Thời sự y học số 546 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BỈ : GIỞ BỎ CÁCH LY DẦN DẦN VÀ RẤT THẬN TRỌNG
Chính phủ Bỉ đã thành lập một nhóm công tác (groupe de travail) để nghiên cứu một kịch bản giở bỏ dần dần những biện pháp cách ly (mesures de confinement). Mục tiêu : tránh một làn sóng lây nhiễm thứ hai (deuxième vague de contaminations).Hãy đứng vững hơn bao giờ hết. ” 3 tuần sau khi loan báo những biện pháp hạn chế (mesure de restriction) đầu tiên, thủ tướng Sophie Wilmès đã ngõ lời với dân chúng Bỉ trong một vidéo, nhấn mạnh những dấu hiệu đầu tiên của những hiệu quả của biện pháp phong tỏa. Đó là sự giam hãm, sự phân tích bệnh hàng ngày và nỗi lo lắng của cuộc khủng hoảng kinh tế phải đến đè nặng lên dân chúng. Và câu hỏi này ngày càng thúc bách : làm sao thoát cách ly ?Tuần qua thủ tướng Bỉ Sophie Wilmès đã xác nhận thành lập một nhóm công tacn gồm những nhân vật của giới khoa học và kinh tế, có nhiệm vụ nghiên cứu sự giở bỏ phong tỏa, theo dự kiến đến 19/4, rồi kéo dài đến 3/5. Các chuyên gia sẽ có công tác gay go là dung hòa những đôi hỏi cấp bách đối kháng, giở bỏ những hạn chế chuyển động đồng thời kềm hãm sự lan tràn của virus, cho một phương trình với 1000 ẩn số.Thủ tướng Sophie Wilmès đã ngõ lời với dân chúng qua 5 điểm :
Điểm 1 : ” Chúng ta phải đứng vững.” “Tôi tin vào khả năng liên đới của chúng ta.” Bằng những chữ này, bà thiết tha cám ơn dân chúng “làm tốt công việc”, và đồng thời cảnh báo ” không phải là chấm hết “. Những loan báo của những tuần sắp đến sẽ còn rất mệt nhọc ”
Điểm 2 : Chúng ta phải tiếp tục tôn trọng những quy tắc, và những mệnh lệnh của những service de police của chúng ta. Police ở đó để bảo vệ chúng ta, chứ không phải quấy nhiễu chúng ta
Điểm 3 : ” Mặc dầu sức khỏe của các công dân vẫn là ưu tiên, nhưng chúng ta không thể xoay lưng với những hậu quả xã hội-kinh tế. ” Vậy hướng làm việc đầu tiên vẫn là những săn sóc y tế (soins de santé) và chính phủ ra sức cung ứng vật dụng cần thiết.
Điểm 4 : Hướng làm việc thứ hai là xã hội-kinh tế, vì lẽ những hậu qau nghiêm trọng mà cuộc khủng hoảng nghiêm trọng này sẽ gây nên một cách nhanh chóng. Vậy sẽ có một trước (avant) và sau (après) của cơn khủng hoảng
Điểm 5 : ” Chúng ta phải chuẩn bị đất nước cho sự chuyển tiếp. Sự trở lại cuộc sống bình thường sẽ được thực hiện dần dần.” Sự chuyển tiếp sẽ không là đơn giản ; ta không thể mở lại tất cả cùng một lúc
1. Tại sao giờ bỏ cách ly trong khi dịch bệnh vẫn tiếp diễn ?
Trong một kịch bản lý tưởng, sự phong tỏa (confinement) sẽ chấm dứt với sự biến mất của virus. Điều này trên lý thuyết là điều có thể : vì không tìm ra những người mới để gây nhiễm do sự cách ly các cá nhân, virus sẽ dần dần biến mất. Khi đó, toàn thể dân chúng có thể tiếp tục một hoạt động bình thường.” Trừ phi một kịch bản như thế xảy ra trong nhiều tháng”, Jean-Philipp Platteau, professeur émérite d’économie ở UNamur đã nhấn mạnh như vậy.” Cho đến nay, cuộc tranh luận được hướng về sự chống lại bệnh, và đó là điều bình thường. Nhưng không nên quên phí tổn của sự phong tỏa , đã được đánh giá 2,5 tỷ mỗi tuần. Nếu điều đó sẽ tiếp tục cho đến cuối năm, ta sẽ có một sự giảm dần 27% của PIB. Không thể chịu được trên bình diện kinh tế cũng như xã hội. Đó là chưa kể sự suy thoái kinh tế sẽ có một tác động trực tiếp lên ngân sách của hệ thống y tế. Và do đó lên khả năng đạt mục tiêu y tế.
Hạn chế khác đối với kịch bản của một sự trừ tiệt hoàn toàn virus : quy mô thế giới của đại dịch. Ta đã nói điều đó : chiến lược phong tỏa (stratégie de confinement) không nhằm ngăn cản dịch bệnh mà để “làm dẹt đường cong dịch bệnh” (aplatir la courbe), nghĩa là làm cho số lượng bệnh nhân cần điều trị không vượt quá khả năng bệnh viện (capacité hospitalière). Ý tưởng là tránh một surmortalité do một sự thiếu sót trong điều trị với những thầy thuốc buộc phải “chọn lựa” để chết những bệnh nhân nào (điều đã xảy ra ở Ý). Sự tiến triển của những nhập viện khiến nghĩ rằng sự phong tỏa của Bỉ là có hiệu quả.
Nhưng chính bởi vì biện pháp phong tỏa này giữ các cá thể trong một tình trạng cô lập với nhau, nên sự giam hãm (confinement) này ngăn cản sự lan tràn của virus và, đồng thời, ngăn cản sự tạo thành miễn dịch tập thể (immunité collective), không có nó dịch bệnh không thể ngừng lại nếu không có vaccin thích đáng. Trong kịch bản của một sự thoát cách ly hoàn toàn (sortie totale de confinement), như thế dân chúng sẽ rất dễ bị thương tổn (vulnérable) trong trường hợp virus trở lại từ nước ngoài. Điều này chắc chắn xảy đến trong một xã hội toàn cầu hóa (société mondialisée). Những nước châu Á, sau khi đã thành công chế ngự căn bệnh, đúng là đang đối đầu với một sự đe dọa của làn sóng dịch mới, được gây nên bởi những nhiễm nhập cảnh từ những ổ dịch châu Âu.
2. Làm sao thoát khỏi cách ly mà không gây nên một làn sóng dịch thứ hai ?
Từ lúc bắt đầu cuộc khủng hoảng, OMS đã đưa ra vô số những khuyến nghị, đi từ quản lý quốc gia của sự phòng ngừa đến việc mang khẩu trang. Nhưng mặc dầu một nửa hành tinh bị phong tỏa, không có một đường lối nào về chiến lược giở bỏ những biện pháp. ” Vấn đề được tranh luận nhiều và những khuyến nghị sẽ đến, nhưng phải hiểu rằng tất cả mọi người đều đang thí nghiệm”, Sonja Olsen, chuyên gia dịch tễ học của OMS đã nói như vậy. ” Trên lý thuyết, tốt nhất là chờ đợi tỷ lệ sinh sản (taux de reproduction) dưới 1 (R<1) để bắt đầu giở bỏ dần dần những biện pháp, nhưng nhiều nước không thể đợi cho đến lúc đó. Phải tìm sự cân bằng giữa những nhu cầu y tế và điều mà xã hội có thể chịu được.”
Tất cả thách thức của một sự thoát cách ly là đưa người ta vào hoạt động trở lại, đồng thời giữ một sự kiểm soát tối đa trên dịch bệnh. Không như thế, lại phải tiếp tục một cách nhanh chóng những biện pháp phong tỏa, với một jeu d’allers-retours nhằm tránh bảo hòa các bệnh viện một khi những con số bắt đầu lên cao trở lại. Theo sự điều biến (modélisation), được thực hiện bởi Imperial College de Londres, kịch bản của một sự phong tỏa từng lúc (confinement intermittent) như thế có nghĩa là phải trải qua 2/3 thời gian giam hãm cho đến khi có một vaccin (từ nay đến 15-18 tháng nữa)
3. Làm sao kiểm soát ?
Các chuyên gia của OMS đều nhất trí về sự cần thiết phải có một cái nhìn tốt hơn về mức độ thật sự của dịch bệnh, bằng cách trắc nghiệm ồ ạt dân chúng. Mục đích là tránh không để cho những người bị nhiễm (đôi khi không triệu chứng) thoát khỏi cách ly. Do đó sự cần thiết của các bộ xét nghiệm. Nếu không có khả năng này, ta sẽ trở lại tình hình như vào 10/3 bằng cách mở lại hoạt động dần dần, nhưng đồng thời chấp nhận rằng căn bệnh tiếp tục lan tràn với những bệnh viện dưới áp lực. Nếu ta thấy được phần chìm của iceberg, ta có thể thực hiện một chiến lược “tracking” nhắm đích hơn bằng cách tìm kiếm những người tiếp xúc (contacts) với những người corona dương tính để buộc họ thực hiện một quarantaine, Sophie Vanwambeke (UCLouvain), chuyên gia về épidémiologie spatiale, đã nói rõ như vậy.
Một cách cụ thể, đó là trắc nghiệm dần dần dân chúng bằng cách bắt đầu những khu vực thiết yếu (điều trị, thực phẩm, vận chuyển, an ninh) để mở rộng dần dần đến những hoạt động khác. Có thể làm việc tại nhà (télétravail) đối với những công việc không ưu tiên. Một nhóm các chuyên gia Bỉ đã trình bày một mô hình, phối hợp những test cổ điển (PCR), cho phép biết người được trắc nghiệm có bị nhiễm hay không, với những test huyết thanh (test sérologique) xác định xem người đó đã phát triển những kháng thể hay không. Những người được miễn dịch (test huyết thanh dương tính) và những người không mắc phải virus (test PCR âm tính) có thể làm việc trở lại, những người khác vẫn phải được quarantaine, cũng như những bà con thân thuộc của họ, cho đến khi một trắc nghiệm mới cho thấy rằng họ không còn mang virus nữa. Phải ghi chú rằng những chuyên gia khuyến nghị rằng những người được miễn dịch cũng phải được đặt quarantaine trong trường hợp một người thân bị bệnh. Ở đây đó là tiến tới với một ẩn số quan trọng : ta không biết một cách chính xác sự miễn dịch kéo dài bao lâu, cũng như không biết sự miễn dịch này có ngăn cản hoàn toàn để không bị mang virus lần nữa. Chính trách nhiệm của nhóm công tác và của chính phủ quyết định những khu vực nào sẽ được ưu tiên ra khỏi cách ly. Nhiều chuyên gia đưa ra đề nghị mở lại trường học khá nhanh.
Hệ luận của kịch bản này : sự cần thiết phát triển ồ ạt các bộ xét nghiệm để đưa vào sử dụng. Ngay tuần này (6/4), Bỉ sẽ có khả năng xét nghiệm 10.000 mẫu nghiệm mỗi ngày. Một con số mà chính phủ hy vọng thấy tăng gấp đôi vào tuần tới. Mục tiêu là 40.000 test mỗi ngày. Điều này cần một logistique quan trọng hơn nhiều.Thách thức hậu cần khác là “tracking”. Sự giở bỏ dần dần sự phong tỏa không phải xảy ra ngay ngày hôm sau, mà với điều kiện những con số nhập viện phải hạ một cách đáng kể, các chuyên gia đã đánh giá như vậy, để cho những trường hợp dương tính có thể được truy tìm từng cá nhân.” Traçage (tracking) sẽ cần những nguồn nhân lực đáng kể. Đó không phải là một khía cạnh tầm thường”, Sophie Vanwambeke đã nhấn mạnh như vậy. ” Khả năng kiểm soát dịch của chúng ta sẽ tùy thuộc vào những phương tiện sẵn có. Nếu hôm nay người ta hỏi ai đó những người nào mà anh ta đã tiếp xúc trong 10 ngày qua, điều đó sẽ là dễ dàng. Nhưng một khi ta lấy lại một lối sống bình thường, điều đó thể hiện một thể tích quan trọng, giữa những người mà anh gặp trong nơi làm việc của anh, trong vận chuyển công cộng, những tiệm buôn…” Một sự giúp đỡ kỹ thuật công nghệ có thể dẫn từ những dữ liệu GSM, cho phép không những vạch lại tất cả những sự di chuyển của một người bị nhiễm, mà đồng thời nhận diện tất cả những sở hữu chủ của GSM bị tiếp xúc. Vương quốc Anh đang phát triển một application cho phép nhận một báo động nếu ta hiện diện trước một người lây nhiễm. Như thế, thay thế cho sự cách ly toàn thể (confinement généralisé) là những quarantaine cá nhân, thậm chí những cách ly rất khu trú (confinement localisé) trong trường hợp tái tục hoạt động.
