất hiện trước tiên hết, tiếp theo bởi IgG, những kháng thể bền nhất và quan trọng nhất (75% của tất cả những kháng thể trung hòa). Chính cùng những immunoglobuline này mà những test huyết thanh, được thực hiện thường quy, nhận diện và định lượng. Những IgM, những chỉ dấu của một nhiễm virus mới xảy ra, suy giảm trong vài tuần. Những IgG, nhắm một cách đặc thù protéine Spike (chìa khóa của virus đi vào trong những tế bào của chúng ta), trung bình đạt đỉnh điểm sau 3 tuần. Sau đó chúng có thể tồn tại 3 tháng sau khi bệnh nhân lành bệnh (thường một thời gian ngắn hơn nhiều), đôi khi lâu hơn, hiếm khi trên 6 tháng. Một công trình nghiên cứu của King’s College de Londres ở 90 người bị nhiễm virus đã cho thấy rằng 65 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng, dưới 17% có những tỷ lệ kháng thể trung hòa còn hiệu quả. Trong thử nghiệm của Imperial College de Londres, đã trắc nghiệm 365.104 người trưởng thành người Anh, trong đó 17.567 dương tính, 26,5% của những người dương tính này không còn có IgG anti-Sars-CoV-2 nữa sau 3 tháng. Do đó ta sợ rằng, nếu nồng độ kháng thể sụt giảm trong chưa được 3 tháng, thì vaccin cũng vậy và đòi hỏi nhiều mũi tiêm nhắc lại. Nhưng đó là chưa kể đến miễn dịch tế bào (immunité cellulaire).
MIỄN DỊCH TẾ BÀO LIÊN KẾT VỚI SARS-CoV-2
Người ta đã báo cáo sự hiện hữu của một miễn dịch tế bào (immunité cellulaire) đáng kể được phát hiện ở 20 bệnh nhân được khám một cách tình cờ bởi Centers for Disease Control and Prevention, Atlanta. Sự hiện diện, một tháng sau khi bị lây nhiễm, của CD8+ và của một đáp ứng quan trọng CD4+ chống lại Sars-CoV-2 đã được báo cáo. Từ đó sự kiện này đã nhiều lần được xác nhận, nhất là bởi các Instituts d’immunologie et d’infectiologie de La Jolia, Californie, lần lượt được điều khiển bởi các giáo sư Alessandro Sette và Shane Crotty. Những nhà nghiên cứu này cho rằng tính phản ứng (réactivité) của các tế bào lympho T (CD4+, CD8+) là giai đoạn chủ yếu xác định tiến triển của bệnh. Nếu năng lực phản ứng là quá muộn và với một mức độ quá yếu (thường gặp ở những người già hơn là trẻ), virus gây những tổn hại quan trọng. Nếu tính phản ứng quá mãnh liệt, chính hệ miễn dịch trở nên tác nhân phá hủy. Nếu nó được thích ứng tốt, như trong đại đa số các trường hợp, sự chữa lành là nhanh chóng. Ở 50 bệnh nhân bị nhiễm, Sette và Crotty đã quan sát rằng những tế bào T phát triển một hay hai tuần sau nhiễm virus, đạt một cao điểm sau 4 tháng, sau đó giảm nhẹ và dậm chân tại chỗ sau tháng thứ sáu. Các tế bào lympho B cũng phát triễn giữa tháng thứ nhất và thứ sáu và dường như tồn tại sau đó, điều này là một tin vui bởi vì chúng là những tế bào sản xuất các kháng thể trong tương lai chống lại virus khi nó tái xuất hiện. Các nhà nghiên cứu của đại học Johns Hopkins, ở Baltimore (Maryland), đã có cùng chứng thực. Họ nhắc lại rằng trí nhớ của những tế bào miễn dịch này là rất lâu : người ta đã tìm thấy lại những tế bào T có trí nhớ về Sars-CoV-1, 17 năm sau lây nhiễm. Thí dụ khác : các tế bào lympho T đặc hiệu của bệnh đậu mùa biến mất 10 năm sau một nhiễm virus và những tế bào lympho B của virus này hơn 60 năm sau !
MIỄN DỊCH CÓ THỂ KÉO DÀI BAO LÂU ?
