Thời sự y học số 545 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CORONAVIRUS : ĐIỀU TA BIẾT VỀ CON VIRUS NÀY…VÀ ĐIỀU TA CHƯA BIẾT.
Những cơ chế tác dụng của coronavirus Sras-CoV-2 bắt đầu được giải mã nhưng vẫn còn nhiều vùng tối.CORONAVIRUS : LÝ LỊCH
+ Họ của những coronavirus (coronaviridae) là một trong những nguyên nhân chính của những bệnh lý hô hấp ở người, với Orthomyxoviridae (chịu trách nhiệm bệnh cúm), Paramyxoviridae (viêm tiểu phế quản, sởi, quai bị…) Picornaviridae (rhinovirus), và Adenoviridae (gây viêm họng, viêm kết mạc và viêm phổi).
+ Coronavirus là những virus mà vật liệu di truyền (matériel génétique) gồm có ARN (một phân tử gần với ADN nhưng chỉ có một nhánh). Được gọi là coronavirus bởi vì chúng có dạng couronne (vòng), liên kết với những “spicules” (thể kìm) hiện diện ở bề mặt của vỏ bọc của chúng, có thể thấy ở kính hiển vi.
+ Coronavirus gây nhiễm rất nhiều động vật có vú, và căn bệnh đầu tiên liên kết với một coronavirus đã được quan sát ở gia cầm, trong những năm 1930 ở Hoa Kỳ. Coronavirus đầu tiên gây nhiễm người đã được mô tả năm 1965, nhưng mãi cho đến khi xuất hiện Sars-CoV-2 cuối năm 2019, chỉ sáu chủng được biết là có thể gây nhiễm người. 4 chủng gây phần lớn những cảm cúm (rhume) đơn giản (những coronavirus chịu trách nhiệm từ 15 đến 30% những cảm cúm). Nhưng ngoài coronavirus chủng mới, xuất hiện vào tháng 12 vừa rồi ở Trung quốc, chỉ hai chủng coronavirus, xuất hiện lần lượt vào năm 2002 (Sars-CoV, được xem như được trừ triệt) và năm 2012 (Mers-CoV), đã là nguồn gốc của những dịch viêm phổi nặng. Những ổ chứa động vật của những virus này là dơi và dromadaire (lạc dà một bướu) ; dơi cũng là ở chứa của Sars-CoV-2, nhưng pangolin bị nghi như là ký chủ trung gian truyền virus cho người. Hiện nay không có một vaccin nào cho 3 coronavirus này, và điều trị chủ yếu là triệu chứng.Hỏi : Virus phát xuất từ những động vật nào ?
Đáp : Nguyên thủy, Sras-CoV-2, thuộc họ những coronavirus (do chữ latin corona hay couronne, vì hình dạng gợi couronne d’épines của Jésus-Christ), có lẽ phát xuất từ một con dơi (chauve-souris). Nhiều chỉ dấu hướng theo chiều hướng này : đó là một động vật có vú, cùng lớp động vật với người, và dơi được biết là ổ chứa (réservoir) của nhiều virus mới phát khởi (sởi, quai bị, cúm, viêm não…). Dơi cũng cho trú ngụ những virus động vật, như virus gây maladie de Carré ở chó.Coronavirus phải chăng đã được cho tạm trú bởi một ký chủ trung gian trước khi gây nhiễm con người ? Pangolin, loại hiện diện trên vài chợ trung quốc, đã được gợi ra nhưng hiện nay không chắc chắn. Phải có toàn thể các dữ liệu di truyền của các coronavirus của tất cả các loài này và so sánh chúng với những dữ liệu của Sras-CoV-2 để biết rõ ràng đích xác.
Hỏi : Số lượng những người lành mang virus hay ít triệu chứng ?
Đáp : Đó là một trong những ẩn số lớn nhất, dẫu sao ẩn số này sẽ quyết định tầm quan trọng của dịch bệnh. Thật vậy, virus càng đi qua không ai thấy (không gây một triệu chứng nào) và truyền mà người mang nó hay nhân viên y tế không nhận thấy, thì virus càng lan tràn một cách im lặng và gây nhiễm càng nhiều người. Một cách nghịch lý, tính nguy hiểm (dangerosité) thấp của virus ở giai đoạn này là lực mạnh nhất của nó vì lẽ điều này cho phép virus phát tán rộng. Thời gian của thời kỳ tiềm tàng (temps de latence) này chỉ được biết một khi đại dịch tắt và khi các nhà khoa học có đủ thời gian nhìn lại.
Trường hợp của Diamond Princess, du thuyền bị phong tỏa lâu trong một cảng của Nhật Bản với những hành khách, đã cho phép phát hiện một mặt nhỏ mới của căn bệnh : vài người có thể bị nhiễm nhưng không phát triển triệu chứng. Những test được thực hiện trên toàn thể các du khách đã cho thấy rằng trên 634 trường hợp dương tính, 18% không có triệu chứng. Từ đó, khoảng hai chục công trình nghiên cứu đã cung cấp tư liệu cho hiện tượng này. Phần những người dương tính và không triệu chứng biến thiên giữa 5% và 80%. Sự thật nằm ở nơi nào đó giữa hai thái cực này. Ngoài ra, càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu dường như chỉ rằng những người lành mang trùng (porteurs sains) này có thể truyền virus, nhưng giả thuyết này vẫn cần được xác nhận.
Hỏi : Thời gian ủ bệnh (durée d’incubation) ?
Đáp : Vào lúc chúng tôi viết những dòng chữ này, các chuyên gia ước tính rằng thời gian ủ bệnh trung bình của Sras-CoV-2 (thời hạn trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên) là 3 đến 5 ngày, nhưng nó có thể kéo dài đến 14 ngày. Trái với Sras (2002-2003), gần như luôn luôn cho những thể nặng, Sras-CoV-2 gây ít triệu chứng và được thể hiện bằng một bệnh hiền tính trong hơn 80% những trường hợp. Ngược lại nó rất lây nhiễm, mỗi bệnh nhân trung bình gây nhiễm 2 và 3 người.
Hỏi :Tính chất lây nhiễm (contagiosité) trong thời gian ?
Đáp : Tính chất lây nhiễm của một virus được đánh giá nhờ một chỉ dấu (indicateur) được gọi là “tỷ lệ sinh sản cơ bản” (taux de reproduction de base) (hay RO), cho phép đánh giá số lượng trung bình những người mà một bệnh nhân sẽ làm lây nhiễm. Nó tùy thuộc vào thời gian lây (durée de contagiosité), số những người tiếp xúc mà ta có mỗi ngày và xác suất mà một tiếp xúc giữa một người bị nhiễm và một người lành mạnh được kết thúc bởi một sự truyền virus. Những công trình nghiên cứu chỉ rằng nếu không có những biện pháp khoảng cách xã hội (distanciation sociale), chỉ số này nằm giữa 2 và 3 đối với coronavirus chủng mới. Sự lan tràn nhanh chóng của nó có thể được giải thích bởi sự kiện là những người bị nhiễm có thể truyền nó hai đến ba ngày trước khi xuất hiện các triệu chứng. Ngoài ra, coronavirus chủng mới này dễ dàng đi vào trong các tế bào hơn coronavirus của Sras.
Hỏi : Những triệu chứng ?
Đáp : Những triệu chứng rất khác nhau.Những triệu chứng xuất hiện dần dần : đau đầu, đau cơ, mệt. Sau đó là sốt và ho khan với, vào lúc cao điểm của căn bệnh, có thể có đau ngực và khó thở. Ở vài bệnh nhân, những triệu chứng này được kèm theo bởi chảy nước mũi hay đau họng. Những dấu hiệu lâm sàng đã được mô tả như là một sự mất đột ngột vị giác (ageusie) và khứu giác (anosmie), ỉa chảy hay sự xuất hiện của những vết nứt da vì lạnh (engelures) ở đầu của các bàn tay và bàn chân. Nói chung, những triệu chứng kéo dài khoảng hai tuần. Vài người không có một triệu chứng nào.
Hỏi : Những trường hợp trở nặng đột ngột ?
Đáp : Sau 7 đến 9 ngày, vài bệnh nhân trở nặng đột ngột, với sự xuất hiện của khó thở, những dấu hiệu của một viêm phổi. Sự chuyển qua giai đoạn trầm trọng của bệnh có thể được giải thích bởi sự hưng phấn của hệ miễn dịch, được gọi là “orage cytokinique”. Các cytokine là những protéine có nhiệm vụ chiêu mộ những tế bào phòng vệ miễn dịch ở những vùng bị nhiễm trùng. Một sự dư thừa của cytokine gây nên một đáp ứng miễn dịch quá cỡ, có thể dẫn đến suy một hay nhiều cơ quan và có thể gây tử vong. Nhiều công trình nghiên cứu đã phát hiện hiện tượng này ở những bệnh nhân Covid-19 trong tình trạng nguy kịch. Ở giai đoạn này, các nhà khoa học không biết tại sao vài bệnh nhân phát triển sự đáp ứng không cân xứng (réponse disproportionnée) này còn những bệnh nhân khác thì không. Những yếu tố di truyền có lẽ là nguyên nhân.
Hỏi : Một tỷ lệ gây chết (létalité) khó đánh giá ?