4. Còn những người có nguy cơ (populations vulnérables)
Góc chết (angle mort) của những kịch bản thoát cách ly (sortie de confinement), những quần thể có nguy cơ (populations à risques), bởi vì họ phải được bảo vệ, được giam hãm ở nhà. Thế mà, với một dịch bệnh có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí hơn một năm, ngay cả được chế ngự, sự duy trì giam hãm có thể trở nên rất có vấn đề. Chính cũng vì điều đó mà nhân viên của các nhà dưỡng lão phải thuộc về những nhóm ưu tiên, phải nới lỏng soupape đối với những người cần nhất “, Simon Dellicour đã giải thích như vậy.” Sự việc những người già bị phong tỏa suốt ngày trong phòng của họ rõ ràng là một vấn đề.
(LE SOIR 6/4/2020)

2/ BỈ : ” SỰ GIỞ BỎ CÁCH LY NGÀY 19 THÁNG TƯ ? ĐÓ LÀ QUÁ SỚM “Sau vài tuần chung sống với Covid-19, bây giờ chúng ta nói về “tin vui” khi ta quan sát rằng nước Bỉ duy trì ở mức dưới 500 nhập viện mỗi ngày.Chỉ mới cách nay vài tuần, ai tin được điều đó có thể ? Dĩ nhiên ta hiểu thông điệp mà các nhà khoa học gởi cho chúng ta.Với những biểu đồ và những phân tích các đường cong dịch bệnh của họ, các nhà khoa học yêu cầu chúng ta đừng giới hạn tầm nhìn của chúng ta chỉ vào những hình ảnh không chịu đựng được của những người đồng loại của chúng ta nằm sấp, bị nội thông khí quản, trong tình trạng nguy hiểm tính mạng. Một đường cong ổn định, đó là hy vọng nảy sinh.
Marius Gilbert : Cách mà ta nói về điều mà chúng ta đang trải nghiệm là một thách thức chủ yếu. Thật vậy, ta phải chú ý đừng hạ thấp những tình huống được trải nghiệm bởi những người ở sau những con số này, mà ta thông báo hàng ngày. Nói thế, tôi không khó chịu với điều đang xảy ra, trong chừng mực những thông báo của các nhà khoa học được bổ sung trong truyền thông bởi những lời chứng của các bệnh nhân và của những gia đình bị ảnh hưởng bởi virus, bởi những khả năng tỏ bày dành cho nhân viên điều trị, đang ra sức để cứu những mạng người trong những điều kiện nguy hiểm. Công tác thông tin về điều đang thật sự xảy ra trên hiện trường là một đóng góp không thể thiếu được của báo chí. Chắc chắn nó không được dừng lại, bởi vì nếu ta bằng lòng với một phương pháp thống kê, sẽ có một nguy cơ thật sự tách rời với thực tế. Nhưng điều ngược lại cũng đúng : nếu ta chỉ thấy cơn khủng hoảng qua những trường hợp được trải nghiệm, trường hợp này bi thảm hơn trường hợp khác, ta sẽ tạo một bầu không khí tận thế. Những con số và những phân tích cho chúng ta khả năng dự kiến trong thời gian, xem xét những chiến lược, thấy một ánh sáng khả dĩ cuối đường hầm. Tóm tắt, chúng cho hy vọng dựa trên những lý luận hợp lý và cho phép chống lại sự sợ hãi. Dĩ nhiên, tất cả là một vấn đề cân bằng : nếu những mô hình toán học (modèle mathématique) loan báo một sự cải thiện, điều đó không được dẫn đến một bài diễn văn quá tự tin vào thắng lợi, một sự quảng cáo các “tin tốt lành” (une propagande de bonnes nouvelles) dẫn đến một sự nới lỏng trong xă hội. Nói thật, khi ta nói một dịch bệnh đang diễn biến, tất cả cảc chữ đều quan trọng, bởi vì chúng ảnh hưởng lên sự tuân thủ của xã hội vào những biện pháp tập thể, cần thiết để ngăn chặn sự lan tràn của virus
Hỏi : Thông báo dịch bệnh bulletin de l’épidémie) là gì ?
Marius Gilbert : Ta quan sát một sự giảm của tỷ lệ đến trong các bệnh viện của những bệnh nhân mới Covid-19 và sự giảm này phải được tiếp tục tuần đến. Vậy đó là một “tin vui”, nhưng dầu sao nó phải tức thời được khung cảnh hóa (contextualisé) : đó chưa phải là lúc hạ cảnh giác trước virus, bởi vì điều đó có thể làm nguy hiểm những cố gắng được thực hiện từ giữa tháng ba ở Bỉ.
Hỏi : Phải chăng ta có thể hoàn toàn tin vào những dữ liệu hiện nay về số lượng những nhập viện ? Thật vậy, những lời chứng khiến nghĩ rằng trong những tuần qua, những người già có những triệu chứng của một nhiễm virus corona, đã phải tiếp tục lưu lại trong nhà dưỡng lão, chết ở đó không được chuyển đến bệnh viện và không được đưa vào thống kê. Ở Bỉ, phải chăng ta làm một sàng lọc những bệnh nhân mà không nói điều đó một cách chính thức, loại bỏ những người già nhất khỏi một tiếp cận điều trị ở bệnh viện ?Marius Gilbert : Tôi đã nghe những lời chứng theo chiều hướng này trong truyền thông. Tôi chỉ có thể phát biểu về vấn đề này qua những dữ liệu số mà tôi có về tuổi của những người nằm trong đơn vị điều trị tăng cường (ICU). Những con số này cho thấy rằng về mặt tử vong, tỷ lệ những người già là hằng định từ lúc đầu của cuộc khủng hoảng. Ngoài những trường hợp liên quan với dịch bệnh hiện nay, sự việc những người già của nhà dưỡng lão chết mà không qua bệnh viện là tương đối thường xảy ra.Phải thật sự tin vào các thầy thuốc. Đó không phải là những người vô nhân, tự nhủ rằng ta có thể để cho chết những người già nhất.Tuy nhiên, những người mà ta đặt máy thở ở đơn vị điều trị tăng cường có những cơ may sống sót thấp. Đó là khoảng 50%, tất cả các lứa tuổi đổ đồng, nếu ta dẫn những dữ liệu được đưa ra bởi những người trung quốc và được kiểm tra ở những nơi khác.Vậy phải hiểu rằng đối với những người già bị những bệnh tiềm năng (comorbidité), việc đặt máy thở ở đơn vị điều trị tăng cường dĩ nhiên là đối tượng của một sự phân tích của kíp điều trị. Nhưng tuổi tác không phải là tiêu chuẩn chủ chốt : các thầy thuốc đánh giá tính hữu ích của việc thực hiện một điều trị nào đó tùy theo tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Chính đó là những yếu tố phải được xét đến trong quyết định nhập viện, thậm chí trong việc chuyển đến đơn vị điều trị tăng cường.
Hỏi : Tuy nói vậy, sự lan tràn của virus trong những nhà dưỡng lão là càng ngày càng đáng quan ngại.
Marius Gilbert : Tuy nhiên ta đã thực hiện khá sớm những biện pháp trong khu vực này, nhưng những khả năng thực hiện các xét nghiệm (tests) là quá bị thu giảm nên chúng không thể được dành trước hết cho những bệnh nhân bị những biến chứng nặng và nhân viên điều trị. Tránh một tỷ lệ nhiễm quá quan trọng trong các bệnh viện đã được đánh giá là ưu tiên. Từ nay, những khả năng thực hiện các xét nghiệm gia tăng. Ta sẽ mở rộng các test cho nhân viên tuyến hai, và nhất là những người làm việc trong các nhà dưỡng lão. Thêm vào những khó khăn ban đầu này, phải nhắc lại điều đó, là sự không thể cung ứng vật dụng dụng bảo vệ (matériel de protection) đủ. Ta luôn luôn trở lại cũng những điều chứng thực này, chúng đã có những hậu quả quan trọng lên mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh ở Bỉ : ta đã bị bất ngờ đối với những xét nghiệm chẩn đoán (test de diagnostic) và những trang bị bảo vệ (équipement de protection) cũng như những khẩu trang và những blouse.
Hỏi : Ta trả giá rất đắt cho sự không lo xa này. Dưới ánh sáng của điều xảy ra trong những nước như Nam Hàn, Đức hay Đài loan, ở đây người ta đã tỏ ra có khả năng hành động hiệu quả hơn với những dự trữ y tế (stock sanitaire) đủ. Giới hữu trách Bỉ đã quá bất cẩn, điều đó há không rõ ràng hay sao ?Marius Gilbert : Tôi đồng ý rằng ta trả giá cho sự không dự liệu này. Đồng thời, phải uyển chuyển lời nói này, không so sánh chúng ta với hai hay ba nước đã thành công hơn chúng ta trong việc chống lại dịch bệnh này. Ở Ý và ở Tây Ban Nha sự thiếu lo xa chắc chắn đã là quan trọng hơn. Và sự thiếu lo xa ở Bỉ co cùng cấp độ như ở Pháp, Vương Quốc Anh và Hòa Lan. Trong cuộc nói chuyện trước, tôi đã nói về một lúc do dự, vào cuối tháng hai, ở Bỉ, khi lấy quyết định. Nhưng ở châu Âu, chúng ta không hề là một trường hợp duy nhất. Ngoài ra, sự kiện ta đã không cấp nhật hóa kế hoạch đại dịch (plan pandémique) ở Bỉ phải được đánh giá trong một bối cảnh nào đó.
Hỏi : Như là ?
Marius Gilbert : Vào lúc dịnh cúm H1N1 vào năm 2009, giới hữu trách y tế của nhiều nước châu Âu đã khởi động cả một kế hoạch đại dịch (plan pandémie). Chung cục, họ đã bị chỉ trích vì đã tỏ ra quá gây lo sợ. Virus đã phát sinh ở Mễ Tây Cơ với những con số lan tràn và tử vong rất gây quan ngại. Do đó nhiều nước đã huy động để mua nhiều khẩu trang và một đối tác với lãnh vực tư nhân được tổ chức để thiết đặt những kế hoạch tiêm chủng đại trà. Khi đại dịch đến ở đất nước chúng ta, ta đã nhận thức rằng virus ít hung dữ hơn nhiều điều mà ta sợ lúc ban đầu. Cả một chiến lược đã được thiết đặt, kể cả sự tiêm chủng đại trà, nhưng sau đó đã lại rơi xuống như một chiếc bánh phồng. Roselyne Bachelot, Bộ trưởng y tế Pháp vào thời đó, đã bị chỉ trích vì một sự quản lý được đánh giá là bi quan, tốn kém và pro-vaccin.
Hỏi : Hay đôi khi sự tiên liệu (anticipation) cũng được xem như là sự vội vàng ?
Marius Gilbert : Thật vậy, về mặt đó, phải nhắc lại rằng những dữ liệu của lúc đầu dịch bệnh H1N1 năm 2009 là khá gần với những dữ liệu của lúc đầu dịch bệnh Covid-19 năm 2020 : nhiều người chết trong một nước xa xăm. Thế mà, ta biết rằng vào lúc đầu của một dịch bệnh, tỷ lệ tử vong là luôn luôn quan trọng hơn, bởi vì ta chỉ phát hiện những trường hợp nặng nhất và ta không có thông tin về những trường hợp hiền tính nhất. Các chuyên gia đã có thể tin rằng, cũng như H1N1, Covid-19 sẽ là ít độc lực hơn nếu nó đến tận châu Âu. Vậy tôi nghĩ rằng ta đã trả giá của đợt Covid-19 về mặt thiếu chuẩn bị. Đối với H1N1, ta đã chuẩn bị tốt hơn nhiều, nhưng cho một nguy cơ cuối cùng đã ít quan trọng hơn điều mà ta đã sợ. Cách nay 1 năm, ta luôn luôn có những dự trữ khẩu trang của 2009, bởi vì chúng đã không được sử dụng. Có lẽ rằng những người nói “không chuẩn bị” (impréparation) hôm nay (2020) đã nói ” tiêu xài vô ích” cách nay 10 năm (2009).
Hỏi : Chúng ta hãy trở lại cuộc khủng hoảng hiện nay : ta có thể nói rằng, hôm nay, những người có triệu chứng đến ở ” khoa cấp cứu Covid-19″, đã bị lây nhiễm trong thời kỳ phong tỏa (période de confinement) ?
Marius Gilbert : Vâng
Hỏi : Điều có đặt câu hỏi cho chính sách phong tỏa (politique de confinement) không ? Phải chăng những biện pháp giam hãm không đủ ?
Marius Gilbert : Nếu ta theo nhịp được quan sát trước khi thực hiện những biện pháp giam hãm (mesure de confinement) , hôm nay ta sẽ ở mức khoảng 70.000 người được nhập viện. Với 400 đến 500 trường hợp nhập viện mới mỗi ngày, điều đó có nghĩa là vài bệnh nhân đối với mỗi bệnh viện. Nếu ta quy điều đó cho một dân số 11,4 triệu người (Bỉ), đó không là to lớn. Vậy không cần thiết phải tăng cường biện pháp giam hãm vào lúc này. Ngoài ra, có những xuất viện bù cho những nhập viện ; tỷ lệ chiếm giường trong những bệnh viện sẽ hạ. Ta đang tránh một sự bảo hòa bệnh viện kiểu Ý.