Tính miễn dịch tốt là tính miễn dịch trong đó các kích thích tố và tế bào được điều phối tốt, trong đó, như một đàn nhạc được hiệu chính tốt, chúng chơi ban dàn bè của mình trong một nhịp điệu đúng đắn và không lỗi nhịp. Trước hết những quân tấn công (các kháng thể, các tế bào T), sau đó những quân tuần tra (những tế bào B). Nếu không, người bị nhiễm dễ bị thương tổn. Có những IgG biến mất sau 3 tháng không chỉ một nguy cơ tái nhiễm : những tế bào B khi đó lưu hành nhưng không còn sinh kháng thể nữa nhưng có thể sản xuất chúng ngay khi cần. Hôm nay, ta biết rằng tính miễn dịch do một nhiễm bởi Sars-CoV-2 mang lại, nhờ đáp ứng tế bào, ít nhất 8 tháng. Trên thực tế, nó có thể nhiều năm, như tính miễn dịch chống Sars-CoV-1, chia sẻ 80% mật mã di truyền của nó với virus mới. Không có thí dụ được biết về tái nhiễm bởi Sars-CoV-1. Và những trường hợp rất hiếm, tổng cộng 15 trường hợp, tái nhiễm bởi Sars-CoV-2 được báo cáo trên thế giới vào lúc này (tất cả hiền tính) đã được gây nên bởi một chủng của virus khác với nhiễm nguyên thủy. Như thế vẫn lạc quan !
Đọc thêm :
– TSYH số 552 : bài số 8
– TSYH số 547 : bài số 3
– TSYH số 546 : bài số 5,6,7,8

8. COVID-19 : TẠI SAO CÁC PHỤ NỮ CÓ THAI CÓ NHIỀU NGUY CƠ HƠN ?Những bà mẹ tương lai lại được xem như một đối tượng dễ bị thương tổn (vulnérable), xác suất bị những biến chứng là quan trọng hơn vào tam cá nguyệt thứ ba của thai nghén.
OBSTÉTRIQUE. Ngay vào lúc đầu của dịch bệnh Covid-19, những phụ nữ có thai được xem như một nhom co nguy co, họ phải áp dụng nhiều biện pháp thận trọng hơn để bảo vệ chống lại virus. Do virus còn mới, rất ít có những dữ liệu về ảnh hưởng của một nhiễm bởi Sars-CoV-2 lên phụ nữ có thai hay em bé được sinh ra đời ;
Vì thế giới y khoa từ nay có nhiều thời gian nhìn lại hơn, nên các société savante Pháp và Hoa Kỳ vừa cập nhật những khuyến nghị của họ. Những khuyến nghị xác nhận rằng những phụ nữ có thai có một nguy cơ gia tăng bị những biến chứng so với những phụ nữ khác cùng lứa tuổi và có tình trạng sức khỏe có thể so sánh (những bệnh mãn tính, thể trọng…). Sau đợt phong tỏa đầu tiên, các bà mẹ tương lai đã được rút ra khỏi danh sách của những người dễ bị thương tổn đối với Covid-19 (có thể được hưởng một aménagement de poste hay thất nghiệp không hoàn toàn), nhưng rồi chính phủ lại đưa họ vào danh sách sau những khuyến nghị của các chuyên gia.
Theo một công trình nghiên cứu của CDC (agence américaine de santé publique), được thực hiện ở 462.000 phụ nữ dương tính với Covid, viec mang thai, gia tăng nguy cơ phải đưa vào ICU hơn 6 điểm (10,5 trường hợp trên 1000 so với 3,9 đối với những phụ nữ không mang thai) và nhân 2,6 lần xác suất bị nội thông khí quản (2,9 trường hợp trên 1000 so với 1,1 ở những phụ nữ không mang thai). Nguy cơ tử vong cũng cao hơn, nhưng rất nhẹ : 1,5 trường hợp trên 1000 so với 1,2 ở những phụ nữ không mang thai. Ngoài thai nghén, những phụ nữ có những yếu tố nguy cơ khác như cao huyết áp, bệnh béo phì, đái đường không do thai nghén (diabète non gestationnel) hay tuổi trên 35 là có khả năng hơn cần một hỗ trợ hô hấp.
” Nguy cơ cao nhất là vào tam ca nguyệt thứ ba của thai nghén “, GS Philippe Deruelle, trưởng pôle gynécologie, obstétrique et fertilité của các bệnh viện đại học Strasbourg đã nói rõ như vậy. Về phương diện sinh lý, thai nghén biến đổi trạng thái của phụ nữ : nhịp tim tăng tốc và những nhu cầu oxygène gia tăng, trong khi lúc lớn lên, tử cung ép ngực và nâng cơ hoành lên, điều này hạn chế những năng lực huyết quản và hô hấp.” Ngoài ra, ta biết rằng Sars-CoV-2 có một tropisme vasculaire. Vì lý do này, coronavirus gây những dạng tiền sản giật (prééclampsie), nghĩa là một loạn năng ở nhau thai. Ta cũng biết rằng virus gây những biến chứng tĩnh mạch, viêm tĩnh mạch (phlébite) và nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire).