Đáp : Covid-19 là “10 lần gây chết người hơn virus gây đại dịch cúm H1N1 của năm 2009 “, tổng thư ký liên hợp quốc Tedros Adhanom Ghebreyesus đã tuyên bố như vậy. Trên thực tế khó đánh giá tỷ lệ gây chết của virus mới này (số người chết vì Covid-19 so với số những người bị nhiễm). Theo đại học Oxford, tỷ lệ này dao động giữa 0,20% và 15,75% tùy theo nước ! Một sự khác nhau lớn được giải thích bằng nhiều cách : chính sách điều tra phát hiện, khả năng tiếp nhận của các bệnh viện, profil của dân chúng… Tính chất thời gian cũng phải được xét đến : ở Trung Quốc, tỷ lệ gây chết cao hơn nhiều vào lúc đầu của làn sóng dịch đầu tiên (17%) so với vào lúc cuối (0,7%). Hiện nay, người ta ước tính rằng Covid-19 giết chết khoảng 5% những bệnh nhân được chẩn đoán. Một con số phải được xét với nhiều thận trọng, vì lẽ ta không biết bao nhiêu người thật sự bị nhiễm bởi corona, vì nhiều bệnh nhân không phát triển triệu chứng hay không được trắc nghiệm.
Hỏi : Khả năng của virus ở trong không khí và trên các bề mặt ?
Đáp : Ở Pháp, mệnh lệnh là tôn trọng khoảng cách một mètre giữa những người, bởi vì những giọt nhỏ (gouttelettes), được phát ra trong trường hợp ho hay hách xì và có thể chứa virus, sẽ quá nặng để có thể vẫn treo lơ lửng trong không khí. Tuy nhiên khoảng cách này bị xét lại : các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng “đám mây khí” (nuage gazeux) được phát ra trong trường hợp ho hay hách xì có thể di chuyển đến 8,2 m. Một công trình nghiên cứu khác đảm bảo rằng Sars-CoV-2 có thể trôi nổi trong những giọt nhỏ khí dung (gouttelettes d’aérosol) trong 3 giờ và vẫn có khả năng gây nhiễm. Vào cuối tháng ba, OMS đã công nhận rằng virus có thể được truyền quá một mètre trong vài thủ thuật y khoa đặc biệt. Vì cuộc tranh luận không ngă ngũ, nên nhiều nhà khoa học khuyến nghị đeo khẩu trang bắt buộc.
Khi những giọt nhỏ rơi xuống, chúng đỗ trên các bề mặt, do đó những bề mặt này bị lây nhiễm. Một công trình nghiên cứu, được đăng trong New England Journal of Medicine, gợi ý rằng 99% những hạt siêu vi trùng (particules virales) mất tính chất gây nhiễm của chúng sau 5 giờ 30 trên đồng, 24 giờ trên carton, 40 giờ trên thép và 48 giờ trên plastique. Nhưng ta không biết 1% còn lại có đảm bảo một tính vô hại hoàn toàn hay không.
Hỏi : Tỷ lệ tử vong ?
Đáp : Vào lúc chúng tôi viết những dòng chữ này, tỷ lệ tử vong là khoảng 2% : 2 người chết đối với 100 người bị lây nhiễm. Hoặc 10 lần hơn tỷ lệ tử vong của cúm. Nhưng, con số này tiến triển một cách thường trực và có tất cả những cơ may giảm với dòng thời gian và khi có những dữ liệu mới. Lý do chính : số lượng những người bị lây nhiễm quan trọng hơn nhiều số lượng được hạch toán hôm nay, vì lẽ nhiều người mang virus mà không biết.
Hỏi : Tính miễn dịch ?
Đáp : Trong phần lớn các trường hợp, khi cơ thể đối đầu với một virus hay một vi khuẩn, nó chế tạo những kháng thể và những kháng thể này tạo một trí nhớ miễn dịch (mémoire immunitaire). Nếu tác nhân gây bệnh lại xuất hiện một lần nữa, cơ thể sẽ nhận diện nó và sẽ có những vũ khí để chống lại nó. Nhưng trong trường hợp coronavirus chủng mới, điều đó không chắc chắn. ” Chúng tôi đã chứng thực rằng thời gian sống của những kháng thể bảo vệ chống lại Covid-19 là rất ngắn. Và chúng tôi thấy ngày càng nhiều những trường hợp tái phát ở những người đã bị một nhiễm corona đầu tiên “, Jean-François Delfraissy, chủ tịch của hội đồng khoa học về Covid-19, đã tuyên bố như vậy trên nhật báo Ý La Republica, ngày 12/4. Một công trình nghiên cứu sơ bộ của đại học Thượng Hải dường như chỉ rằng không phải tất cả các bệnh nhân đều phát triển trí nhớ miễn dịch này. ” Về sự lành bệnh và khả năng của một tái nhiễm bởi virus, chúng tôi không có câu trả lời. Đó là một ẩn số “, Mike Ryan, giám đốc của chương trình quản lý các cuộc khủng hoảng y tế ở OMS đã công nhận như vậy. Vậy chúng tôi không biết những người lành bệnh có một miễn dịch hay không và nếu có thì trong thời gian bao lâu. Ngoài ra, những trường hợp những người tái nhiễm sau khi đã âm tính đặt câu hỏi cho các nhà khoa học.
Hỏi : Virus đã biến dị không ?
Đáp : Không chút nghi ngờ, bởi vì một virus, dầu nó thuộc loại nào, đều biến dị một cách thường trực. Nguyên nhân : những sai lầm sao chép phạm phải trong chất liệu di truyền của nó khi virus tăng sinh. Tầm quan trọng của sự biến dị này là một điểm chủ yếu cần biết bởi vì nó có tính chất quyết định để xác định mục tiêu của đáp ứng điều trị. Như thế một vaccin sẽ càng hiệu quả khi virus càng ít biến dị giữa lúc chế tạo nó và lúc đưa sử dụng cho bệnh nhân nhiều tháng sau. Tỷ lệ biến dị này là khá lớn đối với virus cúm, lý do giải thích tại sao virus của cúm mùa chị hiệu quả ở 30 đến 60% những người tùy theo năm. May mắn thay, họ của các coronavirus nổi tiếng biến dị khá ít. Vậy các nhà nghiên cứu có hy vọng đúng đắn rằng vaccin tương lai sẽ tỏ ra rất hiệu quả.
Một công trình nghiên cứu, được công bố 8/4 trong tạp chí PNAS cho thấy rằng từ nay có 3 biến thể của coronavirus (một giới hạn ở châu Á, hai được tìm thấy ở châu Âu và châu Mỹ). Tuy vậy điều này không có nghĩa rằng virus đã trở nên nguy hiểm hơn. Các virus, và đặc biệt những coronavirus, được biết về năng lực biến dị của chúng. Nếu một biến dị tỏ ra có lợi cho virus, nó được bảo tồn. Những nguy cơ mà một biến dị dẫn đến một sự thay đổi hành vi của virus là rất thấp. ” Trong 99,99% những trường hợp, điều đó không thay đổi gì hết, ta nói đó là những biến dị thầm lặng (mutations silencieuses), Etienne Simon-Lorière, chuyên gia về virus học phân tử và giám đốc nghiên cứu ở CNRS, đã giải thích như vậy. ” Một virus giết tất cả các ký chủ mà nó gây nhiễm sẽ biến mất một cách không tránh được, vậy đó không phải nằm trong lợi ích của nó, Etienne Decroly đã nói như vậy. Ngược lại, một virus, gây nhiễm nhiều người mà không giết họ, sẽ lan tràn tốt hơn. Sự tiến hóa không chọn lọc những virus gây chết người nhất, mà là những virus lan tràn tốt nhất.
Hỏi : Virus sẽ biến mất vào lúc đẹp trời ?
Đáp : Đó là điều mà nhiều nhà nghiên cứu và thầy thuốc hy vọng. Dựa vào điều xảy ra với cúm mỗi năm, họ đánh giá rằng Sras-CoV-2 sẽ chết dần đi từ nay đến mùa hè. Nếu sự biến mất này được xác nhận, điều đó không hề do sự tăng cao của nhiệt độ, vì tất cả các virus đều quen với trời nóng và phát triển trong cơ thể ở nhiệt độ gần 40 độ C. Chính những thói quen của con người làm hại nó : vào những ngày đẹp trời, mỗi người đi ra ngoài nhiều hơn, đến những nơi không đóng kín và trong những ngôi nhà được thoáng khí hơn. Điều này hạn chế sự truyền giữa người với người của các tác nhân sinh bệnh, dầu chúng là những tác nhân gì.
Coronavirus sẽ biến mất vào mùa hè ? Không có gì là chắc chắn cả. Mặc dầu, cho đến nay, dịch bệnh dường như ít lan tràn hơn trong Nam bán cầu, nhưng đó có phải là do nhiệt độ hay do sự kiện là virus đến đó muộn hơn hay do các test được thực hiện ít hơn ? Nếu dịch bệnh chậm lại nhờ mùa hè, phải chăng nó sẽ không bắt đầu lại mạnh hơn khi trời lạnh lại đến ? Một công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Science, căn cứ trên nhiều kịch bản để chỉ rằng sự dao động mùa (fluctuation saisonnière) này có lẽ không đủ để đưa đến sự suy tàn của những trường hợp Covid-19 nếu không thiết đặt những chính sách y tế hà khắc. Vì không có vaccin, vậy phải dự kiến những đợt tái phát mùa đông của Sras-CoV-2 trong những năm đến.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2020 ; LE FIGARO 16/4/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 531 : bài số 3, 4, 6
– TSYH số 532 : bài số 1, 2
– TSYH số 533 : bài số 7
– TSYH số 536 : bài số 8
– TSYH số 537 : bài số 2, 3
– TSYH số 538 : bài số 8 (létalité), 7, 9
– TSYH số 539 : bài số 3 (mutation)

2/ COVID-19 : MỘT NHIỄM TRÙNG ĐẶC BIỆT LÉN LÚT
Những guồng máy của bệnh lý lâu không có triệu chứng này là những guồng máy nào ? Bệnh ảnh hưởng lên phổi như thế nào ?