Hỏi : Một sự giở bỏ cách ly vào ngày 19/4 có nên làm không ?
Marius Gilbert : Không, đó là quá sớm. Có hai điều kiện tiên quyết để bắt đầu sự giở bỏ này. Thứ nhất, đó là có một sự giảm đang kể số lượng người nhập viện, rằng các bệnh viện phải phục hồi ngưỡng về mặt khả năng tiếp đón (capacité d’accueil) và rằng các kíp làm việc từ nhiều tuần nay có thể lấy lại sức. Tôi tin rằng nhân viên y tế sẽ không chấp nhận khi nghe nói rằng ta giở bỏ một phần cáhc ly trong khi còn ở trong một tình huống gần vỡ trận.
Hỏi : Điều tiên quyết thứ hai ?
Marius Gilbert : Trước khi nghĩ den một sự giở bỏ cách ly một phần (déconfinement partiel), sau cùng, ta phải giải quyết vấn đề các test và các khẩu trang, nghĩa là có khá nhiều trang bị bảo hộ cho nhân viên điều trị và cho tuyến hai (nhà dưỡng lão, nhân viên an ninh, các cửa hàng, soins à domicile, kiné, các nhà tù…). Nới lỏng biện pháp giam hãm không có hai điều kiện tiên quyết này, đó sẽ là bắt đầu lại cùng sai lầm. Vào lúc đầu của dịch bệnh, ta đã lấy cớ là đã bị bất ngờ đối với những test và những khẩu trang. Nhưng trong ba tuần đến, tuyệt đối phải lợi dụng giai đoạn xuống của dịch bệnh để lấy đầy các test de diagnostic và những trang bị bảo vệ.
Hỏi : Vài người chủ trương mang khẩu trang cho tất cả dân chúng ?
Marius Gilbert : Thực tế là, trong khi giở bỏ cách ly một phần, phải cậy vào sự duy trì của khoảng cách xã hội (distanciation sociale), những biện pháp vệ sinh và một sự sử dụng đại trà hơn của các khẩu trang. Tuy nhiên sẽ có một vấn đề logistique trong những tuần lễ đầu của một sự giở bỏ cách ly một phần như thế, sẽ có thể bắt đầu vào đầu tháng năm : xét vì bối cảnh quốc tế, dường như khó có thể trù liệu rằng dân chúng có thể mua ở các hiệu thuốc những khẩu trang chỉ dùng một lần. Để được như thế phải có một sự tiếp tế nhiều trăm triệu khẩu trang mỗi tuần. Phải khuyến nghị sự chế tạo bởi các công dân những khẩu trang bằng vải có thể rửa ở nhiệt độ 60 độ và có thể sử dụng lại. Tuy vậy, khẩu trang không được xem như một vũ khí tuyệt đối, nhưng đúng hơn như một barrière bổ sung những biện pháp vệ sinh và khoảng cách xã hội từ nay được biết rõ.
Hỏi : Ông sợ một nguy cơ tái phát nếu ta giở bỏ quá nhanh ?
Marius Gilbert : Vâng, nới lỏng sự cách ly toàn thể ngày 19/4, đó là một quyết định khinh suất. Những đường cong dịch tễ sẽ lên cao trở lại sau một thời kỳ 10 đến 15 ngày
Hỏi : Đối với ngày 3/5, những điều kiện tiên quyết mà ông gợi ra phải chăng có thể thỏa mãn ?
Marius Gilbert : Vâng, đó có thể dự kiến, mặc dầu, tất cả mọi người đã hiểu điều đó, không gì có thể được khắc vào đá cẩm thạch. Nhưng từ nay đến đó, khả năng thực hiện các test sẽ còn gia tăng mạnh. Dầu đó là những xét nghiệm phát hiện virus ở những người bị nhiễm (test PCP) hay những xét nghiệm huyết thanh (test sérologique) cho phép phát hiện sự hiện diện của những kháng thể chứng tỏ đã bị một lây nhiễm. Ta sẽ có thể chẩn đoán một cách chủ động hơn nhieu mọi người có những triệu chứng và, nếu dương tính, ta cũng sẽ trắc nghiệm tất cả những người đã có những tiếp xúc với người đó. Nói một cách khác, chúng ta sẽ chuyển qua một chiến lược kiểu Nam Hàn hay Đức : test số lượng lớn, cách ly các bệnh nhân và những người tiếp xúc với họ với, tại sao không, một sự bàn bạc về một “tracking” nếu phương thức này có thể được kèm theo bởi những biện pháp tốt nhằm bảo vệ đời sống tư. Sự mang khẩu trang hầu như đại trà và tối thiểu trong những service thuộc tuyến một và tuyển hai, sẽ là một yếu tố bổ sung của chiến lược này.
Hỏi : Bắt đầu giở bỏ cách ly bằng quần thể nào ? Ta nghe những phát biểu khác nhau về vấn đề này.
Marius Gilbert : Thủ tướng đã loan báo sự thành lập một nhóm bao gồm những người của giới chính trị, khoa học, xã hội và kinh tế để suy nghĩ về chiến lược để thoát khỏi cuộc khủng hoảng này. Tôi đã được mời và tôi hy vọng rằng chúng ta có thể tiến lên một cách hiệu quả để thảo ra một cách nhanh chóng những nét chính của một chiến lược giở bỏ cách ly (stratégie de sortie).
Hỏi : Nhưng đối với ông, ta phải bắt đầu từ đâu ?
Marius Gilbert : Không thể nói vào lúc này. Các nhà khoa học làm việc trên những mô hình toán học nhằm đo lường tác động của những kịch bản khác nhau lên sự truyền của virus. Dẫu sao, ta sẽ tiến lên dần dần, để tránh một sự truyền khả dĩ vượt quá khả năng bệnh viện. Đó sẽ là luôn luôn ở trong vùng an toàn. Xét vì không thể ngăn cản hoàn toàn sự truyền của virus, sự truyền này phải dưới một mức nào đó, đồng thời áp dụng những biện pháp nhắm đích để bảo vệ những người có nguy cơ nhất phát triển những biến chứng trong trường hợp nhiễm corona
Hỏi : Nói như thế, những người thuộc mọi lứa tuổi và thuộc mọi tình trạng sức khỏe có thể mất mạng sau một nhiễm bởi Covid-19.
Marius Gilbert : Chính xác. Sẽ có một sự gia tăng nguy cơ tử vong khi giở bỏ confinement généralisé, ngay cả đối với quần thể trẻ.
Hỏi : Vậy chừng nào ta không có vaccin, phải quản lý một dịch bệnh ít tiếng ồn ( épidémie à bas bruit) ?
Marius Gilbert : Vâng. Nhưng trong cán cân, phải đặt tất cả những hậu quả mà một sự giam hãm lâu dài (confinement de longue durée) sẽ có ?
Hỏi : Ông nghĩ đến nguy cơ kinh tế-xã hội ?
Marius Gilbert : không chỉ nguy cơ kinh tế xã hội. Cũng có một nguy cơ y tế đối với những bệnh nhân bị những bệnh lý khác và không thể đi khám thầy thuốc của họ. Cũng có những khía cạnh của sức khỏe tâm thần, những bạo lực gia đình. Một sự giam hãm lâu dài có thể có những hậu quả gián tiếp được thể hiện bởi những tử vong.
Hỏi : Xét vì sự chung sống lâu dài với virus, sẽ còn kéo dài ít nhất vài tháng nữa, vậy phải quen với ý nghĩa rằng ta có nguy cơ có thể bị nhiễm vào một lúc nào đó ?
Marius Gilbert : Vâng, chừng nào chúng ta không có vaccin, chúng ta sẽ sống với nguy cơ này. Sẽ phải thành thức đối với dân chúng về điểm này. Cũng chính vì điều đó mà ta phải thông báo một cách rõ ràng về chiến lược thoát cơn khủng hoảng (stratégie de sortie de crise). Bởi vì, cũng như đối với biện pháp giam hãm (confinement), yếu tố chủ chốt của một sự giở bỏ cách ly (déconfinement) thành công sẽ là sự tuân thủ của xã hội (adhésion sociale). Điều này hàm ý một bổn phận tham vấn xã hội dân sự, tiếp theo một bổn phận thông báo hoàn toàn minh bạch về phía chính quyền.
(PARIS MATCH 9/4-15/4/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 536 : bài số 5
– TSYH số 541 : bài số 1

3/ NGÀY 11/5, 4 TRIỆU NGƯỜI PHÁP ĐÃ BỊ NHIỄM BỞI COVID-19
Những modélisation của Viện Pasteur cho thấy rằng sự cách ly (confinement) đã cho phép làm giảm 84% sự lan tràn của virus, cho phép tránh ít nhất hàng chục ngàn trường hợp tử vong.Mỗi ngày, tổng trưởng y tế Jérome Salomon lần lượt đưa ra từng con số, số những trường hợp tử vong, số những trường hợp nhập viện (nombre d’admissions), số bệnh nhân được đưa vào hồi sức (nombre de personnes hospitalisées en soins intensifs-réanimation), đôi khi làm nản lòng. Tuy vậy, cố gắng tập thể kinh khủng mà những người Pháp sản sinh từ lúc đầu của cách ly đã mang lại kết quả. Hôm thứ ba 21/4, các nhà khoa học đã chứng mình điều đó một cách không lập lờ. Những kết quả rất được mong chờ của những điều biến (modélisation) mà họ đã thực hiện, cho phép hiểu tốt hơn động lực hiện nay của dịch bệnh và sự tiến triển của nó cho đến 11/5, mốc được ấn định bởi tổng thống Cọng Hỏa để bắt đầu gỡ bỏ phong tỏa.
Thế thì bilan là gì ? Trong khi nhịp lan tràn “tự nhiên” của virus vào lúc đầu của dịch bệnh, RO, là 3,3 (mỗi người bị nhiễm corona làm lây nhiễm trung bình 3,3 người), tham số này xuống còn 0,5. Hoặc một sự giảm 84%. Để so sánh, Đức đánh giá rằng hôm nay con số này gần 1 trên lãnh thổ của Đức. Nói một cách khác, hôm nay virus luu hành ở Pháp ít nhanh hơn so với ở Đức. Điều đó với cái giá, quả đúng vậy, của một sự giam hãm hà khắc hơn, điều này là cần thiết bởi vì chúng ta đã chậm trễ.
CÒN QUÁ XA MIỄN DỊCH CỘNG ĐỒNG.Vào ngày 11/5, chỉ 6% dân Pháp (4 triệu người) đã bị nhiễm bởi corona, theo những dự kiến, với những dị biệt vùng. Đó đồng thời là một tin rất tốt lành, bởi vì như thế hàng chục ngàn người chết, có lẽ hàng trăm ngàn, đã được tha miễn từ lúc bắt đầu biện pháp cách ly ngày 16/3 ; và cũng là một tin xấu bởi vì điều đó muốn nói rằng ngay cả trong trường hợp thuận lợi, khi mỗi người bị nhiễm được miễn dịch lâu dài, chúng ta còn rất xa miễn dịch tập thể (immunité collective). Thật vậy, phải 70% dân số được miễn dịch để dịch bệnh tự nó ngừng lại, Simon Cauchemez, giám đốc của đơn vị điều biến toán học của những bệnh nhiễm trùng (unité de modélisation mathématique des maladies infectieuses) của viện Pasteur, đã đánh giá như vậy. Như thế sẽ phải giám sát rất chăm chú sự lan tràn của virus vào lúc buông thả sự cách ly (déconfinement)…Modèle, được thiết đặt bởi Viện Pasteur, sẽ là một công cụ trung tâm của sự canh tuần này.
Thật vậy, công cụ này phối hợp những dữ liệu dịch tễ học thu được bởi Santé Publique Farnce trong các bệnh viện, với những dữ liệu điều tra, đặc biệt dữ liệu được thực hiện trên du thuyền Diamond Princess. ” Lợi ích, đó là những điều tra này dựa vào những trường hợp không triệu chứng, Simon Cauchemez đã nhấn mạnh như vậy. Chúng cung cấp cho chúng ta những đánh giá về tỷ lệ tử vong theo lứa tuổi.” Bilan của những trường hợp tử vong, tạo phần có thể thấy được của dịch bệnh, cho phép phát hiện phần khó nắm được nhất : tổng số những trường hợp bị nhiễm, trong đó những người bị nhiễm không có một triệu chứng nào và có tất cả những cơ may lọt lưới (20 đến 40%).