” Đó không phải là để gây lo sợ mà là kêu gọi sự cảnh giac lớn nhất về những geste barrière, nhất là trong lãnh vực xã hội, bởi vì chính ở đó mà người ta nhiễm nhau nhiều nhất vào lúc này “, Philippe Deruelle nhấn mạnh như thế. Nguy cơ lây nhiễm cũng có thể biện minh cho một sự ngừng công tác vào tam cá nguyệt thứ ba, khi nghề nghiệp của bà mẹ tương lai khiến phải tiếp xúc những bệnh nhân hay nhiều đối tượng khác (soignante, serveuse, caissière…)
KHONG MOT BIẾN CHỨNG SẢN KHOA NAO
Sự phòng ngừa là chủ yếu bởi vì có rất ít điều trị hiệu quả chống lại những biến chứng nặng của Covid, lại còn ít hơn đối với những phụ nữ có thai. ” Nói chung, nếu bệnh nhân có một thể nặng của Covid vào tam cá nguyệt thứ ba, ta sẽ sinh non em bé bằng mổ lấy thai và ta điều trị người mẹ sau đó “, Philippe Deruelle đã giải thích như vậy. Nhờ thí nghiệm thu được trong những tháng qua, từ nay các thầy thuốc sản khoa lợi được một ít thời gian trước khi quyết định. ” Nguy cơ sinh non là có thật, như trong tất cả những nhiễm trùng, GS Pierre Kuhn, trưởng khoa médecine và hồi sức trẻ sơ sinh ở những bệnh viện đại học Strasbourg đã xác nhận như vậy. Ta còn thiếu những dữ liệu về tình trạng sức khỏe của các em bé sinh ra như thế, nhưng dường như rằng chúng được sinh ra cũng tốt như những trẻ em khác sinh ra vào cùng thời kỳ thai nghén vì một lý do khác.
Tuy nhien đừng hốt hoảng : nếu quả đúng có một sự khác nhau đáng kể giữa những phụ nữ có thai và những phụ nữ không có thai, CDC nhấn mạnh rằng theo trị số tuyệt đối nguy cơ vẫn tương đối thấp. ” Đó là 3 đến 4 ít hơn một người trên 60 tuổi “, Philippe Deruelle đã ghi chú như vậy. Nói chung Covid bị mắc phải trong thời kỳ thai nghén là tương đối hiền tính. Trong một công trình nghiên cứu được thực hiện trong 33 maternité, những triệu chứng thường được báo cáo nhất là : ho, sốt, mất khứu giác, khó thở và ỉa chảy. Một bài báo của Đan Mạch được công bố trong Obstetrics và Gynecology đã không quản sát thấy một biến chứng sản khoa hay sơ sinh nào trong trường hợp người mẹ bị nhiễm nhẹ vào cuối tam cá nguyệt thứ hai hay trong tam cá nguyệt thứ ba. Một công trình nghiên cứu khác được tiến hành ở Đan Macht trên hon 1000 phụ nữ, kết luận, trong Human Reproduction, rằng phát triển một thể nhẹ hay vừa phải của Covid (không nhập viện) trong tam cá nguyệt thứ nhất không gia tăng nguy cơ sẩy thai cũng như xác suất bị những bất thường nhiễm sắc thế.
(LE FIGARO 30/11/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 539 : bài số 10

9. COVID-19 : TIÊN ĐOÁN NHỮNG THỂ NẶNG
Sự phát hiện sớm những dạng có nguy cơ rất cao là một thách thức mà thế giới y khoa cố nhận lời.Mục đích : thiết đặt một cách nhanh chóng những điều trị nhằm ngăn ngừa chúng để đổi hướng đường cong của những tử vong.
Những tiến bộ, được thực hiện trong điều trị những bệnh nhân bị những thể nặng của Covid-19, đã cho phép làm giảm một nửa tỷ lệ tử vong ở ICU so với vào đầu đại dịch (tháng hai-tư 2020). Sự sử dụng các corticoide, các thuốc chống đông và oxy liệu pháp lưu lượng cao bằng đường mũi, lúc đầu không được khuyến nghi, đã góp phần lớn vào sự cải thiện này. Nhưng còn có thể làm tốt hơn bằng cách nhận diện sớm, ngay những giờ đầu nhập viện, những bệnh nhân khả dĩ nhất bị suy sụp một cách nhanh chóng và chuyển thành những thể nặng. Nhiều phương pháp tiên đoán, sinh học hay X quang mới đây đã được đề nghị.