Vũ khí nguy hiểm nhất của một tác nhân gây bệnh đôi khi ở chỗ là nó không gây nên những triệu chứng. Đó là điều được nhắc lại bởi sự xuất hiện của Sras-CoV-2, nguồn gốc của dịnh bệnh Covid-19. Vào lúc chúng tôi viết những dòng chữ này, 35 đến 50% những người bị nhiễm không có hay có ít triệu chứng, mặc dầu tiềm năng lây nhiễm như những người có triệu chứng. Những người không triệu chứng có thể truyền virus trong thời kỳ ủ bệnh (période d’incubation), trung bình từ 5 đến 6 ngày. Thế mà nhiều người đã không được phát hiện ! Một mặt bởi vì 81% những trường hợp triệu chứng là hiền tính (sốt và ho) và bệnh nhân không nhất thiết phải đi khám bệnh ; mặt khác, vì thiếu sự điều tra phát hiện hệ thống ở qui mô rất lớn. Bấy nhiêu yếu tố giải thích cho một sự khuếch tán thầm lặng (diffusion silencieuse). Như thế, vượt qua một điểm nào đó, dịch bệnh phát khởi một sự ào đến đột ngột của các bệnh nhân bị những thể nặng. Theo một công trình nghiên cứu trung quốc trên 72.000 trường hợp, 19% các bệnh nhân có những thể nặng (14%) hay nguy kịch (5%). Ngoài những triệu chứng thông thường (sốt, ho có đờm hay ho khan…) những người này sẽ gặp những khó khăn hô hấp, đi đến hội chứng hô hấp cấp tính nặng (Sras : syndrome respiratoire aigu sévère), đã được gặp trong trận dịch Sras-CoV năm 2002-2003. Nguy cơ gia tăng với tuổi tác và những bệnh lý liên kết (những bệnh tim, cao huyết áp, đái đường…). Còn quá sớm để nói tỷ lệ tử vong nào của những người từ 30 đến 60 tuổi bị những thể nặng, nhưng đã có những tỷ lệ tử vong ở những người già. Vượt quá 70 tuổi, tỷ lệ tử vong là 8% ; sau 80 tuổi là 14,8%, vẫn theo công trình nghiên cứu trung quốc.(La mise sous assistance respiratoire permet de combattre les symptomes et aider l’organisme du malade à prendre le dessus sur l’infection ( ici à Wuhan, en Chine, le 1er Mars).
Khi những triệu chứng xuất hiện, virus đã biến đổi lớp niêm mạc của các phế quản và phổi bằng cách phá hủy những tế bào trong đó nó tăng sinh ; khi đó virus được nhận diện bởi hệ miễn dịch ; hệ này phát khởi viêm để chống lại nó. Bệnh nhân được cho oxygène hay được hỗ trợ bởi một thiết bị thông khí nhân tạo. Trong vài trường hợp, một thiết bị nặng nề được gọi là ECMO (oxygénation par membrane extracorporelle) cho phép thực hiện sự oxy hóa máu và tính liên tục của nhịp tim. Ecmo là một kỹ thuật mũi nhọn, Pháp có dưới 500 máy. Phần còn lại, Pháp có 7364 giường trong những đơn vị điều trị tăng cường và 5000 giường trong khoa hồi sức, theo Tổng giám đốc y tế.
TẤT CẢ TÙY THUỘC VÀO SỰ DỒN ĐẾN TRONG CÁC BỆNH VIỆN.
Chụp X quang, thậm chí scanner của phổi, nhịp tim, tần số hô hấp, tỷ lệ oxy hóa của máu…Bệnh nhân nặng hay nguy kịch được monitoring. Nhưng khi viêm phổi do Sras-CoV-2 thoái biến thành hội chứng hô hấp cấp tính nặng (syndrome respiratoire aigu sévère), hội chứng này gây nên sự phá hủy của các phế nang và một phù nề. Ở giai đoạn này, tỷ lệ tử vong là 30 đến 50%. Tìm thấy những điều trị hiệu quả là thiết yếu để cải thiện tiên lượng. Bởi vì ngay cả khi được thông khí nhân tạo, bệnh nhân cuối cùng là nạn nhân của chính cơ thể mình : hệ miễn dịch phóng thích với số lượng quá lớn những protéine (cytokine) nhắm vào tác nhân gây bệnh. ” Cơn bão cytokine ” (tempete cytokinique) này lan tràn trong hệ máu và có thể dẫn đến sự suy của những cơ quan sinh tử (gan, thận, tim, tụy tạng).
Chung cục, tỷ lệ gây chết (létalité) của Covid-19 tùy thuộc hầu như hoàn toàn vào số lượng những bệnh nhân ào đến trong các bệnh viện và do đó phần quần thể bị nhiễm. Vào lúc chúng tôi viết những dòng chữ này, Ý, bị tràn ngập, ghi nhận một tỷ lệ 7,7%, so với chỉ 0,2% ở Đức hay 0,9% ở Nam Hàn…và 2,2% ở Pháp.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2020)

3/ SRAS-COV-2 SẼ Ở LÂU DÀI VỚI CHÚNG TA ?
GS Bruno Lina, giám đốc của Laboratoire Virpath ở Trung tâm nghiên cứu quốc tế virus học, membre du Conseil scientifique présidentiel, trả lời cuộc phỏng vấn sau đây.
Hỏi : Virus Sras-CoV-2 cuối cùng sẽ biến mất ?
GS Bruno Lina : Không, nó sẽ trở nên endémique. Có nghĩa là nó sẽ lưu hành khắp nơi trên hành tinh một cách dai dẳng. Chúng ta đối diện với một virus đã đi ra từ một ổ chứa động vật, con dơi (chauve-souris), để trở nên có thể truyền bệnh một cách tuyệt hảo từ người sang người. Thế mà không có một tín hiệu nào cho phép nói rằng sự truyền này sẽ dừng lại. Có lẽ sẽ có một tác dụng của mùa (effet de saisonnalité), sẽ chuyển virus đến Nam bán cầu, nhưng đó là một virus mới phát khởi (émergent), nó sẽ tồn tại lâu dài với chúng ta, cũng như hàng trăm virus khác của những nơi khác. Trong trường hợp này, đó sẽ là coronavirus humain endémique thứ năm, không kể dịch bệnh Sras (2003) và Mers (2012)
Hỏi : Có phải lo ngại những biến dị có thể xảy ra không ?
GS Bruno Lina : Trái với một định kiến, một virus có khuynh hướng đánh mất độc lực của nó khi nó lưu hành một cách tự do. Thật vậy, lợi ích tiến hóa của nó là lưu hành càng nhiều càng tốt và vì vậy chính những thể ít hung dữ nhất trở nên thường gặp nhất. Vì lẽ khi đại đa số các bệnh nhân càng lành bệnh, một tính miễn dịch được gọi là nhóm (immunité de groupe) sẽ được thiết đặt ở quy mô hành tinh, điều này sẽ kềm hãm sự khuếch tán của virus và đồng thời khả năng gây bệnh của nó. Hôm nay, 4 coronavirus humain khác được biết chỉ còn gây những cảm cúm (rhume) trong phần lớn các trường hợp. Tuy vậy, một ngày nào đó chúng cũng đã đi ra từ một ổ chứa động vật.
Hỏi : Chiến lược nào trong lúc chờ đợi ?
GS Bruno Lina : Làm chậm lại với bất cứ giá nào sự khuếch tán của virus bằng cách tôn trọng những biện pháp giam hãm (confinement). Đó là điều sinh tử để cho những cơ sở điều trị vẫn có khả năng đáp ứng với sự đổ dồn đến của các bệnh nhân. Đó là một cố gắng tập thể để tránh tai họa, không những liên quan những người điều trị và hệ y tế, mà còn toàn thể những người Pháp. Mỗi người trong chúng ta phải đóng một vai trò rất quan trọng.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2020)

4/ CUỘC CHẠY ĐUA CUỐNG CUỒNG ĐỂ TÌM RA MỘT PHƯƠNG THUỐC HIỆU QUẢ
Nhiều chiến lược được dự kiến về những điều trị và nhất là sự sử dụng những thuốc chống virus hiện có.
Không thể tiến hành cuộc chiến tuyên bố với Sras-CoV-2 mà không có vũ khí. Những điều trị cấp cứu được kèm theo bởi một nghiên cứu tích cực để tìm ra những điều trị hóa học nhắm vào chính nhiễm virus này. Một cuộc tấn công hai mặt để cho phép, ngay khi có thể được, cải thiện tiên lượng của những trường hợp nặng, hoặc trung bình 20% những trường hợp dương tính, vào giờ phút mà chúng tôi viết những dòng chữ này. Nhưng cũng cho phép tăng tốc sự chữa lành và như thế làm nhẹ gánh nhanh hơn các khoa điều trị. Nhiều chiến lược được dự kiến về những điều trị, bắt đầu với sự sử dụng những thuốc chống virus hiện đã có.Đó là trường hợp của remdesivir, được phát triển không thành công chống lại Ebola bởi viện bào chế Gilead, và hôm nay có vẻ là điều trị hứa hẹn nhất chống lại Sras-CoV-2. Nó tác dụng bằng cách biến đổi những protéine ở bề mặt của những tế bào bị virus nhằm đến, như thế tránh khỏi sự tăng sinh của các virion. Đó là một “phân tử nhỏ có khả năng đi đến toàn thể các ngăn của cơ thể và ta biết rằng nó khuếch tán một cách hoàn hảo trong phổi, cơ quan đích của bệnh, GS Denis Malvy, trưởng unité Maladies tropicales et du voyageur của CHU de Bordeaux, đã chỉ như vậy. Hôm nay, đó là ứng viên có sức thuyết phục nhất.” Rất được dùng trong thí nghiệm ở Trung Quốc, remdesivir đã là đối tượng của một thử nghiệm lâm sàng được gọi là giai đoạn 3 trên 760 bệnh nhân trong đất nước này, mà những kết quả được dự kiến 27/4. Loại thử nghiệm này, được thực hiện đối chiếu với placebo, en double aveugle, là phương tiện duy nhất để xác lập nhưng bằng cớ vững chắc của điều trị tốt nhất có thể được. Chúng cho phép so sánh tính hiệu quả của những điều trị khác nhau tùy theo tình trạng ban đầu của bệnh nhân.