Điều đó cho phép một cái nhìn toàn bộ hơn về dịch bệnh và về tính chất nguy hiểm nội tại của virus : nhất là ta có thể suy ra tỷ lệ nhập viện (taux d’hospitalisation) : 2,6% những người bị nhiễm. Một tỷ lệ trung bình che dấu những dị biệt : 1/1000 đối với những phụ nữ dưới 20 tuổi (0,09%) và gần 1 trên 3 đối với đàn ông trên 80 tuổi (31,4%). Ở Pháp, cứ 5 người nhập viện thì 1 người sẽ không sống sót. Đối với 15% những trường hợp, cái chết như sét đánh (mort foudroyante) và xảy ra trung bình sau 16 giờ.Trái lại, đối với những trường hợp khác, cái chết xảy ra rất muộn và trung bình xảy ra sau 13 ngày nhập viện (trong đó hơn 10 ngày ở khoa hồi sức). Những người đàn ông bị nhiễm có hai lần cơ may chết ở khoa hồi sức nhiều hơn đàn bà. Ta vẫn luôn luôn không biết một cách chính xác tại sao.
Nhìn toàn bộ, tỷ lệ tử vong được ước tính là 0,5% đối với population générale với những dị biệt lớn. Đối với những người dưới 20 tuổi, một tử vong đối với 100.000 người bị nhiễm, so với 8 tử vong đối với 100 người bị nhiễm ở những người trên 80 tuổi. Cần định rõ rằng những modélisation không tính đến những trường hợp tử vong ở các viện dưỡng lão (Ehpad), mặc dầu nhiều (hơn 8000 đối với một bilan national trên 20.000), bởi vì sự lưu hành của virus ở đó rất đặc thù. Tỷ lệ gây chết (létalité) của virus đối với những lão niên, vốn đã quan trọng, vậy còn cần phải được nâng cao.
TRỞ LẠI MỘT CUỘC SỐNG “BÌNH THƯỜNG” MỘT CÁCH RẤT NHẸ NHÀNG
Vả lại, dịch bệnh không hẳn được chấm dứt. Từ nay đến giữa tháng năm, số lượng những trường hợp tử vong có thể còn tăng gấp đôi so với hôm nay. Số lượng người ở khoa hồi sức, gần 7000 vào lúc cao điểm của dịch bệnh, sẽ xuống lại dưới 2000.” Sẽ còn có vài trăm đến vài ngàn nhiễm mới mỗi ngày”, Simon Cauchenez đã nhắc lại như vậy.
Date 11/5 không đánh dấu ngưỡng đặc biệt trên bình diện dịch bệnh.” Nhưng cần một date để khơi mào sự chuyển tiếp về một bắt đầu của sự tái tục hoạt động xã hội và kinh tế “, Arnaud Fontanet, giám đốc của département de santé globale ở Viện Pasteur, đã nhấn mạnh như vậy.
Sự trở lại một cuộc sống “bình thường” sẽ phải được thực hiện một cách rất nhẹ nhàng. Chúng ta hy vọng rằng coronavirus sẽ lan tràn chậm lại vào mùa hè. “Đó là trường hợp đối với những nhiễm trùng hô hấp nói chung, nhưng chúng ta chưa có một sự chắc chắn nào đối với Covid-19”, Arnaud Fontanet đã nhắc lại như vậy.
(LE FIGARO 22/4/2020)

4/ TỪ PHONG TỎA CHẶT CHẼ ĐẾN SỰ THIẾT ĐẶT NHỮNG BIỆN PHÁP GIỞ BỎ CÁCH LY ĐẶC BIỆT, NHỮNG PHƯƠNG THỨC THAY ĐỔI TÙY THEO QUỐC GIA
Bị ảnh hưởng một cách thay đổi bởi virus, với những quần thể người già ít hay nhiều và những truyền thống liên đới khác nhau, Trung Quốc, Anh, Đức, Tay Bạn Nha hay Ý không giải quyết vấn đề cách ly theo cùng cách.
+ Ở Anh, 12 tuần phong tỏaỞ Vương quốc Anh, chính hoàng tử Charles đã nêu guong. 71 tuổi, là người thừa kế của ngôi vua, bị nhiễm corona nhưng đã bình phục, ông lùi về Ecosse để theo những khuyến nghị của chính phủ, yêu cầu tất cả những người trên 70 tuổi phải tự cách ly trong 12 tuần. Từ đó, bộ trưởng y tế đã gợi lên một thời gian cách ly 4 tháng. Câu hỏi lớn là cần biết xem, trong khung cảnh của một chiến lược giở bỏ phong tỏa (stratégie de déconfinement), những người già có sẽ bị giữ lâu ở nhà không và trong thời gian bao lâu. Những cố vấn khoa học của Downing Street chủ trương rằng dân chúng phải được ” phân loại ” thành những nhóm nguy cơ khác nhau, để cho phép những người trưởng thành có sức khỏe tốt làm việc trở lại. Một nhóm đầu tiên 15 triệu người, có nguy cơ cao và ở mọi lứa tuổi, sẽ phải cách ly ở nhà. Sau đó là một nhóm thứ hai rộng lớn hơn, gồm, nhất là, những người trên 70 tuổi, cũng sẽ chịu những hạn chế kéo dài lâu hơn, với lệnh tiếp tục xa lánh với phần còn lại của gia đình.
+ Ở Tây Ban Nha : Những quy tắc chặc chẽ
Tây Ban Nha áp dụng một trong những biện pháp cách ly nghiêm khắc nhất của hành tinh, nhất là loại trừ sự đi ra ngoài của trẻ em hay sự tập thể dục ngoài trời. Trong khung cảnh này, những người già ít có hy vọng đi ra khỏi nhà hay nhà dưỡng lão của họ. Sự kéo dài của tình trạng khẩn cấp đến 26/4 và sẽ được tiếp tục cho đến 10/5. Theo tuần báo La Vanguardia, dẫn một nhóm chuyên gia của Bộ y tế, những sự sắp xếp có thể được tìm thấy đối với trẻ em, nhưng “đó sẽ là phức tạp hơn đối với những người trên 70 tuổi, họ sẽ phải ở tại nhà ít nhất trong mùa hè”. Được hỏi bởi Figaro về khả năng của một sự cách ly dài hơn đối với những lão niên, người phụ trách trung tâm báo động y tế, Fernando Simon, đã trả lời hôm thứ sáu 17/4 rằng ” khả năng này là một trong những khả năng mà chúng tôi đang xét đến”.(Le chef du gouverment espagnol, Pedroz Sanchez, 9/4/2020)
Pedro Sanchez chuẩn bị một sự giảm nhẹ biện pháp cách ly :
Giọng rất cực kỳ thận trọng, những biện pháp không rõ ràng và lịch trình còn mơ hồ. Nhưng chiều thứ bảy 18/4, Pedro Sanchez đã phát âm từ : “desconfinamiento”, hay từ mà ông thường thích hơn, “desescalada”. Tổng thống đã chuẩn bị Tây Ban Nhà để thoát, “một cách rất từ từ”, và bắt đầu từ tháng năm, một trong những phong tỏa hà khắc nhất trên thế giới.
Nhà lãnh đạo Tây Ban Nha muốn tỏ ra thận trọng đến độ, để loan báo một sự giở bỏ, ông bắt đầu nói về …một sự kéo dài cách ly. Đối với ông, đất nước đã làm “điều gay go nhất”. Tuy nhiên, ” những bước tiến vẫn còn chưa đủ, mong manh “, vì thế ông mong muốn rằng 47 triệu người tây ban nha sẽ còn bị giam hãm cho đến 9/5. Vì vậy ông yêu cầu quốc hội biểu quyết để kéo dài thêm hai tuần tình trạng khẩn cấp, cho phép những biện pháp hạn chế những tự do cá nhân.
Trước điều đó, Tây Ban Nha sẽ giở bỏ một biện pháp hạn chế mà không một quốc gia châu Âu nào đã áp dụng với sự nhiệt tình đến thế : các trẻ em nhỏ không được đi ra khỏi nhà. Những lý do chính đáng để rời nơi ở là di chuyển đến nơi làm việc, đối với những người không làm việc từ xa, mua những nhu yếu phẩm, những săn sóc y tế, dắt chó đi dạo, thải bỏ rác ; những sự đi ra ngoài này nhất thiết vì lý do cá nhân, những trẻ nhỏ không có một cớ nào để đi hóng mát. Bắt đầu từ 27/4, Sanchez đã dự kiến, những trẻ dưới 12 tuổi có thể “đi ra ngoài một lúc mỗi ngày”, được kèm theo bởi một người lớn duy nhất và ” trong giới hạn của những tiêu chuẩn an toàn để tránh những lây nhiễm”.
Không một biện pháp giở bỏ nào được biết đến. Quyết định của Bộ giáo dục không mở lại trường học trước tháng chín không được xét lại. Các thương gia không có một ý tưởng nào khi nào họ sẽ có thể mở cửa. Những người hành nghề du lịch không biết họ sẽ có thể tiếp đón những người nghỉ hè ngoại quốc hay không. Những tuyên bố của Bộ lao động, theo đó những khu vực ít bị tiếp xúc nhất có thể làm việc trở lại “từ nay đến hè”, trong khi những hoạt động nhạy cảm nhất như vui chơi giải trí hay văn hóa phải đợi “cuối năm”, đã không được định rõ.
Pedro Sanchez nói : ” Vài trong số những biện pháp mà chúng tôi sẽ áp dụng sẽ không hiệu quả và chúng tôi sẽ phải lùi bước. Điều đó sẽ không có nghĩa là một thất bại đối với xã hội. Điều đó muốn nói một cách đơn giản rằng chúng tôi sẽ học dần dần “.
Sự phong tỏa sẽ được giở bỏ dần dần vào tháng năm và sự xuống thang (desescalade) sẽ không đối xứng. Canaries, một trong những vùng ít bị ảnh hưởng nhất bởi dịch bệnh, mong muốn trở lại một hoạt động bình thường càng sớm càng tốt. Ngược lại, những thành phố lớn mà những bệnh viện bị bảo hòa như Madrid và Barcelone, thật khó tưởng tượng sẽ hoạt động trở lại như chẳng chuyện gì xảy ra.
Sự ít hấp tấp nới lỏng biện pháp cách ly, sự nài nỉ yêu cầu, trong mỗi bài diễn văn, “sự hy sinh, sự đề kháng và tinh thần chiến thắng”, sự mô tả một đất nước sẽ bị ghi dấu bởi “những di chứng của một cuộc chiến không bom đạn”, cũng đáp ứng với sự quên mình, mà với nó Tây ban nha chịu đựng dịch bệnh này. Theo một thăm dò, được công bố bởi El Pais, 59% dân Tay Ban Nha đánh giá rằng phải duy trì sự phong tỏa ” mặc dầu điều đó hàm ý một sự suy thoái kinh tế lớn hơn và nhiều thất nghiệp hơn”, và 61% bảo vệ sự cách ly hoàn toàn các trẻ em.
+ Ở Đan Mạch : Những quy tắc hà khắc cho một buổi tựu trường được giám sát chặt chẽĐan Mạch là nước đầu tiên của châu Âu quyết định mở lại các nhà trẻ, các vườn trẻ, các lớp mẫu giáo và các lớp tiểu học. Đan Mạch đã biện minh cho sự lựa chọn này bởi sự đề kháng của các trẻ em với coronavirus. Theo Kaare Moelbak, giám đốc kỹ thuật của Institut de sérologie d’Etat, 1,8% những trẻ em từ 0 đến 9 tuổi được xét nghiệm có kết quả dương tính và 2,6% cho đến 18 tuổi so với 10 đến 11% đối với những người lớn.
Phần lớn cha mẹ đã nhẹ nhõm với sự mở lại này, được trải dài nhiều ngày từ 15/4. Lúc tiếp đón khoảng 450 học sinh tuổi từ 6 đến 11 tuổi, từ lớp mẫu giáo (lớp zéro) đến lớp 5 tiểu học, hiệu trưởng của Oester Farimasgade Skole đã phải ” xoay xở để tìm những phòng học, trong đ ócác học sinh ngồi cách nhau 2 m, một trong những điều kiện được áp đặt bởi giới hữu trách y tế “. Như thế, mỗi lớp được chia thành 2 hay 3 nhóm với 7-12 học sinh mỗi nhóm và 1-2 giáo viên.
Việc tựu trường này là một “thách thức” trên nhiều phương diện, theo Alex Bech, hiệu trưởng của Oester Farimasgade Skole, Copenhague, nhất là để “làm các học sinh tuân theo một cách cẩn thận những quy tắc vệ sinh và những động tác barrière”. Các trẻ em học giữ khoảng cách 2 m của chúng khi đi đến trường và ngay cả lúc đi rửa tay, mỗi 2 giờ. Vào buổi trưa, bữa ăn, được mang đến từ nhà bởi mỗi học sinh, được dùng trong lớp, giữ đúng khoảng cách, và cấm trao đổi thức ăn. Vào giờ ra chơi, xê xích nhau tùy theo các lớp, các học sinh vẫn ở trong nhóm của mình, chơi mỗi lần tối đa 5 em, được giám sát bởi các thầy giáo. ” Những thay dối không dễ để hiểu và tôn trọng đối với một cậu trai 6 tuổi”. Cha mẹ từ nay bị cấm không được vào trường.