NHỮNG CHỈ DẤU SINH HỌC
Một nhóm 25 nhà nghiên cứu Pháp, thành viên của Gustave-Roussy, ở Inserm và đại học Paris-Saclay (Aymeric Silvin Eric Solary) cũng như ở Assistance publique-Hôpitaux de Paris (giáo sư Michaela Fontenay), cũng làm việc ở Trung Quốc, ở Israel và ở Singapour, đã nhận diện những chỉ dấu trong máu về mức độ nghiêm trọng, dễ phát hiện. Công trình nghiên cứu của họ, được công bố 17/9/2020 trong tạp chí uy tín “Cell”, dựa trên sự phân tích những mẫu nghiệm máu phát xuất từ 158 người đến khoa cấp cứu vì nghi Covid-19. Từ đó suy ra rằng vài tế bào bạch cầu chưa thành thục (bị phong bế ở một giai đoạn của sự phát triển của chúng), thuộc về một dòng các tế bào được gọi là “myéloide” (nghĩa là chúng sinh ra trong tủy xương), tích tụ quá mức trong những thể nặng. Thế mà bất hạnh thay những tế bào bất thường này có khả năng ức chế hệ miễn dịch, nhất là những tế bào lympho T. Vì lý do này chúng được gọi là “cellules myéloides suppressives”. Sự hiện hữu của chúng, được biết từ 20 năm qua, trước hết được phát hiện ở những bệnh nhân bị ung thư, trước khi được phát hiện trong những bệnh khác.Vai trò chức năng âm tính của chúng lên tính miễn dịch chỉ được hiểu từ ít lâu nay.Trong những thể nặng của Covid-19, ta tìm thấy chúng trong máu và phổi. Một cách song hành, các nhà nghiên cứu đã quan sát rằng một protéine được gọi là “calprotectine”, dồi dào trong các bạch cầu và được phóng thích trong máu trong trường hợp viêm, hiện diện ở những bệnh nhân bị thể nặng 100 đến 1000 lần nhiều hơn so với những bệnh nhân thể nhẹ và trung bình. Aymeric Silvin, tác giả đầu tiên của những công trình này, đã định rõ rằng protéine này là một yếu tố làm dễ những huyết khối mạch máu (thrombose vasculaire), kích hoạt emballement inflammatoire cũng như sự suy giảm miễn dịch. Nó có thể được phát hiện dễ dàng và có thể định lượng.
Một tham số khác, ít phức tạp hơn nhưng rất dễ sử dụng thường quy, là sự theo dõi sát “protéine C réactive” (CRP), được cho thử trong hầu hết tất cả những bilan máu và là một chỉ dấu không đặc hiệu của viêm. Ở 100 bệnh nhân Covid-19 dương tính, một công trình nghiên cứu ở Hoa Kỳ (Boston) đã quan sát rằng giữa 24 giờ sau khi nhập viện và 72 giờ, nồng độ của CRP trước hết tăng lên một cách nhanh chóng. Trong những thể nhẹ, nó ổn định nhanh hay ngay cả xuống lại, trong khi nó chỉ gia tăng ở những người bị suy sụp. Nói một cách khác, profil tiến triển trong thời gian ngắn hạn của nồng độ CRP để tiên đoán một sự trầm trọng đang diễn biến hay không.