Ở châu Âu, 3200 bệnh nhân, trong đó 800 ở Pháp, đã được tuyển mộ để so sánh 4 chiến lược điều trị bằng cách tạo nhiều nhóm : điều trị cổ điển đơn độc (săn sóc, hỗ trợ hô hấp), hay được liên kết với remdesivir, hay với Kaledra, một antirétroviral được sử dụng chống VIH và được cấu tạo bởi hai loại thuốc (lopinavir và ritonavir). Ở đây, chính sự sản xuất protéine và enzyme bị ức chế bởi những virion, điều này chặn sự lan tràn của virus trong các mô. Phương pháp sau cùng là liên kết những “interféron bêta” với Kaledra, những phân tử được sản xuất bởi hệ miễn dịch để cải thiện sự đề kháng của các tế bào với nhiễm trùng. Trên bình diện thí nghiệm, chính những chiến lược này đã được sử dụng với sự thành công nhất.
HƯỚNG ĐIỀU TRỊ BẰNG CHLOROQUINE ĐƯỢC THĂM DÒTrong tình trạng khẩn cấp và trước sự đổ dồn của các bệnh nhân đến bệnh viện, những thử nghiêm khác đã được loan báo, đôi khi ồn ào. Thí dụ chloroquine, thuốc chống sốt rét được sử dụng từ 60 năm, được gợi lên một cách đều đặn, vào mỗi dịch bệnh virus mới phát khởi (Sras, Ebola, Mers), vì tính chất chống virus gián tiếp của nó. Tuy nhiên lần đầu tiên, ở Trung quốc, ở Ý hay ở Pháp (Marseille và Paris), chloroquine đã được thử nghiệm ở những bệnh nhân, và không chỉ còn trong phòng thí nghiệm. Mặc dầu những dữ liệu còn một phần và thuốc có thể trở nên chết người nếu liều lượng không đúng đắn, nhưng hướng điều trị này có lẽ đã chưa nói lời cuối.
Ngoài ra, cuối tháng ba, những viện bào chế dược phẩm lớn Sanofi và Regeneron đã phát động một thử nghiệm lâm sàng để cải tạo (repositionner) thuốc chống viêm đa khớp dạng thấp thành thuốc chống Covid-19 : Kevzara (sarilumab) là một kháng thể được cloné trong phòng thí nghiệm và được cho vì tác dụng chống viêm của nó. Ở Naples (Ý), chính tocilizumab (Roactemra), cũng được chỉ định chống viêm đa khớp dạng thấp, được thử nghiệm chống Covid-19. Trong hai trường hợp, mục đích là làm giảm bớt cơn bão miễn dịch (tempête immunitaire) độc hại, được phát khởi bởi nhiễm virus không được kiểm soát. Sau cùng, sự phát triển sérum de convalescents (huyết thanh của những người lành bệnh) được nghiên cứu ở Trung Quốc và Hoa Kỳ. Những huyết thanh này sản xuất những kháng thể chống coronavirus. Bằng cách truyền chúng cho những bệnh nhân, ta có thể làm giảm charge virale. Xuyên qua thế giới, không ít hơn 120 loại thuốc hiện được xét đến như là những hướng điều trị tiềm năng chống Covid-19, trong đó 31 được xem là “nghiêm túc”. Hiện giờ, chỉ hai hay ba thuốc đã chứng tỏ lợi ích của chúng khi chúng được cho “à titre compassionnel” đối với những trường hợp nguy kịch.
VACCIN, ĐỂ GIAM HÃM VIRUS
Tất cả các chuyên gia đều đồng ý : không một vaccin nào sẽ sẵn sàng trước ít nhất 12 đến 18 tháng, hoặc tốt nhất vào mùa xuân 2021. Nêu sự thai nghén của vaccin có thể nhanh, thì không phải như vậy đối với sự chuẩn nhận về những tiêu chuẩn an toàn, tính hiệu quả và cán cân lợi ích-nguy cơ. Những giai đoạn dài, nhưng hoàn toàn cần thiết.Ngày 16/3, 45 người tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng Hoa Kỳ được gọi là giai đoạn 1 (những thử nghiệm đầu tiên trên người) đã nhận những liều của một ứng viên vaccin, được phát triển bởi start-up Moderna. Trung quốc cũng bắt đầu trắc nghiệm vaccin của mình. Cả thảy khoảng ba mươi ứng viên vaccin đang được phát triển và khoảng một chục thử nghiệm sẽ được phát động trên thế giới từ nay đến đầu mùa thu đến, trong số đó vaccin của Viện Pasteur, ở Pháp, bắt đầu từ tháng 9. Sự thành công của chúng sẽ là phương tiện đáng tin cậy duy nhất để giam hãm virus, như đó đã là trường hợp của cúm. Ngay cả không hoàn hảo, vaccin mang lại một tính miễn dịch nhóm, ngăn cản tác nhân gây bệnh lưu hành.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2020)

5/ PHỐI HỢP LOPINAVIR/RITONAVIR GÂY THẤT VỌNG
CORONAVIRUS. Một công trình nghiên cứu về phối hợp lopinavir và ritonavir (Kaledra) ở những bệnh nhân bị Covid-19 đã không cho những kết quả thuận lợi. Các nhà nghiên cứu đã thua trận, nhưng không thua cuộc chiến. Nhưng các bệnh nhân trong thử nghiệm là những bệnh nhân nặng. Và có lẽ phương pháp luận phải được xét lại.Sự phối hợp của các chất ức chế của protéase, lopinavir và ritonavir, được sử dụng trong nhiễm bởi VIH (sida) từ 20 năm qua. Ngay lúc đầu của dịch bệnh Sras-CoV2, chính quyền trung quốc đã khuyến nghị phối hợp này như là điều trị cho những bệnh nhân nhập viện, nhưng cùng lúc với interféron alpha. Sự liên kết của lopinavir và ritonavir (dầu chúng được bổ sung bởi những thuốc chống virus khác hay không) đã cho những kết quả đáng phấn khởi đối với với Sras và Mers, như sự giảm bớt của tỷ lệ mắc syndrome de détresse respiratoire aigue.
Trong công trình nghiên cứu randomisé này, 199 bệnh nhân (mà sự hiện diện của Covid-19 được xác nhận) đã được đưa vào. Trong số 199 bệnh nhân này, 100 bệnh nhân đã nhận một điều trị chuẩn (những điều trị hỗ trợ), những bệnh nhân kia đã được điều trị với lopinavir/ritonavir (400 mg/100 mg), hai lần mỗi ngày trong 14 ngày. Tất cả các bệnh nhân có một độ bảo hòa oxygène </=94% hay một Pa02/Fi02 < 300 ml lúc thông khí. Họ được tuyển mộ từ 18/1 đến 3/2 trong một bệnh viện của Vũ Hán.
Sau 28 ngày, không có sự khác nhau đáng kể nào giữa nhóm được điều trị và nhóm chứng, về mặt thời hạn trước khi cải thiện lâm sàng cũng như tử vong. Charge virale của các mẫu nghiệm phết họng được lấy vào những lúc khác nhau của điều trị là như nhau trong hai nhóm. Điều trị với lopinavir/ritonavir đã phải bị dừng lại ở 13 bệnh nhân (13,8%) vì những tác dụng phụ, chủ yếu là tiêu hóa như nôn và ỉa chảy. Sự phân tích (sau khi loại bỏ 3 bệnh nhân chết sớm) đã cho thấy một sự cải thiện lâm sàng rõ rệt nhanh hơn với lopinavir/ritonavir, nhưng tính hiệu quả là khiêm tốn.
NHỮNG BỆNH NHÂN NẶNG
Các tác giả ghi chú rằng tỷ lệ tử vong toàn bộ trong dân chúng (12%) là cao một cách đáng kể hơn điều mà ta có thể đọc trong những báo cáo đầu tiên ở những bệnh nhân nhập viện (giữa 11% và 14,5%), do đó họ kết luận rằng những bệnh nhân của họ đều bị bệnh nặng (gravement malade). Một điều chứng thực thích đáng khác là sự khác nhau, về tỷ lệ tử vong giữa nhóm được điều trị với lopinavir/ritonavir và nhóm chứng, gia tăng về số nếu ta xem xét một cách chọn lọc những bệnh nhân được điều trị trong 12 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng, so với nhóm được điều trị về sau. Vậy có thể lợi dụng tốt hơn điều trị này nếu nó được thực hiện sớm, như đối với Sras và cúm. Người ta cũng đã chứng thực rằng trong nhóm đã nhận lopinavir-ritonavir, có ít hơn những người bị những biến chứng nặng (như suy thận cấp tính) và/hoặc cần hô hấp nhân tạo. Về việc không có tác dụng lên charge virale, các tác giả xác nhận rằng sự lấy phết họng nhiều hơn trong những ngày đầu có thể phát hiện một sự khác nhau (họ đã chỉ có thể thực hiện vào ngày 1 và vào ngày 5). Điều cũng quan trọng là họ đã không lấy mẫu nghiệm trọng đường hô hấp dưới.