Phần lớn các trẻ đã trở lại trường. Chỉ khoảng 5-10% trong số 300.000 học sinh vẫn ở nhà, được giữ bởi cha mẹ vì họ quan ngại và không đồng ý quyết định mở lại trường. ” Con tôi không phải là một cobaye cho Covid-19″, một thành viên của nhóm Facebook (40.000 hội viên) đã nói như vậy
+ Ở châu Á : Những gia đình đoàn tụ
Vào lúc Pháp và châu Âu dự kiến giam hãm những người già trong thời gian, châu Á có nguồn gốc Khổng giáo xác nhận tình đoàn kết giữa các thế hệ. Ở Trung Quốc, chính quyền không áp đặt những biện pháp đặc biệt nhằm cô lập những người già (troisième age) với những người trẻ (vecteur tiềm năng của bệnh). Ở đây ta đụng đến những sự khác nhau văn hóa và xã hội-kinh tế so với châu Âu : ở Trung Quốc, phần lớn những người già sống cùng mái nhà với các người con và nuôi nấng dạy dỗ những người cháu của họ. Các nhà dưỡng lão còn hiếm. Không có vấn đề phân cách các gia đình trong giai đoạn giam hãm. Ở Nam Hàn dân chủ và phát triển, nhiều người già sống đơn độc hơn, nhưng cũng không có biện pháp đặc biệt, ngoài những động tác barrière cổ điển và mang khẩu trang ở những nơi công cộng.
+ Ở Nhật : Nhật luôn luôn do dự mở lại của trường
Nhật là nước đầu tiên đóng các cửa trường, chứng tỏ quyết tâm của một đất nước muốn trừ tiệt dịch bệnh coronavirus. Ngay 27/2, thủ tướng Shinzo Abe đã làm sững sờ đất nước khi ra lệnh đóng cửa tất cả các trường học, “giam hãm” trong gia đình 13 triệu học sinh cho đến khi tựu trường (vào đầu tháng tư).
Một quyết định chưa từng có, “chính trị “, ông đã công nhận như thế, đáp trả những cáo buộc cho là rụt rè, đổ xuống đầu ông, trong sự quản lý hỗn loạn quarantaine của du thuyền Diamond Princess bị nhiễm corona, neo ở Yokohama.
Vào đầu tháng tư, lúc gần đến ngày tựu trường, ủy ban các chuyên gia của chính phủ đánh giá rằng không gì chứng tỏ rằng việc đóng cửa trường đã kềm hãm sự tiến triển của dịch bệnh, nhưng cũng không cho một sự đồng ý rõ ràng về việc mở lại trường. Sau cùng vì lý do thận trọng, các trường vẫn bị đóng cửa cho đến 7/5.
+ Ở Ý : ưu tiên cho những người trẻ(Une italienne confinée est assisse sur son balcon, à Milan)
Sự mở lại các công viên để cho các trẻ có thể đi ra ngoài gây quan ngại chính phủ hơn là nhu cầu của những người già tìm lại sự tự do. Tuy nhiên, khi Ursula van der Leyen gợi lên sự duy trì cách ly những người già dễ bị thương tổn đến Noel, đề nghị này đã gây nên vài sự bực bội. Sandra Zampa, thuộc Bộ y tế phụ trách những người già, lo ngại, trong La Stampa, về “sự thô bạo của vài lời tuyên bố”. Ở Ý trời nóng của mùa hè trong những thành phố sẽ gây nguy cơ cho những người già suy yếu khi bị giam hãm ở nhà. Tuy nhiên, Covid-19 là một “virus độc ác”, ” đặc biệt đối với những người bị một hay hai bệnh mãn tính”, những người này phải đương đầu giai đoạn 2, sẽ kéo dài lâu, ít nhất đến khi chúng ta có vaccin”. Có trách nhiệm chuẩn bị sự thoát cách ly của những người già, thầy thuốc lão khoa người Ý, GS Roberto Bernabei đánh giá rằng ” không được phân biệt tuổi tác, rằng tuổi không phải là tiêu chuẩn thích đáng, nhưng mỗi trường hợp phải được xét đến một cách có ý thức “. ” Nếu những lão niên có sức khoẻ tốt, họ phải có thể đi ra khỏi nhà, bách bộ khoảng 1/2 giờ, điều đó ngay cả có lợi “, ông nói như vậy. Trong lúc chờ đợi, đối với giai đoạn 2, kế hoach dự kiến vài biện pháp chủ chốt : mỗi tuần gọi thầy thuốc gia đình để theo dõi tình trạng sức khỏe, kèm theo một application, đo HA và nồng độ đường trong máu. Rõ ràng, đó là một sự tự do dưới sự giám sát.
+ Ở Đức : trên đường gỡ bỏ phong tỏa
Đời sống kinh tế của Đức sẽ bắt đầu lại ngày thứ hai 20/4.(Angela Meckel, mercredi 15/4/2020, pendant sa conférence de presse à Berlin)
Với sự thận trọng là đặc điểm bà thủ tướng Angela Meckel, đã lấy làm lấy làm mừng rỡ về những “thành công giai đoạn ” (succès d’étape), có được trong cuộc chiến đấu chống lại dịch bệnh. Sau một sự chậm trễ, chứng tỏ sự gay go trong những thương thuyết với các chủ tịch vùng, bà thủ tướng đã triển khai lịch trình để đất nước thoát dần khỏi cuộc khủng hoảng. Chân trời mới được ấn định 3/5 để giở bỏ sự phong tỏa theo kiểu Đức, với sự mở cửa trường học trở lại. Nhưng đời sống thương mãi của đất nước sẽ có thể bắt đầu lại ngay thứ hai 20/4, với sự cho phép mở lại phần lớn các tiệm buôn, nhưng cơ sở có một diện tích dưới 800m2. Với điều kiện tôn trọng những biện pháp barrière, các tiệm sách, các garage và những marchand de meuble, thí dụ, có thể mở cửa trở lại. Việc mang khẩu trang không bắt buộc ở nơi công cộng nhưng ” dứt khoát được khuyến nghị ” trong các cửa hàng hay nhưng vận chuyển công cộng, ngay khi khoảng cách an toàn khó tôn trọng.
Bắt đầu từ 4/5, các học sinh phải trải qua những kỳ thi có thể trở lại lớp. ” Từng bước”, như bà thủ tướng đã nhấn mạnh như vậy.
Đức chuẩn bị những biện pháp đặc biệt :
Đó là điểm 7 của feuille de route (giấy đi đường), được ký kết bởi chính phủ và các Lander nhắm gỡ bỏ phong tỏa (déconfinement). Các cơ sở dành cho troisième âge phải áp dụng những biện pháp đặc biệt để bảo vệ “Vulnerable Gruppe” này đồng thời chú ý không dẫn nhóm này đến một ” sự cô lập xã hội ” (Soziale Isolation) hoàn toàn. Điểm 15 định rõ rằng những biện pháp khoảng cách vật lý (distanciation physique) và sự từ bỏ những thăm viếng gia đình thắng thế cho đến 3/5 sắp đến. Không có biện pháp nào về một sự kéo dài cách ly đối với các lão niên được đề cập. Trong một đất nước mà 21% dân số có 65 tuổi hoặc hơn (nước đứng thứ hai về những người già nhất ở châu Âu sau Ý), virus đã tha miễn những người già nhất. Ngày 14/4, theo những con số của Viện Robert-Koch, tuổi trung bình của những người bị lây nhiễm là 50 tuổi. Chỉ 17% có hơn 70 tuổi. CDU đã dự kiến một sự kéo dài thời gian cách ly của họ nhưng đảng Xanh (lesVerts) và dân chủ-xã hội đã ủng hộ những quyền căn bản, độc lập với tuổi tác.
(LE FIGARO 18, 19 & 22/4/2020)

5/ HỆ MIỄN DỊCH : MỘT CUỘC CHIẾN KỊCH LIỆT CHỐNG CORONAVIRUS
Hệ miễn dịch, đó là một hoạt động thường trực của hàng hà sa số những phân tử, thầm lặng hay ồn ào, chiến đấu để gìn giữ cơ thể khỏi những kẻ lạ muốn đến phát triển ở đó, gây thiệt hại cho chúng ta. Ngay lối vào, da làm thành trì, các niêm mạc sẵn sàng các chất tiết để làm dính và tống xuất kẻ len lỏi.
Coronavirus thích những niêm mạc hô hấp của chúng ta ; bằng cách hạn chế những cơ hội đi vào của nó, các khẩu trang và các bàn tay sạch, chúng không được xem là những công cụ của miễn dịch hay sao ? Kẻ không ai ưa cũng cứ đi vào và một đám dày đặc các tế bào miễn dịch, không ngừng tuần tra giữa các tổng hành dinh của chúng là các hạch bạch huyết, bắt đầu hành động. Các đại thực bào (maceophage) phóng thích những phân tử viêm. Đỏ, đau, nóng, sưng ? Đó là bằng cớ rằng cơ thể của anh chống lại, các mạch máu và các mạch bạch huyết phồng lên để cho những tế bào và phân tử đi qua, được gọi đến để cứu. 3 công trường được mở ra : khoanh vòng giới hạn và hủy diệt kẻ xâm lược, loại bỏ các mảnh vỡ của trận đánh, khơi mào sự sửa chữa và tái tạo vị trí. Cơ thể của anh đã tiết những chất kháng virus (antiviraux) chống lại virus tấn công anh. Sau đó là sốt. Các đại thực bào và thực bào (phagocyte) đã đổ vào trong máu của anh những phân tử đưa tin (molécules messagères), yêu cầu vùng dưới đồi thị (hypothalamus) gia tăng bộ điều nhiệt (thermostat). Mục tiêu khả dĩ : (khoa học không chọc thủng những bí mật của sốt) : gây trở ngại kẻ tấn công chúng ta.
Cơ thể ném tất cả lực lượng vào trận đánh (và đôi khi quá nhiều lực lượng, dẫn đến “orage cytokinique” xảy ra trong những thể nghiêm trọng của Covid-19), thời gian cần thiết để huy động các tế bào lympho, những chiến sĩ tinh nhuệ được trang bị bởi những vũ khí được phát triển một cách đặc hiệu chống lại virus. Về sau, có lẽ, một trong những tế bào lympho sẽ nhớ lại và sẽ biết sản xuất những kháng thể. Nếu một ngày nào đó cũng kẻ lạ này thử một cuộc đột kích, những kháng thể này sẽ loại bỏ nó tức thời mà không làm anh phải nếm mùi những giằn vặt của căn bệnh.
LYMPHOCYTES
Các tế bào lympho là những tế bào của miễn dịch thụ đắc hay thích ứng (immunité acquise ou adaptive). Chúng sinh ra trong tủy xương. Có những tế bào lympho T (thymus, tuyến hung, nơi chúng chín mùi) và B (bourse de Fabricius, tuyến của chim, nơi chúng được khám phá). Trong số những tế bào lympho T, vài tế bào (những T4) sản xuất những cytokine. Những phân tử này kích hoạt, một mặt những T8, để chúng tiêu hủy những tế bào bị nhiễm, bằng cách chọc thủng màng tế bào của chúng hay bằng cách thúc đẩy chúng phải tự sát, mặt khác kích hoạt những tế bào lympho B để chúng tiết những kháng thể. Một họ tế bào lympho thứ ba, những “natural killers”, cũng tiêu hủy những tế bào bị nhiễm nhưng nhận diện chúng mà không cần phải một sự học tập trước.PHAGOCYTE
Đó là những tế bào của “tuyến đầu”, những công cụ của điều mà ta gọi là “miễn dịch bẩm sinh” (immunité innée) : các thực bào có những thụ thể (récepteur), cho phép chúng phát hiện những phân tử đặc điểm của một nhiễm trùng, dầu đó là loại nhiễm trùng gì. Những granulocytes (cũng được gọi là đa nhân) và các đại thực bào, chứa những men tiêu hóa, cho phép chúng hút và ” tiêu hóa” những kẻ len lỏi. Chính chúng sẽ tống khỏi cơ thể những virus đã được làmbất động bởi những kháng thể sinh ra bởi những tế bào lympho. Một loại thực bào thứ ba, những cellule dendritique, có nhiệm vụ “trình” cho các tế bào lympho những mảnh của những tác nhân gây bệnh cần phải chống lại.