NHỮNG CHỈ DẤU X QUANG LIÊN KẾT VỚI IA
Các thầy thuốc và những nhà nghiên cứu của Gustave-Roussy, của Assistance publique-Hôpitaux de Paris, của CentraleSupélec, của đại học Paris, của đại học Paris-Saclay, của Inserm, của Inria và của société TheraParacea đã có thể, trong một công trình nghiên cứu ở 478 bệnh nhân Covid-19 dương tính, trong đó 118 thể nặng, xây dựng một algorithme prédictif cho những thể nặng này. Để được như vậy, họ đã phối hợp, bằng cách sử dụng IA (intelligence artificielle), những tiêu chuẩn chụp hình ảnh (scanner phát hiện những hình ảnh của phổi en verre dépoli, đặc trưng của nhiễm corona) với những dữ liệu lâm sàng, tim, phổi, cũng liên kết với tuổi tác và giới tính. Kết quả : logiciel cho phép đánh giá một cách nhanh chóng mức độ nghiêm trọng của nhiễm virus, tiên lượng trong thời gian ngắn hạn và sau đó nhận diện những bệnh nhân có thể cần phải hỗ trợ hô hấp và hồi sức. Khi đó có thể tiến hành một cách nhanh chóng một trí liệu để tránh điều đó (corticoides, những thuốc chống đóng liều mạnh, oxy liệu pháp lưu lượng rất cao…)
NHỮNG NGƯỜI DỄ THƯƠNG TỔN
Họ là những người có nguy cơ nhất bị những thể nặng. Đó là những người có : 1. 65 tuổi và hơn. 2. Những tiền sử tim- mạch (tai biến mạch máu não, những bệnh động mạch vành, suy tim tiến triển, cao huyết áp kém kiểm soát). 3. Bệnh đái đường kiểm soát kém. 4. Bị một bệnh hô hấp mãn tính (hen phế quản nặng, viêm phế quản mãn tính, xơ hóa phổi, mucoviscidose). 5. Suy thận đang được dialyse. 6. Một ung thư tiến triển. 7. Tam cá nguyệt thứ ba của thai nghén. 8. Béo phì mà chỉ số khối lượng cơ thể trên 30.
Ở những người này có phải mặc nhiên tiến hành một chiến lược phòng ngừa những thể nặng, dầu chúng có hay không những signe prédictif ? Cuộc tranh luận được bỏ ngỏ.
(PARIS MATCH 17/12-23/12/2020)

10. NHỮNG THỂ NẶNG : ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ
Những trường hợp nặng tiến triển thành hai giai đoạn : giai đoạn đầu (7 hay 8 ngày) được đánh dấu bởi những triệu chứng giả cúm (symptomes pseudogrippaux), tiếp theo trong 24 giờ bởi một sự trầm trọng buộc phải chuyển vào ICU. Khi đó, ngoài hỗ trợ thông khí (assistance ventilatoire), hai loại thuốc đã chứng tỏ một tính hiệu quả thật sự.
1. CORTICOIDES. Được biết có tác dụng làm suy giảm những phòng vệ miễn dịch và gia tăng nguy cơ những bội nhiễm, vì vậy vào giai đoạn đầu của đại dịch, giới hữu trách của các nước khuyên không được sử dụng corticoides. Nhưng sự dữ dội của orage inflammatoire gây nên bởi virus đã biện minh cho việc thử nghiệm chúng. OMS đã tập hợp trong một méta-analyse những tác dụng của corticoides lên 1703 bệnh nhân, từ 7 thử nghiệm randomisé của 12 nước. 3 corticoide (dexaméthasone, hydrocortisone và méthylprednisolone), sau một tháng, trung bình làm giảm 30% tỷ lệ tử vong của những thể nặng, nhiều hơn ở những bệnh nhận được nội thông khí quản (nguy cơ cao nhất) so với những người chỉ nhận oxygène. Ngoại trừ những trường hợp này, corticoides không được chỉ định.
2. NHỮNG THUỐC CHỐNG ĐÔNG MÁU (HÉPARINE)
Những thuốc chống đông máu (anticoagulant) chống lại những huyết khối động và tĩnh mạch (thromboses artérielles et veineuses) gây nên bởi virus. Bằng những liều cao, chúng làm giảm một cách đáng kể những nguy cơ tử vong do nghẽn tắc động mạch phổi, nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não.
Với sự sử dụng phối hợp của những thuốc này, tỷ lệ tử vong ở ICU đã được giảm 50% so với đỉnh dịch. Trong khung cảnh điều trị rất đơn giản này, ta không hiểu remdesivir của Gilead dùng vào việc gì. Còn về những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) ức chế những chất hướng viêm (substances pro-inflammatoires) được gọi là interleukine (IL-6 và IL-1), chúng cho những kết quả mâu thuẫn đối với anti-IL-6, phấn khởi đối với anakinra (anti-IL-1) nhưng trên một số nhỏ bệnh nhân. Đắt hơn corticcoide, ta chờ đợi bằng cớ chứng tỏ rằng rằng những kháng thể đơn dòng có thể hiệu quả hơn.
(PARIS MATCH 5-11 NOVEMBRE 2020)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(3/1/2021)

Bài này đã được đăng trong Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

4 Responses to Thời sự y học số 566 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 569 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 571 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 575 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  4. Pingback: Thời sự y học số 576 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s