Đó chỉ là một công trình nghiên cứu đầu tiên. Những nghiên cứu được thực hiện trong một quần thể ít bệnh nặng hơn và nhận một điều trị sớm hơn có thể mang lại một cách nhìn khác về tiềm năng của lopinavir/ritonavir. Xét vì những kết quả của công trình nghiên cứu được đề cập nói trên, giới hữu trách y tế Bỉ chọn điều trị phối hợp lopinavir/ritonavir như là lựa chọn thứ hai đối với những bệnh nhân bị bệnh nặng, sau hydroxychloroquine (cập nhật 19/3). OMS sẽ thiết đặt một công trình nghiên cứu quy mô lớn so sánh 4 thuốc điều trị. Lopinavir/ritonavir là một trong 4 candidat.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 27/3/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 544 : bài số 5, 6
– TSYH số 542 : bài số 2 (antiviraux à large spectre)

6/ VACCIN : MỘT CUỘC CHẠY ĐUA NƯỚC RÚT !BS Frédéric Tangy, phụ trách laboratoire d’innovation vaccinale ở Viện Pasteur. Ông giải thích những phương pháp khác nhau để chế tạo một vaccin chống Covid-19 và phương pháp mà ông sẽ ưu tiên.
Hỏi : Nhiều dự án tiêm chủng đang được tiến hành trong những nước khác nhau : phải chăng chúng theo những phương thức khác nhau.
BS Frédéric Tangy : Có hơn 30 dự án đang được tiến hành trên thế giới ! Nhiều dự án phát xuất từ những phòng thí nghiệm nghiên cứu nhỏ. Theo tôi chỉ có 4 hoặc 5 phòng thí nghiệm lớn mới có khá năng tài chánh và kỹ thuật để chế tạo một vaccin đáng tin cậy và hiệu quả cho những population bị tiếp xúc sử dụng. Tất cả những dự án hiện nay đều gần như ở cùng giai đoạn. Ngược lại chúng sử dụng những phương pháp khác nhau. Những vaccin tốt nhất, những vaccin chống bệnh đậu mùa, bệnh lao, bệnh sởi hay quai bị, được chế tạo từ một virus sống được làm giảm độc lực (virus vivant atténué) : những vaccin này, thường nhất, cho phép được bảo vệ suốt đời sau một lần cho thuốc hay tiêm thuốc. Những vaccin khác có thể được chế tạo từ một virus được làm bất hoạt (cũng được gọi là virus inactivés hay inertes) ; đôi khi từ những protéine virale, mà ta có thể sản xuất giống hệt bằng génie génétique (những protéine được gọi là recombianante) hay lấy ra từ những canh cấy tế bào bị nhiễm bởi virus mà ta muốn dự phòng chống lại. Sau đó, để những protéine này gây nên một phản ứng miễn dịch, chúng phải được mang bởi một vecteur, lại cũng là một virus, nhưng không gây bệnh cho người (thí dụ một adénovirus sống hay trơ). Sau cùng, những kỹ thuật mới hơn tìm cách gây một miễn dịch từ những acide nucléique của virus (ARN, ADN), mà đối với chúng có những vecteur thích đáng khác nhau. Phải biết rằng sự chế tạo một virus sống giảm độc lực (virus vivant atténué) là rất lâu (hai năm), sự chế tạo một virus được làm bất hoạt (virus inactivé) cũng khá lâu, với nguy cơ là đôi khi sinh miễn dịch (immunogène) quá ít ; về sự chế tạo bằng những kỹ thuật khác, nó nhanh hơn nhưng về mặt hiệu quả không chắc chắn hơn nhiều, với, ngoài ra, cần những mũi tiêm lập lại và một phí tổn cuối cùng cao hơn nhiều.
Hỏi : Phương pháp của Viện Pasteur là phương pháp nào ?
BS Frédéric Tangy : Lựa chọn của chúng tôi hướng về kỹ thuật của những virus được làm giảm độc lực (virus atténués), đáng tin cậy nhất, hiệu quả nhất, và là kỹ thuật mà ta có thời gian nhìn lại (recul) lớn nhất.Ở chúng tôi kỹ thuật này dựa trên virus tiêm chủng được làm giảm độc lực (virus vaccinal atténué) của bệnh sởi, bởi vì chúng tôi có một chủng thuộc loại này có sẵn để sử dụng ngay, nó đã cho phép chế tạo một chục vaccin khác nhau.
Vaccin chống bệnh sởi được sử dụng trên thế giới từ 40 năm qua. Nó hoàn toàn an toàn : hơn 3 tỷ người đã được tiêm chủng. Nguyên tắc là sử dụng protéine của virus Sars-CoV-2 như là kháng nguyên. Protéine này được gọi là protéine S (thay cho “Spike”), cho phép virus đi vào trong những tế bào người. Phương thức nhằm đưa protéine S vào trong génome của virus của bệnh sởi được làm giảm độc lực ; virus sởi này có khả năng trình nó cho những tế bào miễn dịch để nhận diện trong thể tự nhiên nhất của nó, điều này không phải là trường hợp của phần lớn những kỹ thuật công nghệ khác. Như thế ta sẽ có thể gây một miễn dịch tối ưu chống lại Covid-19 ở những người được chủng chỉ sau một mũi tiêm. Viện Pasteur được hỗ trợ trong cố gắng này bởi Cepi (Coalition for Epidemic Preparedness Innovations), một tổ chức tài chánh quốc tế dành cho sự phát triển các vaccin chống lại những nhiễm trùng mới phát khởi (infections émergentes). Chúng tôi được tập hợp quanh mình bởi nhiều đối tác kỹ thuật (công ty Thermis, ở Vienne, đại học Pittsburgh…)
Hỏi : Công việc chế tạo vaccin của ông đến đâu rồi ? Còn những giai đoạn nào cần phải vượt qua ?
BS Frédéric Tangy : Sự chế tạo vaccin của chúng tôi phải còn đợi 3 tháng. Những khảo sát về sự dung nạp (tolérance) và đo lường tính miễn dịch gây nên ở những người lành mạnh (giai đoạn 1) sẽ bắt đầu vào tháng 9. Những khảo sát này sẽ được tiếp theo bởi những nghiên cứu lâm sàng được gọi là giai đoạn 2 vào cuối năm-đầu tháng giêng, rồi bởi một giai đoạn 3 (sẽ đưa vào một số lượng lớn bệnh nhân). Điều đó sẽ cho phép làm vaccin sẵn sàng để sử dụng cho dân Pháp vào giữa năm 2021, dự kiến này phù hợp với những tiên đoán nhanh nhất của OMS về vấn đề này.
Hỏi : Theo ông Covid-19 sẽ tiến triển như thế nào ?
BS Frédéric Tangy : Tôi không thể nói điều đó. Nhưng nếu ta quan sát hành trình của virus Sras thí dụ, ta ghi chú rằng nó đã không nhạy cảm với những biến thiên khí hậu : nó lan tràn từ tháng 11/2002 đến tháng 7/2003 ; rồi từ tháng 9/2003 đến tháng 5/2004. Nếu với Covid-19 cũng như vậy, dịch bệnh có thể còn kéo dài nhiều tháng. Về sự biến dị của nó, điều đó có thể, nhưng ít khả năng bây giờ. Chừng nào Covid-19 sẽ tìm được những người không được miễn dịch để làm lây nhiễm một cách dễ dàng để phát triển, nó sẽ không biến đi.Hỏi : Kết luận của ông ?
BS Frédéric Tangy : Pasteur đã từng nói : ” Thầy thuốc giỏi nhất, đó là thiên nhiên. Nó điều trị hầu như tất cả các căn bệnh và không bao giờ chỉ trích những đồng nghiệp của mình.” Để kích thích tốt hệ miễn dịch, phải cho nó điều mà nó có thể nhận biết một cách dễ dàng. Nếu ta cho nó một thiên nhiên bị biến đổi, những đáp ứng miễn dịch ít hiệu năng hơn, thậm chí xấu. Tôi tin nhiều vào vaccin mà chúng tôi sẽ sản xuất, bởi vì phương thức chế tạo nó là tự nhiên hơn phương thức của những dự án khác đang được tiến hành, mặc dầu chúng xứng đáng hiện hữu.
(PARIS MATCH 9/4-15/4/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 543 : bài số 4 (vaccin ARN)
– TSYH số 542 : bài số 5 (vaccin)
– TSYH số 540 : bài số 9 (Vaccin)
– TSYH số 534 : bài số 8 (vaccin)
– TSYH số 531 : bài số 7 (vaccin)

7/ WASHINGTON YÊU CẦU BẮC KINH GIẢI THÍCH VỀ NGUỒN GỐC CỦA VIRUS
Các cơ quan tình báo Hoa Kỳ nghĩ rằng virus đã có thể thoát ra từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc.
Các cơ quan tình báo Hoa Kỳ xem xét một cách nghiêm túc giả thuyết theo đó virus Covid-19 có thể, do tai nạn, đã thoát ra từ một phòng thí nghiệm trung quốc hơn là đã xuất hiện trên một chợ động vật sống, theo cách giải thích chính thức của Bắc Kinh.