KHÁNG NGUYÊN (ANTIGÈNE)
Kháng nguyên là toàn thể những phân tử (thường là những protéine), được nhận biết bởi hệ miễn dịch như là không thuộc về cơ thể. Được sinh ra bởi những tác nhân gây bệnh hay hiện diện ở bề mặt của chúng. Chúng được phát hiện bởi những kháng thể và những thụ thể của những tế bào miễn dịch. Mỗi kháng nguyên là một “ổ khóa” (serrure), với nó sẽ liên kết những kháng thể hay những tế bào lympho được trang bị bởi “chìa khóa” đúng. Đó là lý do tại sao tất cả chúng ta ngây thơ trước Sars-CoV-2 : có thể chúng ta không có chìa khóa đặc thù để chống lại nó. Những kháng nguyen là cơ sở của vài trắc nghiệm chẩn đoán (sự hiện diện của chúng đánh dấu sự hiện diện của tác nhân gây bệnh) và của những vaccin (được tiếp xúc với kháng nguyên của một tác nhân gây bệnh , cơ thể học nhận biết nó và chống lại nó)
KHÁNG THỂ (ANTICORPS)
(Immunoglobulines, Ig) là những protéine được sản xuất bởi hệ miễn dịch để chống lại một tác nhân gây bệnh. Các kháng thể nhận biết và liên kết với một kháng nguyên nhất định, “làm bại liệt” tác nhân gây bệnh trong khi những tế bào miễn dịch khác cố tiêu hủy nó.
Có nhiều loại immunoglobuline, trong đó IgM và IgG. Được sản xuất ở giai đoạn đầu của nhiễm trùng, những IgM ít đặc hiệu với tác nhân gây bệnh. Những IgG, được sản xuất sau này, đặc hiệu hơn nhiều và dồi dào. Các kháng thể sẽ kích hoạt, một mặt, “système du complément” (cascade de protéines de défense, được sản xuất bởi gan), mặt khác sự thực bào (phagocytose) (quá trình trong đó những phagocyte “nuốt” tác nhân gây bệnh). Những kháng thể này được tìm kiếm bằng những test sérologique và sự hiện diện của chúng chỉ rằng có thể đã bị nhiễm trùng.
(LE FIGARO 20/4/2020)

6/ MIỄN DỊCH SAU COVID-19
Sau nhiễm siêu vi trùng coronavirus, sự bảo vệ thụ đắc (immunité acquise) có thể ngắn hạn, thậm chí không hoàn hảo.Ta có thể đau bệnh trở lại sau một nhiễm đầu tiên bởi virus của Covid-19 ? GS Jean-François Delfraissy, chủ tịch của Hội đồng khoa học, tuần qua đã làm rùng mình khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn cho tuần báo Ý La Republica rằng “thời gian sống của các kháng thể bảo vệ chống Covid-19 là rất ngắn”. Vài ngày sau, trong audition ở Thượng viện, nhà miễn dịch học này đã nói thêm rằng ” những tiên tượng tái kích hoạt có thể xảy đến”.
Giả thuyết rằng những người lành bệnh vẫn dễ bị thương tổn đối với coronavirus chủng mới, như GS Delfraissy dường như lo ngại, khiến phải xét lại tính thích đáng của những “hộ chiếu miễn dịch” (passeport d’immunité), mà vài nước muốn phát cho những người đã bị bệnh để họ có thể lưu thông một cách tự do. Nhất là giả thuyết này làm tiêu tan nhưng cơ may có được một miễn dịch tập thể (immunité collective). Người ta cho rằng dịch bệnh của coronavirus chủng mới sẽ được kiểm soát khi 60% đến 70% dân số được miễn dịch.
” Vì Sars-CoV-2 là một virus hoàn toàn mới, phải công nhận rằng chúng ta chưa biết tất cả những người bị nhiễm có sẽ được miễn dịch hay không, đặc biệt ở những người đã không có triệu chứng, và miễn dịch ở mức độ nào và trong thời gian bao lâu “, Marc Eloit, trưởng laboratoire découverte de pathogènes ở Viện Pasteur, đã cảnh báo như vậy. Khi hệ miễn dịch gặp một virus, nó sản xuất những kháng thể có khả năng nhận biết kẻ lạ và tấn công nó. Nhưng chất lượng của sự bảo vệ này tùy thuộc vào những cá thể, và thời gian bảo vệ thay đổi tùy theo những virus : suốt đời đối với sởi, vài tháng đối với cúm (grippe) hay chỉ vài tuần đối với một cảm cúm (rhume). Còn đối với Sars-Cov-2 thì sẽ ra sao ? Các nhà nghiên cứu không biết điều đó. Đối với những coronavirus khác, lưu hành vào mùa đông trong dân chúng và sinh ra những thể hiền tính, tính miễn dịch là khá ngắn : nó kéo dài nhiều tháng, nhiều nhất là vài năm.
Một công trình nghiên cứu mới được đưa lên mạng trên site MedRxiv đã nêu lên một câu hỏi khác. Các nhà nghiên cứu của đại học Fudan, ở Thượng Hải, đã xem xét huyết thanh của 175 bệnh nhân trong thời kỳ dưỡng bệnh Covid-19. Theo công trình nghiên cứu của họ, phần lớn đã phát triển các kháng thể 10 đến 15 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng. Tuy nhiên, ở 30% trong số những bệnh nhân này, những nồng độ kháng thể đã tỏ ra đặc biệt thấp và 10 bệnh nhân có một nồng độ zéro. ” Vì những bệnh nhân sau cùng này đã xuất viện sau khi lành bệnh, nên có khả năng rằng những khía cạnh khác của đáp ứng miễn dịch nhập cuộc trong cuộc chiến đấu chống lại virus “, Inserm đã nhận xét như vậy trong một thông tri về nghiên cứu. Những công trình nghiên cứu nhằm nhận diện topographie và mức độ kháng thể cần thiết cho một sự bảo vệ đang được tiến hành, và theo dự kiến sẽ cho kết quả trong những tháng đến, Theo Marc Eloit.
NỒNG ĐỘ KHÁNG THỂ TĂNG CAO Ở NHỮNG NGƯỜI GIÀ NHẤT
Ngoài ra, công trình nghiên cứu Thượng Hải gợi ý rằng những người già (ta biết rằng họ bị bệnh nặng hơn) có những nồng độ khang thể cao nhất. Phải chăng điều đó có nghĩa rằng những người có ít hay không có triệu chứng sẽ không được bảo vệ trong trường hợp bị nhiễm lần thứ hai ? Arnaud Moris, giám đốc nghiên cứu ở Institut de biologie intégrative de la cellule hoài nghi về điều đó : ” Một cách tổng quát, sự gặp gỡ với một virus gây nên một đáp ứng trí nhớ (réponse mémoire), sẽ có hiệu quả bảo vệ trong tương lai, ông đã nói như vậy. Sự kiện không phát hiện kháng thể trong máu không có nghĩa rằng cơ thể sẽ không có năng lực tự vệ trong trường hợp nhiễm lần thứ hai”.
Lý do lo ngại cuối cùng : những người ở họ ta tìm thấy virus lần thứ hai sau khi đã lành bệnh. Trường hợp này đã được mô tả ở Nam Hàn và ở Trung Quốc. Theo các chuyên gia, có thể rằng sự “tái nhiễm” này thật ra có thể quy cho marge d’erreur của các test. ” Cũng có thể rằng ở những người này đã có một sự dội ngược (rebond) của charge virale trong giai đoạn lành bệnh (nói một cách khác một phần còn lại của virus không được trừ tiệt đã nổi dậy trở lại) “, Etienne Decroly, giám đốc nghiên cứu CNRS ở laboratoire Architecture et fonction des macromolécules biologiques, Marseille, đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 20/4/2020)

7/ BRUNO LINA ” TA CÒN XA MỚI ĐẠT ĐƯỢC MỘT MIỄN DỊCH CỘNG ĐỒNG “Bruno Lina là chuyên gia về virus học ở đại học Lyon 1. Thành viên của Hội đồng khoa học về Covid-19. Ông phân tích tình hình dịch tễ học của Pháp trước Covid-19
Hỏi : Bao nhiều người đã bị lây nhiễm ở Pháp ?
Bruno Lina : Trong những vùng bị ảnh hưởng nhất, số lượng những người đã phát triển những kháng thể chống lại Sars-CoV-2 không vượt quá 20%. Ở cấp độ quốc gia, chúng ta không vượt quá 10-15%. Đó là một con số khá thấp, bởi vì ta cho rằng một dân số được bảo vệ khi 60% đã được miễn dịch. Chúng ta ở rất xa tỷ lệ đó. Điều này có nghĩa rằng trong những vùng bị ảnh hưởng ít nặng hơn, số lượng những người dễ bị thương tổn còn rất cao. Nếu không có biện pháp khoảng cách xã hội (distanciation) dịch bệnh có thể trở lại rất nhanh. Vậy chúng ta không tránh được một làn sóng dịch bệnh thứ hai.
Hỏi : Làm sao ta có được những thông tin này ?
Bruno Lina : Chúng tôi có những dữ liệu đầu tiên, chưa được công bố. Đó là những chưa được công bố. Đó là những phân tích được thực hiện trong những ngân hàng máu, gần như khắp nơi trên lãnh thổ. Chúng tôi đã phát động những công trình nghiên cứu huyết thanh (études sérologiques) khác nhắm vào những ổ nhiễm trùng. Phương pháp đều như nhau : từ mẫu nghiệm máu, ta xem bao nhiêu người đã có thể phát triển những kháng thể trong những vùng bị ảnh hưởng nhất.
Hỏi : Ý tưởng về một hộ chiếu huyết thanh (passeport sérologique) dường như xa dần. Tại sao ?
Bruno Lina : Trên giấy tờ, một passeport sérologique có đủ tư cách cho phép những người đã có những kháng thể, và do đó được bảo vệ chống lại bệnh, có thể đi lại. Ý tưởng thật quyến rũ, nhưng vấp phải nhiều hạn chế. Hạn chế đầu tiên là marge d’erreur của những test sérologique. Ta không nói ở đây những test PCR phát hiện sự hiện diện của virus, mà nói đến những test sanguin rapide tìm kiếm những kháng thể, trong trường hợp tốt nhất, đáng tin cậy 90%. Điều này muốn nói rằng nhiều người đi lại với laissez-passer sérologique này có thể nghĩ lầm mình được bảo vệ và trở nên lây nhiễm nếu họ mắc phải virus.
Hỏi : Có phải dừng những nghiên cứu về những test sérologique không ?
Bruno Lina : Không, bởi vì nếu marge d’erreur là quá quan trọng ở cấp độ cá nhân, ở mức độ tập thể nó cho phép có một ý tưởng khá đúng về sự tiến triển của bệnh và về số lượng những người đã bị nhiễm.
Hỏi : Vậy một người đã bị bệnh không thể bị nhiễm một lần thứ hai ?
Bruno Lina : Thoạt đầu là không. Phải nhắc lại rằng ta biết rất ít điều về còn virus này và điều đó dễ hiểu, virus chỉ lưu hành từ 5 tháng nay. Những công trình nghiên cứu trên khỉ cho thấy một sự tồn tại mạnh của miễn dịch thụ đắc (immunité acquise). Dầu virus thuộc loại gì, khi một cá thể bị nhiễm, người này sẽ phát triển một đáp ứng, điều mà ta gọi là đáp ứng miễn dịch (réponse immunitaire), bằng cách phát triển những kháng thể và những tế bào lympho T. Để đơn giản hóa, các kháng thể chống lại virus còn những tế bào lympho T tấn công những tế bào bị nhiễm. Nếu đáp ứng này đủ, cơ thể lành bệnh. Nói chung đáp ứng tỷ lệ với mức độ nhiễm virus, điều này giải thích những nồng độ kháng thể quan trọng ít hay nhiều trong máu. Nhưng một khi cơ thể đã mang lại một đáp ứng tốt đối với nhiễm trùng, nó không quên điều đó. Đó là nguyên tắc của sự tạo miễn dịch (immunisation), vả lại được dùng trong tiêm chủng.
Hỏi : Sự bảo vệ này kéo dài bao lâu ?
Bruno Lina : Trí nhớ miễn dịch (mémoire immunitaire) có thể lâu ít hay nhiều. Đối với vài bệnh, như viêm gan, nó kéo dài suốt đời. Nhưng đối với bệnh khác, nó sẽ biết mất. Hoặc bởi vì tác nhân gây bệnh tiến hóa, hoặc bởi vì những lý do khác ta không giải thích được. Do đó sự cần thiết phải tiêm nhắc lại đối với vài vaccin. Đó là trường hợp với vài coronavirus khác. Nhưng ta cứ nói là nhiều tháng. Như tôi đã nói, đứng trước sự mới mẻ của căn bệnh này, không thể chắc chắn, nhưng ta nghĩ rằng tính miễn dịch này có thể chỉ kéo dài một hay hai năm, hay không hoàn toàn bảo vệ. Điều này, nếu không có vaccin và điều trị, là khá gây quản ngại. Khi đó ta không thể tống khứ dịch bệnh, nó sẽ trở lại theo chu kỳ.
Hỏi : Tuy vậy có những người lành bệnh nhưng lại được trắc nghiệm dương tính lần nữa…
Bruno Lina : Có hai giải thích. Giải thích đầu tiên, đó là marge d’erreur của những test PCR. Giải thích thứ hai, đó là nhiễm trùng có lẽ kéo dài lâu hơn điều mà ta tưởng. Vài công trình nói 30 ngày. Trên phương diện lâm sàng, một bệnh nhân có thể có vẻ lành bệnh nhưng luôn luôn mang charge virale, trong trường hợp này có thể được kích hoạt trở lại. Hôm nay không có một bằng cớ nào chứng tỏ rằng các bệnh nhân đã làm một tái nhiễm thật sự.
Hỏi : Đáp ứng miễn dịch của chúng ta có hiệu quả không ?
Bruno Lina : Hơn 80% những người lành bệnh này không biến chứng, vậy thoạt đầu vâng. Nhưng ta không thể loại bỏ rằng những biến chứng có thể là do đáp ứng miễn dịch này.
Hỏi : Làm sao như thế ?
Bruno Lina : Khi một cơ thể bị nhiễm, nó sản xuất những kháng thể. Đối với vài bệnh, có hai loại kháng thể. Những kháng thể trung hòa (anticorps neutralisant) vô hiệu hóa virus. Và những kháng thể làm dễ (anticorps facilitateur), trái lại, có thể giúp virus phát triển. Hiện nay, không có một dữ liệu khoa học nào cho thấy rằng Sars-CoV-2 gây nên sự sản xuất những kháng thể làm dễ này. Nhưng câu hỏi được đặt ra trong cộng đồng khoa học và nhất là trong trường hợp miễn dịch chéo (immunité croisée) với những coronavirus khác.
Hỏi : Điều đó muốn nói gì ?
Bruno Lina : Trước đại dịch này đã hiện hữu những coronavirus người khác. Vậy hệ miễn dịch của một cá thể có lẽ đã đối đầu với chúng. Ta không biết coronavirus chủng mới này, có thể đánh thức một phản ứng miễn dịch, và trong trường hợp Sars-CoV-2 phản ứng này trở nên có hại. Lúc thấy virus mới này, giống với điều mà nó đã biết, cơ thể có thể có một phản ứng không phải là trung hòa mà làm dễ…Đó là yếu tố phải xét đến trong nghiên cứu tìm vaccin.
(LE FIGARO 20/4/2020)
Đọc thêm :
TSYH số 545 : bài số 3

8/ HỆ MIỄN DỊCH CỦA CÁC PHỤ NỮ ĐƯỢC VŨ TRANG TỐT HƠN ĐỨNG TRƯỚC CORONAVIRUS ?
Đứng trước Covid-19, đàn ông và đàn bà không bình đẳng. Tất cả những dữ liệu thế giới chứng thực điều đó : nhiều người đàn ông bị những thể nặng của bệnh hơn đàn bà. Ở Pháp, những người đàn ông chiếm 73% những người được đưa vào hồi sức. Sự kiện là giới nam nhân gấp hai nguy cơ này, theo một công trình nghiên cứu Pháp, được công bố trên mạng 10/4 trong tạp chí Obesity. Những khác nhau này đã được quan sát trong những dịch bệnh trước đây, liên kết với những coronavirus, như dịch bệnh Sars-CoV-1 năm 2003. Những giải thích là gì ?
Những lý do chắc chắn có nhiều. Những khác nhau về hành vi, và vệ sinh đời sống giữa hai giới tính có thể đóng một vai trò. Ngoài ra, vài nhà nghiên cứu gợi ra hướng của một tác dụng sinh học của giới tính lên sự nhạy cảm đối với nhiễm trùng.” Chúng ta biết rằng các phụ nữ phát triển những đáp ứng miễn dịch tốt hơn những người đàn ông, nhất là đứng trước những virus à ARN. Một lợi thế liên quan những kích thích tố và những yếu tố di truyền được mang bởi nhiễm sắc thể X “, GS Pierre Delobei, trưởng khoa các bệnh nhiễm trùng và nhiệt đới, của CHU de Toulouse, đã xác nhận như vậy.
Giả thuyết của ảnh hưởng kích thích tố đã được trắc nghiệm vào năm 2017 lên những con chuột bị nhiễm bởi Sars-CoV-1.” Những con chuột đực có nhiều nguy cơ chết sau một viêm quan trọng trong phổi của chúng, hơn là những con chuột cái. Nhưng khi người ta lấy đi những buồng trứng của các con chuột cái và như thế nguồn của những kích thích tố sinh dục, như oestrogène, khi đó tỷ lệ tử vong của những con chuột cái là tương tự với tỷ lệ tử vong của những con chuột đực. Sự cho một thuốc phong bế thụ thể đối với oestrogène (được sử dụng trong điều trị ung thư vú), gia tăng tỷ lệ tử vong ở những con chuột cái lên hơn 80%. Vậy đúng là những oestrogène có một tác dụng bảo vệ “, BS Jean-Charles Guréy, trưởng kíp nghiên cứu Inserm ở Toulouse, đã giải thích như vậy.
Hormone sinh dục nữ này tác dụng bằng cách tăng cường tính hiệu quả của vài tế bào của hệ miễn dịch bẩm sinh (système immunitaire inné).” Khi virus di vào trong cơ thể, những cellule dendritique sẽ khởi động đáp ứng miễn dịch để kiểm soát sự nhiễm trùng và charge virale bằng cách tiết interféron loại 1. Ở phụ nữ, cơ chế viêm này là sớm hơn và hiệu quả hơn. Đó là một hiện tượng mà chúng ta biết rất rõ với VIH : các phụ nữ có một charge virale thấp hơn đàn ông”, GS Pierre Delobei đã bình luận như vậy.
Trong trường hợp của VIH, sự viêm này cuối cùng cũng có hai ở phụ nữ. Thật vậy, đáp ứng miễn dịch ban đầu này sẽ kích hoạt nhưng tế bào mới của miễn dịch như những tế bào lympho, mà virus có thể gây nhiễm.” Trong nhiễm bởi coronavirus, dường như rằng đáp ứng miễn dịch bẩm sinh là một lợi thế bằng cách kềm hãm một cách nhanh chóng sự tăng sinh của virus”, GS Pierre Delobei.
Ngoài ảnh hưởng kích thích tố, hệ miễn dịch phụ nữ cũng được ưu đãi bởi những yếu tố di truyền liên kết với các nhiễm sắc thể X. ” Gène TLR7, hiện diện trên nhiễm sắc thể X, là một thụ thể đóng một vài trò mấu chốt trong đáp ứng chống virus. Ở chuột, một sự thiếu hụt gène này sẽ dẫn đến một sự thiếu sót trong sự sản xuất các kháng thể. Thế mà ở phụ nữ, gène TLR7 thuộc vào 15% những gène thoát những cơ chế bất hoạt của nhiễm sắc thể X “, BS Jean-Charles Guéry đã giải thích như vậy. Để đơn giản hóa, sự chế tạo các kháng thể ở phụ nữ không thể bị thiếu sót. Và điều có thể tỏ ra là một handicap trong những bệnh tự miễn dịch, hóa ra có lợi đứng trước vài virus.
Đó cũng là điều giải thich tại sao các phụ nữ phát triển một tính miễn dịch hiệu quả chống lại cúm với một liều vaccin hai lần thấp hơn đối với đàn ông. Nhưng nếu giả thuyết về một đáp ứng miễn dịch thích ứng hơn ở phụ nữ đứng trước Covid-19 dường như thích đáng, tuy nhiên nó vẫn cần phải được chuẩn nhận
(LE FIGARO 16/4/2020)

9/ COVID-19 : THỬ NGHIỆM DISCOVERY ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH
GS Gilles Pialoux, trưởng khoa các bệnh nhiễm trùng và nhiệt đới ở bệnh viện Tenon (Paris), cùng với khoa hồi sức của GS Muriel Fartoukh, tham gia vào công trình nghiên cứu châu Âu Discovery. Ông mô tả những phương thức và mục tiêu của thử nghiệm này.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi nghi thức (protocole) của công trình nghiên cứu này ?
GS Gilles Pialoux : Đó là một thử nghiệm động (essai dynamique). Để bắt đầu, thử nghiệm Discovery sẽ đánh giá 5 loại thuốc điều trị trong năm nhóm phân biệt, ở 3200 bệnh nhân ở châu Âu, trong đó 800 ở Pháp, và là những dạng tiến triển (formes avancées) hơn là những dạng bắt đầu (formes débutantes). Công nghiên cứu này được randomisé (rút thăm). Các bệnh nhân sẽ nhận những điều trị chuẩn (soins standards) đơn độc, hay những điều trị chuẩn + remdesivir (một thuốc chống virus được phát triển chống lại virus Ebola), hay những điều trị chuẩn + lopinavir và ritonavir (những thuốc cũ chống VIH), hay những điều trị chuẩn + lopinavir và ritonavir và interféron beta (interféron beta được sử dụng để chống viêm phổi), hay những điều trị chuẩn + hydroxychloroquine. Sự phân tích tính hiệu quả và độ an toàn của thuốc điều trị sẽ được đánh giá 15 ngày sau đưa mỗi bệnh nhân vào thử nghiệm.
Hỏi : Ông ủng hộ hay chống một kê đơn HCQ rộng rãi hơn sự kê đơn hiện đang được cho phép ở Pháp ?
GS Gilles Pialoux : Đó là một hướng điều trị trong số những hướng khác. Tôi tán thành một sự kê đơn Plaquenil có lý luận và được kiểm soát, tôn trọng những chống chỉ định, đồng thời ưu tiên điều mà những nghiên cứu lâm sàng báo cho chúng tôi biết.Vào ngày 2/4, trên site ClinicalTrial.gov của National Institute of Health américain (thống kê tất cả những công trình nghiên cứu đang được tiến hành hay sắp đến của thế giới), có hơn 280 thử nghiệm về đề tài Covid-19 được đăng ký,trong đó 36 công trình trắc nghiệm hydroxychloroquine trong những nước khác nhau trên thế giới (hiện nay 3 ở Pháp). Vài công trình nghiên cứu có mục đích đánh giá tính hiệu quả của hydroxychloroquine trong điều trị những thể nặng (formes sévères) của viêm phổi, những công trình khác đánh giá tính hiệu quả trong những thể vừa phải (formes modérées), những công trình khác sau cùng đánh giá tiềm năng phòng ngừa của hydroxychloroquine trong trường hợp tiếp xúc gần với những người bệnh, như đó là trường hợp đối với những nhân viên điều trị.
Hỏi : Tại sao trắc nghiệm hydroxychloroquine trong những thể nặng có độ bảo hòa dưới bình thường (formes sévères à saturation < la normale) trong khi những người tan thành nó chủ trương trắc nghiệm trong những thể bắt đầu (formes débutantes), trước giai đoạn này ?
GS Gilles Pialoux : Đó là ý kiến của Haut Conseil de la santé publique họp với 7 société savante.
Hỏi : Trong thời hạn nào chúng ta có thể hy vọng có những kết quả của thử nghiệm Discovery ?
GS Gilles Pialoux : Thử nghiệm được tiến hành en temps réel sanitaire và sẽ tiến triển, xét vì cuộc khủng hoảng. Những nhà nghiên cứu đã nhận sứ mạng phản ứng, để làm tiến triển công trình nghiên cứu và chọn lọc những thuốc tốt nhất không mất thời gian. Khi tính hiệu quả quá ít, họ sẽ dừng lại một nhóm nghiên cứu để chuyển qua những thuốc ứng viên khác. Những thử nghiệm nhằm đánh giá những điều trị chống viêm khác nhau trong những thể nặng được diễn ra một cách song hành ở Paris (Corimuno-19) theo cùng nguyên tắc. Không cần phải đốt giai đoạn. Những kết quả sẽ có trong những tuần đến.
Hỏi : Ý kiến của ông về những điều trị có thể tỏ ra hiệu quả nhất trong những thể nặng và trầm trọng ?
GS Gilles Pialoux : Vào đầu tháng tư này, vào cao điểm của cuộc khủng hoảng trong các khoa bệnh viện và hồi sức, xác nhận là khó. Có thể rằng hai phương pháp chính, chống virus (antivirale) và miễn dịch liệu pháp (immunothérapie), là hiệu quả riêng rẻ hay phối hợp…hay chúng phải được phân ly :
1.Tấn công virus càng sớm càng tốt để hạn chế sự tăng sinh (réplication) và làm giảm tính lây (contagiosité) (nguyên tắc “trắc nghiệm và điều trị”, đã chứng tỏ hiệu quả trong những modèle VIH và trong viêm gan C)
2. Ở giai đoạn của những thể nặng và trầm trọng, nhờ đến phương pháp miễn dịch (những kháng thể đơn dòng chống interleukine 6 hay anti-interleukine 1 hay immunoglobuline phát xuất từ những bệnh nhân lành bệnh), bởi vì cường độ của phản ứng miễn dịch và viêm mà nó gây nên khi đó có hại hơn chính virus.
Hỏi : Ông nghĩ gì về tình trạng thiếu khẩu trang ở Pháp…và sự dai dẳng của tình trạng này ?