Cho đến nay đã không có bằng cớ nào được đưa ra, nhưng các tài liệu ngoại giao Hoa Kỳ, được tiết lộ bởi Washington Post tuần này, nuôi dưỡng những mối nghi ngờ về một sự phát tán của virus, do tai nạn, từ phòng thí nghiệm an toàn sinh học (laboratoire de biosécurité) của Viện virus học Vũ Hán. Phòng thí nghiệm mũi nhọn loại P4 này, xếp loại cao nhất về mức độ an toàn, được dành cho những cơ sở thao tác các tác nhân sinh bệnh (để chống lại chúng không có thuốc chủng). Phòng thí nghiệm này đã được xây dựng nhờ sự giúp đỡ kỹ thuật của Pháp giữa năm 2010 và 2015. Sự hợp tác, được quyết định vào thời của chính phủ Raffarin sau trận dịch Sras 2013 để nghiên cứu coronavirus, và nhất là sự truyền của chúng từ động vật qua người, chủ yếu là một sự chuyển những kỹ thuật công nghiệp cho Trung Quốc.
TRUYỀN CHO NGƯỜI
Trở thành, từ năm 2016, một trong những trung tâm nghiên cứu mũi nhọn nhất trong lãnh vực này, Viện Vũ Hán chuyên về nghiên cứu sự truyền của các coronavirus từ động vật qua người. Vào năm 2017, chính phòng thí nghiệm này đã xác lập, dưới sự lãnh đạo của GS Thạch Chính Lệ (Shi Zhengli), trưởng dự án nghiên cứu về coronavirus của dơi, mối liên hệ giữa động vật này, được thu thập trong một động của tỉnh Vân Nam, và dịch bệnh Sras.
Nhưng phòng thí nghiệm cũng đã nhanh chóng dấy lên những lo ngại về sự thiếu tôn trọng, bởi các kíp nghiên cứu trung quốc, những nghi thức an toàn rất chặt chẽ, được thiết đặt trong những cơ sở thuộc loại này, và nhất là trong sự thao tác các động vật hay sự biến đổi của các virus sinh bệnh.Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ, sau khi đã viếng thăm nhiều lần Viện Vũ Hán, giữa tháng giêng và tháng ba năm 2018, đã khá bối rối nên tòa đại sứ gởi điện cho Bộ ngoại giao, ở Washington, về sự lỏng lẻo trong sự tuân thủ những quy tắc an toàn y tế. Cuộc viếng thăm lần cuối, ngày 27 tháng ba năm 2018, đã được tiến hành bởi Jmison Fouss, tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Vũ Hán, và Rick Switzer, cố vấn của tòa đại sứ Hoa Kỳ phụ trách về môi trường, khoa học và sức khỏe. Các nhà ngoại giao đã lo sợ bởi sự thiếu tôn trọng những nghi thức về an toàn sinh học. Theo Washington Post, đã có được bản sao của những điện báo này, họ đã ghi chú rằng phòng thí nghiệm thiếu một cách nghiêm trọng những kỹ thuật viên và những nhà nghiên cứu được đào tạo đủ để tiến hành những nghiên cứu có nguy cơ cao này.
Các nhà ngoại giao đã cảnh báo rằng nếu những biện pháp đề phòng không được áp dụng, những hoạt động của phòng thí nghiêm có thể phát khởi một dịch bệnh mới. Họ chủ trương đóng góp một hỗ trợ kỹ thuật và tài chánh cho phòng thí nghiệm, một phần bởi vì tầm quan trọng của những nghiên cứu về những coronavirus của dơi, nhưng cũng vì những nguy hiểm tiềm năng từ phòng thí nghiệm này.
Viện Vũ Hán đã nhận một viện trợ 3,7 triệu dollars từ Viện y tế Hoa Kỳ, cơ quan liên bang tài trợ nghiên cứu sinh y học. Những đối tác Hoa Kỳ khác, như những đại học Harvard, Alabama hay Texas, cũng đã cung cấp sự giúp đỡ kỹ thiat và tài chánh cho những nghiên cứu này, và một bộ phận của những nhà khoa học trung quốc của Viện Vũ Hán đã được đào tạo trong một phòng thí nghiệm tương tự ở Galvaston, ở Texas.
Những nghi ngờ về một sự rò của virus sau một tai nạn phòng thí nghiệm cũng hướng về một cơ quan khác của thành phố, Trung tâm kiểm soát bệnh tật Vũ Hán. Phòng thí nghiệm này cũng thực hiện những thí nghiệm trên những động vật như dơi để khảo sát sự truyền của các coronavirus, mặc dầu nó chỉ được xếp hạng loại P2, những quy tắc không đủ để thao tác những virus nguy hiểm như thế.
THIẾU MINH BẠCH.
Trước hết được gợi lên bởi vài nghị sĩ Hoa Kỳ, như dân biểu cọng hòa của tiểu bang Arkansas Tom Cotton. Từ đầu năm, ông này đã tố cáo sự bóp méo thông tin một cách hệ thống bởi chính quyền trung quốc về virus, từ đó giả thuyết về một sự rò của virus sau một tai nạn phòng thí nghiệm lại đã được đưa ra do sự hiện hữu của những điện báo ngoại giao Hoa kỳ.
Trong khi trong những ngày qua Hoa kỳ đà làm cứng lại ngôn từ của mình đối với Trung quốc, và trong khi giọng nói đã tăng lên giữa Washington và Bắc Kinh, chủ đề đã trở nên cực kỳ nhạy cảm về phương diện ngoại giao.
Được hỏi về chủ đề này, Donald Trump đã tránh không muốn trả lời. Tham mưu trưởng, tướng Mark Milley, đã xác nhận rằng tình báo Hoa kỳ đã thật sự tìm cách để biết nguồn gốc của virus, và rằng khả năng của một tai nạn phòng thí nghiệm không được loại trừ. Nhưng ông đã nói thêm rằng vào giai đoạn này, không có những “bằng cớ chứng thực” rằng corpnavirus phát xuất từ một phòng thí nghiệm trung quốc, và rằng có khả năng hơn nó có nguồn gốc thiên nhiên.
Tuy nhiên những lời cải chính của Trung Quốc đã không đủ vô hiệu hóa những giả thuyết này, và sự thiếu mình bạch của Bắc Kinh từ đầu dịch bệnh không góp phần xua tan những mối hoài nghi.
Giới hữu trách Hoa Kỳ yêu cầu Bắc Kinh minh bạch hơn, và nhất là để cho các chuyên gia ngoại quốc được tiếp cận với phòng thí nghiệm để có thể xác định một cách chính xác nguồn gốc của virus.
” Chúng tôi thật sự cần chính phủ Trung quốc tỏ ra cởi mở hơn “, Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, Mike Pompeo, đã nói như vậy trong một buổi nói chuyện ở kênh truyền hình Fox News.” Họ nói rằng họ muốn hợp tác, thế thì một trong những cách tốt nhất để làm điều đó, là thông tin các nhà khoa học, và nói một cách chính xác virus đã lan tràn như thế nào…Chúng tôi biết rằng virus này có nguồn gốc Vũ Hán, ở Trung Quốc. Chúng tôi biết rằng Viện virus học nằm các chợ bán động vật vài km. Còn nhiều điều để khám phá.” ” Sự việc chúng tôi không có những câu trả lời, và rằng Trung quốc đã không chia sẽ chúng, tôi nghĩ, là rất tiết lộ “, ông đã nói thêm như vậy. ” Việc thế giới tự đặt những câu hỏi này là hoàn toàn thích hợp.”
(LE FIGARO 18-19/2/2020)

8/ HỆ THỐNG Y TẾ NGA BỊ NGHẸT BỞI ĐẠI DỊCHĐó là một hệ thống y tế bị đe dọa nổ tung do sự lan tràn lũy tiến của Covid-19. Mặc dầu, ở Nga, những tàn phá của đại dịch, cho đến nay, có lẽ được giới hạn hơn so với châu Âu hay Hoa Kỳ, nhưng đất nước này, đứng thứ 12 trên thế giới về lây nhiễm, trong những ngày qua, trải nghiệm một sự gia tăng chóng mặt : thêm 6060 trường hợp trong 24 giờ ngày chủ nhật 19/4, đối với một tổng cộng quốc gia 42.853 người bị nhiễm, 2/3 được thống kê ở Moscou, và 361 tử vong, hoặc thêm 48 so với hôm trước. Theo các chuyên gia, trên thực tế bilan có thể rõ ràng nặng hơn, ngay cả giới hữu trách y tế đã công nhận độ tin cậy của các test không hoàn hảo và những centre d’analyse bị tràn ngập nên chậm cho những kết quả.
Tương lai tức thời có vẻ nguy kịch, các uỷ viên hội đồng thành phố đã nhấn manh như vậy. Tuy nhiên, trong thông điệp lễ Phục Sinh, Vladimir Poutine đã muốn làm an lòng : ” tình hình được kiểm soát hoàn toàn “, ông đã xác nhận như vậy hôm chủ nhật 19/4. ” Chúng ta chưa đạt mức bình nguyên (plateau) nhưng chúng ta hy vọng có những dấu hiệu tích cực tuần đến”, phát ngôn viên của Điện Kremlin, Dimitri Peskov đã xác nhận như vậy. Nhưng vài bệnh viện đã vượt quá ngưỡng bảo hòa, nhất là ở Moscou, ở đây 12 triệu cư dân chịu một sự giam hãmchặt chẽ, dưới sự kiểm soát của caméra de surveillance và của laissez-passer điện tử. Mặc dầu các vùng, trong đại thể cho đến nay, đã ít bị ảnh hưởng hơn thủ đô, nhưng mối lo ngại tăng lên đứng trước sự dâng cao của một làn sóng đe dọa làm tràn ngập những trung tâm y tế và những bệnh viện tỉnh, thường thiếu các thầy thuốc và trang bị hơn so với Moscou.