GS Gilles Pialoux : Đó là một tai tiếng mà ta sẽ phải trở lại sau cuộc khủng hoảng. Tôi không biết sự thiếu khả năng đã nằm ở đâu, vào thời kỳ nào và tại sao từ đó đã không dự liệu gì cả. Chúng ta đã có một báo động dịch về một virus hô hấp vào cuối tháng 12/2019. 27/3/2020, ta vẫn luôn luôn không có khả năng trang bị nước Pháp các khẩu trang ! Thay vào đó, ta đã có một sự phân phối hạn định có tổ chức (rationnement organisé), đặt bệnh viện trong tình trạng căng thẳng thường trực. Loại thiếu hụt này không thuộc phạm vi của một hội đồng khoa học nào. Công việc của chúng tôi không phải là dự kiến, mà là phòng ngừa. Dự kiến, đó là công việc của chính trị gia. Trong bầu không khí này, những phòng mổ ở bệnh viện Tenon đã bị vỡ trận, và các khẩu trang bị đánh cắp trong đêm. Rồi chúng ta đã có một chuyến hàng 20.000 khẩu trang FFP2. Những khẩu trang này đã không bao giờ đến được bệnh viện bởi vì người vận tải đã bị chĩa súng lúc đi ra khỏi kho hàng. Hiện tượng ăn trộm này đã tái diễn ở nơi khác của nước Pháp.Tất cả điều đó là không thể chịu được !
(PARIS MATCH16/4-22/4/2020)
Đọc thêm:
TSYH số 544 : bài số 6 (Essai Discovery)

10/ CHLOROQUINE ĐƯỢC THỬ NGHIỆM TRÊN TOÀN THỂ GIỚI
Ở châu Âu cũng như ở Hoa Kỳ, hàng ngàn bệnh nhân tham gia vào những đánh giá lâm sàng của thuốc chống sốt rétỞ Pháp cũng như trong phần còn lại của thế giới, sự quảng bá truyền thông rất rộng rãi những kết quả đầu tiên của kíp của GS Didier Raoult ở Marseille về sự sử dụng hydroxychloroquine chống Covid-19, đã gây nên những phản ứng rất mạnh, nhiệt tình đối với vài người hay trái lại rất chỉ trích đối với những người khác. Mặc dầu công trình nghiên cứu đầu tiên của Marseille, được thực hiện trên một số lượng bệnh nhân quá nhỏ và với những bias méthodologique quá quan trọng, đã không cho phép quyết định dứt khoát về tính hiệu quả của thuốc chống sốt rét cũ này, nhưng dầu sao nó đã được tiếp theo sau bởi sự phát động của rất nhiều công trình nghiên cứu trên toàn thế giới. Registre américain des essais cliniques đã thống kê không ít hơn 21 công trình nghiên cứu được phát động ở Hoa Kỳ để đánh giá hydroxychloroquine. Site châu Âu liệt kê 24 công trình nghiên cứu trên toàn Liên hiệp châu Âu và Vương quốc Anh, trên một toàn thể hơn 10.000 bệnh nhân. Vài công trình nghiên cứu đưa vào hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bệnh nhân, điều này cho chúng một sức mạnh thống kê đủ để phát hiện một hiệu quả, ngay cả tối thiểu, của thuốc. Và điều đó hẳn cũng cho phép quyết định dứt khoát về những tác dụng phụ : những lợi ích giả định của thuốc điều trị có khá đủ quan trọng để biện minh những biến chứng khả dĩ đối với vài bệnh nhân.
Vài trong số những thử nghiệm này được tập trung vào những bệnh nhân đã ở trong đơn vị điều trị tăng cường, như thử nghiệm Aziquine-ICU ở Cọng hòa tchèque, hay ngay cả trong hồi sức, như đó là trường hợp đối với thử nghiệm Dhysco, được thực hiện ở bệnh viện Saint-Joseph (Paris). Những điều kiện đã không hẳn là lý tưởng, theo GS Raoult, ông giải thích rằng tác dụng chống virus của hydroxychloroquine sẽ mạnh vào lúc đầu của nhiễm trùng hơn là vào lúc cuối, khi đó không nhất thiết virus gây những tổn hại, mà là đáp ứng viêm rất mạnh của cơ thể.
Nhưng những thầy thuốc và nhà khoa học khác định cho điều trị càng sớm càng tốt, ngay khi trắc nghiệm virus cho một kết quả dương tính. Đó là điều được dự kiến cho 1300 bệnh nhân có những nguy cơ trở nặng căn bệnh, trong thử nghiệm Hycovd, được thực hiện bởi GS Vincent Dubée, một thầy thuốc chuyên khoa bệnh nhiễm trùng ở CHU d’Angers, với sự tham gia của 36 bệnh viện khác của Pháp.” Thử nghiệm Angers theo đúng những khuyến nghị của OMS, nhất là đối với những tiêu chuẩn đánh giá. Đó là một điều tuyệt vời”, một dược sĩ chuyên về những thủ thuật thương mãi hóa thuốc, đã bình luận như vậy. Từ đầu tháng tư, một nửa những bệnh nhân nhận hydroxychloroquine, và nửa kia một placebo, một viên thuốc cùng hình dạng và cùng màu. Thủ thuật được thực hiện en double aveugle, nghĩa là bệnh nhân lẫn thầy thuốc không biết thuốc nào được cho, nhằm tránh những biais liên kết với thái độ của người điều trị. Những kết quả đầu tiên được dự kiến trong 20 ngày đến vài tuần, tùy theo tốc độ mà 1300 bệnh nhân sẽ có thể được theo dõi.
BS Jean-Marc Naccache, thầy thuốc chuyên khoa phổi ở bệnh viện Saint-Joseph, Paris, ông cũng đang phát động một thử nghiệm sớm, được gọi là Outcov. ” Ý tưởng là lấy những bệnh nhân dương tính ngay khi họ có một hội chứng hô hấp, chủ yếu là ho, ngay cả không có tính chất nghiêm trọng, trước khi nhập viện họ “, pneumologie parisien đã giải thích như vậy. Thử nghiệm, trong khi chờ đợi sự cho phép đúng quy trình, chia các bệnh nhân thành 4 nhóm. Nhóm một sẽ dùng hydroxychloroquine, nhóm hai dùng azithromycine, kháng sinh được cho phối hợp bởi équipe của GS Raoult, nhóm thứ ba nhận Kaletra, liên kết của hai thuốc chống virus được sử dụng chống VIH, và nhóm thứ tư sẽ không nhận điều trị, để dùng làm điểm so sánh. Cũng như ở Angers, nếu một trong các thuốc cho thấy một tính hiệu quả tức thời và rõ rệt, thử nghiệm sẽ được dừng lại để cho điều trị tốt nhất có thể được cho tất cả các bệnh nhân.
Vài équipe phát động những thử nghiệm ở những giai đoạn còn sớm hơn : đó là để xem thuốc có một tác dụng bảo vệ chống lại coronavirus, trước nhiễm trùng hay không. ” Người ta đã chứng thực rằng có nhiều thử nghiệm điều trị lâm sàng với những thuốc chống sốt rét trên thế giới, nhưng hầu như không có gì hết trong dự phòng, trong khi có một khẩn cấp thế giới cần phải làm chậm lại sự lan tràn của Covid-19″, GS Félix Gutierez Rodaro, trưởng khoa nội ở bệnh viện toàn khoa đại học Elx, trong tỉnh Alicante ở Tây Ban Nha, đã giải thích như vậy. ” Lúc khởi đầu, chúng tôi nghĩ trắc nghiệm hydroxychloroquine, nhưng vì thiếu thuốc này ở Tây Ban Nha, chúng tôi đã hướng về một thuốc chống sốt rét khác, méfloquine (được bán dưới tên Larium của hãng Roche). Thuốc này cũng đã cho thấy một tính hiệu quả in vitro chống lại những coronavirus trước, với cùng nguyên tắc tác dụng.” Thử nghiệm, dự kiến một nhóm placebo, đã bắt đầu trong tỉnh Alicante trên 200 người đã bị tiếp xúc gần với những bệnh nhân Covid-19, nhưng được dự kiến mở rộng thử nghiệm ở một quy mô lớn hơn. Một công trình nghiên cứu phóng ngừa khác thuộc loại này, nhưng với hydroxychloroquine, đã được phát động vào giữa tháng ba ở Barcelone, trên 1000 người bị tiếp xúc với những người bệnh. Những thử nghiệm dự phòng quy mô lớn cũng được phát động ở Hoa Kỳ, trong những tiểu bang Washington, New York và Minnesota.
CHLOROQUINE : 43 TAI BIẾN TIM VÀ TỬ VONG ĐƯỢC BÁO CÁO
Khoảng 100 trường hợp tác dụng phụ “liên quan với những thuốc được sử dụng ở những bệnh nhân bị nhiễm bởi Covid-19″, trong đó 82 biến cố nghiêm trọng đã dẫn đến 4 trường hợp tử vong : những con số cảnh giác dược (pharmacovigilance), được công bố hôm thứ sáu 10/4 bởi Cơ quan dược phẩm (ANSM), khiến phải theo dõi hơn bao giờ hết những thuốc được trắc nghiệm trong khung cảnh của dịch bệnh, ” được sử dụng trong một bối cảnh của những điều trị không bình thường và được cho ở những bệnh nhân khác với những bệnh nhân mà bình thường chúng được cho”.
Một dispositif de surveillance các loại thuốc được sử dụng ở những bệnh nhân bị Covid-19 đã được thiết đặt. Trung tâm cảnh giác dược của Dijon có nhiệm vụ tiến hành điều tra toàn thể các khai bảo về những tác dụng phụ từ 27/3, trong khi trung tâm cảnh giác dược của Nice đặc biệt chú ý những nguy cơ tim mạch.
Phần lớn những trường hợp được liệt kê liên quan đến phối hợp lopinavir-ritonavir (những antirétroviraux được dùng chống VIH) hay hydroxychloroquine (thuốc chống sốt rét) liên kết hay không với azithromycine (kháng sinh). Thường nhất đổ là những nguy cơ được biết và đã được nhan diện. Hydroxychloroquine liên quan trong sự xuất hiện của 43 trường hợp tai biến tim (trên 53 trường hợp được phân tích), đã dẫn đến những chết đột ngột ở 7 bệnh nhân, trong đó 3 được phục hồi bởi sốc điện ngoài “. Cơ quan dược phẩm ghi chú sự xuất hiện của khoảng một chục những rối loạn nhịp trên điện tâm đồ hay những triệu chứng tim và những rối loạn dẫn truyền…, tiến triển thuận lợi sau khi ngừng điều trị “.Tất cả các bệnh nhân này đều được nhập viện.
Hydroxychloroquine và azithromycine cả hai được biết làm dễ một “sự kéo dài của khoảng QT “, một trong những dữ liệu được đo bằng điện tầm đồ. ” Một sự kéo dài của khoảng QT làm dễ nguy cơ loạn nhịp nặng và chết đột ngột ở vài bệnh nhân “, BS Jeremy Descoux, cardiologue, và bệnh cảnh có thể gia tăng trong trường hợp hạ nồng độ potassium (hypokaliémie), thường được quan sát trong Covyd-19. Một công trình nghiên cứu đã nhận thấy một sự kéo dài của khoảng QT ở 11% những bệnh nhân, được điều trị bởi phối hợp của hai loại thuốc.
THEO DÕI NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ
Mọi loại thuốc đều có những tác dụng phụ, nhưng đó không phải là lý do để không sử dụng những dược phẩm này : nếu lợi ích được dự kiến cao hơn nguy cơ, ta kê đơn chúng đồng thời theo dõi sự xuất hiện của những tác dụng phụ. Nhưng “trong trường hợp Covid-19, hydroxychloroquine đã không chứng tỏ lợi ích của nó. Ngược lại, những nguy cơ của chloroquine được xác nhận. Đó là lý do tại sao không có vấn đề cho chloroquine ngoài những thử nghiệm lâm sàng”, GS Milou-Daniel Drici, cardiologue và pharmacologue, giám đốc của trung tâm cảnh giác dược của Nice, có nhiệm vụ theo dõi những biến cố tim liên kết với hydroxychloroquine, đã ghi chú như vậy.
ANSM đánh giá rằng những con số này “là một tín hiệu quan trọng”. Một lý do đúng đắn khi chỉ dành chloroquine trong môi trường bệnh viện, dưới sự theo dõi sát “. Ở Thụy Điển, Cơ quan dược phẩm đã kêu gọi chỉ dành sự sử dụng hydroxychloroquine trong những thử nghiệm lâm sàng. Còn OMS, cơ quan này ngay cuối tháng ba, đã cảnh giác, qua Uppsala Monitoring Center, chống lại auomédication với thuốc này.
(LE FIGARO 11 & 12/4/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 544 : bài số 7
– TSYH số 542 : bài số 3, 4 (chloroquine)
– TSYH số 541 : bài số 6, 7, 8, 9 (chloroquine)
– TSYH số 538 : bài số 10 (chloroquine)
– TSYH số 536 : bài số 9 (chloroquine)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/4/2020)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Thời sự y học số 546 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 547 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 551 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 556 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s