Coronarovirus chủng mới bóc trần những yếu kem to lon của một hệ thống y tế, được thừa hưởng từ Liên Xô và những thiếu sót, bị làm trầm trọng them boi những cải cách mà Vladimir Poutine đưa vào sau 2012. Những kết quả của chính sách được gọi là “tối ưu hóa” này : hủy bỏ hàng ngàn nhiệm sở của nhân viên điều trị và giường dành cho các bệnh nhân, đóng cửa hàng trăm bệnh viện trên khắp đất nước và sự đào sâu những dị biệt vùng mà cuộc khủng hoảng hôm nay làm cho rõ ràng. ” Đại dịch coronavirus đã phát hiện những thiếu sót của cái cách y tế”, kinh tế gia Andrei Klepach đã chứng thực như vậy. Ông chỉ vào, nhất là, sự giảm những thầy thuốc chuyên khoa các bệnh nhiễm trùng. Đối với chuyên gia này, ” Nhà cầm quyền Nga đã không rút ra những bài học về những đại dịch như cúm heo (grippe porcine), dịch cúm này tuy vậy đã cho thấy với tốc độ nào các virus có thể lan tràn trên khắp thế giới “. Tờ báo kinh tế Vedomosti đánh giá rằng ” những vấn đề nghiêm trọng của hệ thống y tế của chúng ta khiến chúng ta chịu nguy cơ một sự thiếu thốn toàn thể : thầy thuốc, trang bị bảo vệ, giuong trong các bệnh viện, các máy thở, các test, thuốc men..”
Tuần qua, một vidéo, được phát hành rộng rãi trên internet, cho thấy một hàng vô tận hàng chục ambulance kiên nhẫn hàng giờ trước khi có thể đặt các bệnh nhân trong một bệnh viện moskova. ” Các chỗ ở bệnh viện thiếu, đó là vấn đề chính “, Dimitri Belyakov, chủ tịch của công đoàn xe cứu thương của Moscou, đã giải thích với Figaro như vậy. ” Chúng tôi buộc phải đặt các bệnh nhân rất xa nhà họ, đôi khi đến 100 km “, ông đã nói thêm như vậy. ” Bệnh viện số 3, chuyên về dịch tễ học, đã bị đóng cửa cách nay nhiều năm “, Dimitri Belyakov, đã giải thích như vậy. ” Nếu chúng tôi đã không giải thể bấy nhiêu các bệnh viện với sự cải cách này, bây giờ chúng tôi sẽ không ở trong tình trạng này. Các viên chức của chúng tôi đã giải thích rằng các bệnh nhân có thể được săn sóc một cách dễ dàng ở nhà họ. Trên thực tế, mục đích là thương mãi. Các tòa nhà được bán cho những tư nhân, không ai nghĩ đến bệnh nhân…”, ông đã tố cáo như vậy.
Theo những thống kê chính thống, các thầy thuốc chuyên về dịch tễ học đã giảm 10% từ năm 2011. Số lượng giường dành cho những bệnh lý này đã bị chia hơn hai lần, chuyển từ 140.000 xuống 59.000 giuong từ năm 1990. Riêng ở Moscou, các giường đã bị giảm từ 4.823 xuống 2.200. Đất nước có gần 50.000 máy thở, nhưng trong số chúng, nhiều máy không hoạt động. Trong cùng thời gian, tải công việc (charge de travail) của nhân viên y tế đã gia tăng và lương bổng của họ không tiến triển bao nhiêu, mặc dầu đó là một trong những mục tiêu được phô bày của cải cách : thí dụ, từ 80.000 tăng lên 120.000 rouble hiện nay đối với một thầy thuốc trong thủ đô (khoảng 1100 đến 1700 euro). Ở tỉnh phần nhiều lương bổng it tăng một cách đáng kể.
Nhiều lời chứng về tình trạng hết sức bấp bênh của các phương tiện mà nhân viên y tế có để tự bảo vệ. Các khẩu trang, các găng tay, những nhiệt kế, những thuốc khử khuẩn, combinaisons : những thiếu thốn là rõ rệt.” Tuần qua, khoa của chúng tôi đã nhận 100 khẩu trang, điều đó chỉ đủ cho 3 ngày làm việc. Người ta yêu cầu chúng tôi tự xoay xở lấy. Các đồng nghiệp mua các khẩu trang công trường “, Rouslan Ourazgaliez, trưởng khoa tai mũi họng của bệnh viện nhi đồng Veliky Novgorod, ở cách Moscou 500 km, đã kể với chúng tôi như vậy.
Đứng trước tình huống này, giới hữu trách, đứng đầu là Vladimir Poutine, cuối cùng đã rung chuông huy động toàn thể. Một bệnh viện cho 900 bệnh nhân, mà sự xây dựng đã được quyết định hôm 10/3, phải mở cửa thứ hai 20/4 trong vùng ngoại ô Moscou, tâm dịch của cuộc khủng hoảng. 600 sinh viên y khoa đã được gởi tăng cường. 24 bệnh viện phải được cải biến, để giải phóng 21.000 giường. Và những tiền thưởng đã được hứa hẹn với nhân viên y tế, kiệt sức, mặc dầu điều tệ hại nhất còn ở phía trước họ.
(LE FIGARO 20/4/2020)

9/ CHÂU Á MUỐN TRÁNH MỘT LÀN SÓNG LÂY NHIỄM THỨ HAI
Tất cả các quốc gia áp đặt một sự cách ly chặt chẽ đối với các du khách.
Các nhà ngoại giao nước ngoài có căn cứ ở Trung Quốc nhưng hiện ở ngoài đất nước này, đã được bộ ngoại giao trung quốc khuyến khích không về lại nhiệm sở trước…15/5. ” Cac nhà ngoại giao có miễn dịch ngoại giao, nhưng không có miễn dịch chống virus” , phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Hoa Xuân Ánh đã nói đùa như vậy hôm thứ sáu 4/4.
Cách nay 1 tuần, Bắc Kinh đã đóng cửa đất nước đối với những người nước ngoài có một visa thường trực. Trung Quốc, cũng như phần lớn các nước Á châu, không muốn nhận lấy nguy cơ với điều mà các chuyên gia gọi là làn sóng nhiễm thứ hai (deuxième vague d’infections) : làn sóng phát xuất từ những tâm dịch mới là châu Âu và Hoa Kỳ. Sự trở lại bình thường ở Trung Quốc và sự giở bỏ dần dần phong tỏa (déconfinement) của thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc) từ 8/4, tùy thuộc một phần vào sự chế ngự của những luồng người nhập cảnh.
Ở châu Á, các nước đã biết kềm chế dịch bệnh, như Đài Loan, Hồng Kông, Singapour, Nam Hàn, rất quan tâm không để “nhập cảnh” những trường họp mới.
Vấn đề sẽ được đặt ra đối với những nước châu Âu : nếu những biên giới được đóng lại, sự trở lại trên lãnh thổ của những kiều dân của họ hay những thường trú dân bị kẹt ở nước ngoài có thể tạo điều kiện cho sự bắt đầu của những lây nhiễm mới. Trên 130.000 người Pháp, khai báo bị kẹt ở nước ngoài, 110.000 người đã được hồi hương, Quai d’Orsay đã chỉ như vậy. Thế mà, không có một kế hoạch theo dõi nào được thực hiện khi họ đến Pháp : chỉ một dispositif d’information des voyageurs đã được thiết đặt để “nhắc lại những mệnh lệnh y tế (consignes sanitaires) nhằm bảo vệ chống lại virus và những phản xạ tốt cần theo trong trường hợp lây nhiễm”.
Các nước Ả châu đã xác lập những nghi thức (protocole) rất chặt chẽ đối với những kiều bào và thường trú dân trở về nước. ” Ở Đài Loan, sự kiểm soát này càng quan trọng, nhất là khi đã không có dịch bệnh địa phương nói riêng : 86% của 339 trường hợp Covid-19 được khai báo ngày 2/4 là những trường hợp nhập cảnh. Chỉ có 48 trường hợp nhiễm coronavirus ở Đài Loan, mà một nửa là do những tiếp xúc với những trường hợp nhập cảnh “, Fang Chi-tai, giáo sư dịch tễ học và y khoa phòng ngừa ở Đại học quốc gia Đài Loan, đã giải thích như vậy.
Đài Loan, một trong những quốc gia quản lý cơn khủng hoảng tốt nhất nhờ những biện pháp phòng ngừa được thực hiện rất sớm, đã thiết đặt một biện pháp cách ly chặt chẽ, điều này cho phép đa số dân chúng sống một cách bình thường : tất cả các tiệm buôn và các cửa hàng ăn uống được mở, cũng như những trường học. Những người trở về từ nước ngoài phải điền một formulaire trước khi lên đường. Lúc đến phi trường, họ được tiếp đón bởi nhân viên kiểm dịch. Họ được báo cho biết rằng trong bất cứ trường hợp nào họ không được ra khỏi nhà trong 14 ngày, nếu không họ sẽ bị phạt 3000 euro nếu ra khỏi nhà dưới 100 m, và 30.000 euro nếu nhiều hơn.
” Từ phi trường về nhà, bạn không có quyền dùng vận chuyển công cộng. Phải hoặc là người nào đó đến đón bạn, hoặc dùng một taxi mà tài xế đã được đặc biệt đào tạo cho công việc này. Các hành lý được sát khuẩn, cũng như quần áo và giày dép. Mang khẩu trang là bắt buộc”, Martin Tzou, một kiều dân Đài loan, trở về từ Singapour với chồng và con hôm 25/3, đã giải thích như vậy. Một khi trở về đến nhà ở New Tapui City, cặp vợ chồng phải thông báo hàng ngày về tình trạng sức khỏe, tùy theo nhiệt độ, được lấy hai lần mỗi ngày, và tùy theo sự xuất hiện của 6 triệu chứng.
Những người Thái, đến bây giờ vẫn còn ở nước ngoài, đã đuoc biết rằng họ chỉ có thể trở về nước từ nay đến hai tuần nữa, thời gian cần thiết để những căn nhà đặc biệt được bố trí nhằm tổ chức ở do sự cách ly những người sẽ được hồi hương kể từ thời điểm này.
Ở Hồng Kông, phần lớn những trường hợp mới xảy ra gần đây là do những người đã đi du lịch. Trên 43 trường hợp mới được ghi nhận hôm 3/4 (đối với một toàn thể 845), 9 trường hợp do lây nhiễm tại địa phương.(Ngày 3/4, trong restaurant này ở một trung tâm thương mãi của Singapour, các khách hàng được yêu cầu tôn trọng khoảng cách xã hội (distance sociale), bởi những vạch trên đất và trên bàn)(Trước khi vào xe bus, một người lính kiểm tra nhiệt độ của những nhân viên y tế đi làm việc, 20/3, ở Quezon City, Grand Manille, Philippines)
(LE MONDE & LE FIGARO 6/4/2020)

10/ MÔ HÌNH ĐÀI LOAN (MODELE TAIWANAIS)
Đại dịch toàn cầu lan rộng xuyên qua thế giới. Tuy vậy, ngay cả ta chứng kiến trong những ngày qua một sự tăng lại của coronavirus, Những con hổ Á châu (Singapour, Nam Hàn, Hồng Kông và Đài Loan) và Nhật Bản đã thành công “lisser la courbe” mà không có những gò bó mà ta trải nghiệm ở châu Âu. Đài Loan được xem như là học trò giỏi nhất lớp với chỉ 306 trường hợp và 5 tử vong (30/3) đối với hơn 23 triệu dân.
Trong khi coronavirus lan tràn xuyên qua thế giới và trong khi hơn 3 tỷ người trên thế giới sống trong tình trạng cách ly, Đài loan tiếp tục sống theo một nhịp gần như bình thường. Lạ lùng khi ta biết đảo Đài loan nằm gần Trung Quốc (130 km)
” Do năm gần với Trung quốc và vì tần số tăng cao của những tiếp xúc giữa người với người giữa hai quốc gia, nên Đài loan được xem như đặc biệt nguy cơ trong sự làn tràn ban đầu của lây nhiễm”, Chloe Shuan Kao, đơn vị báo chí của Văn phòng đại diện Đài Bắc trong Liên hiệp châu Âu và Bỉ, đã xác nhận như vậy. ” Tuy nhiên, hôm 26/3, Đài Loan đã chỉ ghi nhận 252 trường hợp dương tính và hai tử vong, trong đó hơn 83% được nhập cảnh từ Trung Quốc, châu Âu, Hoa Kỳ và Trung Đông.”
NHỮNG CHÌA KHÓA CỦA SỰ THÀNH CÔNG.
Chính phủ Đài Loan đã rút ra những bài học từ kinh nghiệm của Sras nam 2003 và đã thiết đặt một cơ chế đáp trả y tế công cộng (réponse de santé publique) để cho phép thực hiện những hành động nhanh chóng.” Đài loan đã hành động một cách nhanh chóng và hiệu quả “, Chloe Shuan Kao đã đánh giá như vậy. ” Đài loan đã là quốc gia đầu tiên cấm các kiều bào của mình đến thành phố Vũ Hán, rồi phần còn lại của Trung Quốc, điều này đã cho phép làm dừng virus trước khi nó có thể xâm nhập đất nước. Một biện pháp, được tiếp theo sau bởi một sự thiết đặt quarantaine (14 ngày với sự bù tài chánh bởi nhà nước) và một sự tìm kiếm tích cực những người tiếp xúc với những người bị nhiễm hay tiềm năng bị nhiễm.”
Trung tâm chỉ huy trung ương dịch bệnh (CECC : Centre de commande central de l’épidémie) thông báo mỗi ngày về sự tiến triển của đại dịch. Một cách hệ thống, Trung tâm báo cáo nguồn gốc của những trường hợp mới, và những mối liên hệ, nếu có, được dệt giữa mỗi trường hợp để tránh không cho sự lây nhiễm đến ở trong đảo. CEEC nêu lên rằng đa số là những trường hợp nhập cảnh, nghĩa là được mang lại từ Trung Quốc, châu Âu hay châu Mỹ sau một chuyến du lịch.
Được thêm vào biện pháp quarantaine này, mới đây là một biện pháp nhằm tránh những tập hợp đám đông. Nhưng đó là những biện pháp duy nhất mà chính chú đã áp dụng. Vậy không có giam hãm (confinement).” Đài loan luôn luôn chuyển động. Những văn phòng, những trường học, những cửa hàng và những hiệu ăn luôn luôn mở cửa và cuộc sống được theo đuổi với một nhịp tương đối bình thường “, Chloe Shuan Kao đã đảm bảo như vậy. ” Hơn nữa, những cố gắng của Đài Loan đã được tiến hành một cách rất minh bạch với sự dấn thân của dân chúng, điều này công phá ý tưởng cho rằng những chế độ dân chủ không có khả năng đối phó đủ với cuộc khủng hoảng.”
ĐỦ KHẨU TRANG…Sự nhận thức nhanh chóng mối nguy hiểm đã cho phép tránh một loạt những vấn đề mà chúng ta trải nghiệm ở Bỉ
Thí dụ về sự quản lý các khẩu trang đặc biệt gây ấn tượng mạnh.
Đài Loan đã xác nhận trường hợp Covid-19 đầu tiên, ngày 21/1 (4/2 ở Bỉ). Trong vài ngày, các khẩu trang ngoại khoa (masque chirurgical) đã biến mất khỏi các quầy của các cửa hàng và các hiệu thuốc. Chính phủ đã trực tiếp phản ứng bằng cách cấm chỉ sự xuất cảng của các khẩu trang ngày 24/1 và tuần sau bằng cách kiểm soát sự phân phối. Ngày 6/2, một hệ thống phân phối hạn định (système de rationnement) được thiết đặt bởi National Health Insurance (NIH) : sau khi đã cung cấp các bệnh viện, một cư dân có quyền hai khẩu trang mỗi tuần.
Một cách song hành, chính phủ Đài loan đã đầu tư tương đương 6 triệu euro để gia tăng sản xuất các khẩu trang và mua những đường sản xuất (ligne de production) mới. Những nhà máy chế tạo cũng đã được trưng dụng. Trong vài ngày, sự sản xuất mỗi ngày được chuyển từ bốn lên 13 triệu khẩu trang mỗi ngày. Đến độ chính phủ đã gia tăng khẩu phần khẩu trang lên 3 khẩu trang mỗi tuần đối với người lớn, và 5 đối với trẻ em.
…ĐƯỢC PHÂN PHÁT MỘT CÁCH THÔNG MINH
Trong khung cánh của hệ phân phối hạn định, đã bắt đầu 6/2, mỗi người có thể mua phần khẩu trang của mình ở hiệu thuốc bằng cách trình carte d’assurance NHI. Bằng cách scanner carte bảo hiểm này, những dược sĩ có thể kiểm tra lịch sử mua các khẩu trang của khách hàng, điều này đảm bảo sự tôn trọng phần (quota) các khẩu trang.
Tuy nhiên, phương pháp này đã cho thấy những hạn chế của nó : những hàng dài trước các hiệu thuốc nhanh chóng bị tích tụ. Ngoài ra, tất cả các công nhân không nhất thiết tiếp cận các khẩu trang trong những giờ mở cửa của các hiệu thuốc.
Do đó CECC đã thiết đặt một giải pháp thay thế để tránh phải xếp hàng. Từ 12/3, những cư dân có thể, hàng tuần, đặt hàng trên mạng (en ligne) phần khẩu trang ngoại khoa của họ, qua một application, và rút chúng trong những distributeur được chỉ định. Trong một tuần, 1,8 triệu dân đã sử dụng hệ thống này.
Những kỹ thuật công nghiệp khác cũng được sử dụng bởi Đài loan để kiếm soát dịch. Không thể nói hết trong một bài báo. Tuy nhiên một điều là chắc chắn : một quốc gia ý thức mối hiểm nguy của một dịch bệnh càng sớm, nó sẽ quản lý dịch bệnh này càng tốt hơn. Thí dụ Đài Loan đối với cuộc khủng hoảng hiện nay than ôi chỉ vẫn là một thí dụ, bởi vì quá muộn đối với Bỉ và châu Âu để áp dụng những biện pháp như thế.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/4/2020)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/4/2020)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

7 Responses to Thời sự y học số 545 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 546 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 547 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 550 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  4. Pingback: Thời sự y học số 553 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  5. Pingback: Thời sự y học số 554 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  6. Pingback: Thời sự y học số 555 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  7. Pingback: Thời sự y học số 557 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s