Thời sự y học số 544 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ EMMANUEL MACRON : ” DỊCH BỆNH BẮT ĐẦU GIẪM CHÂN TẠI CHỖ “
Tổng thống Pháp loan báo chiều thứ hai 13/4 kéo dài thời gian cách ly đến 11/5. Sau date này, các nhà trẻ, trường học sẽ dẫn dần mở cửa.Một thứ hai lễ Phục Sinh mang dấu nghiêm trọng. Đối với bài phát biểu long trọng lần thứ ba từ điện Elysée, Tổng thống Cọng Hỏa Pháp đã thiết tha cám ơn, trước hết, những nhân viên y tế ở tuyến đầu, “đã đứng vững”. Nhưng cũng những “nông gia, người giao hàng, người hốt rác, công chức, phóng viên, dân biểu địa phương”, ” đang sống những ngày khó khăn” và tuy vậy ” mỗi ngày, chúng ta đã tiến lên”, chủ tịch nhà nước đã nhấn mạnh như vậy. Ông muốn phô bày một giọng nói ít churchillien hơn mong chờ, bằng cách mở ra một triễn vọng ít bi thảm hơn, bằng cách truyền dẫn một ít lạc quan : ” dịch bệnh bắt đầu giẫm chân tại chỗ, những bệnh nhân vào khoa hồi sức giảm xuống, hy vọng tái sinh”, ông đã chào mừng như vậy.
Tuy nhiên, sự giam hãm (confinement) sẽ kéo dài cho đến “thứ hai 11/5″. Và sau đó đối với những người bị những bệnh mãn tính. Bắt đầu từ date này, chủ tịch nước tuyển bố mờ dần dần các trường học. Ngoài ra, những khẩu trang đeo ở nơi công cộng sẽ trở nên bắt buộc đối với vài nghề nghiệp. Trên bình diện y tế, ” mọi người có một triệu chứng sẽ có thể được thử nghiệm”, Emmanuel Macron đã hứa như vậy. Với một nguyên tắc : những người dương tính với Covid-19 sẽ phải tự cách ly. Ngược lại, các bar, các tiệm ăn và các tiệm cà phê vẫn bị đóng cửa. Về các festival, số phận của chúng bị đông lạnh ít nhất cho đến giữa tháng bảy”.
Chủ tịch nhà nước tìm cách phô bày một giọng nói khiêm tốn hơn, như bà con thân thuộc của ông đã yêu cầu ông như vậy. ” Một cách hết sức thành thực, hết sức minh bạch”, ông đã nhận là đã không có “những câu trả lời” cho vài câu hỏi. Một lần chẳng chết ai, ông ngay cả hé nở một lời thú tội, công nhận rằng nước Pháp có lẽ “đã không khá chuẩn bị” đối với cuộc khủng hoảng này. ” Chúng ta đã không có thể phân phát khá đủ khẩu trang cho những nhân viên y tế của chúng ta “, ông đã công nhận như vậy. Trước khi hứa hẹn một “sự sản xuất như trong thời chiến” và một sự tăng nhanh, ngay từ bây giờ, những nhịp độ công nghiệp để nhân lên 5 lẫn những giao hàng.
Khía cạnh kinh tế, chủ tịch nước đã hứa hẹn một “kế hoạch đặc biệt đối với ngành khách sạn, nghề mở hàng ăn, những những cuộc biểu diễn văn hóa “, cũng như một ” sự hỗ trợ đặc biệt cho các gia đình khó khăn nhất và đông con ” và cho những sinh viên bấp bênh nhất ”
(LE FIGARO 14/4/2020)

2/ CUỘC CHẠY ĐUA RÁO RIẾT NHẰM TÌM NHỮNG ĐIỀU TRỊ CHỐNG COVID-19
Những thuốc chống virus, chloroquine, plasma…Khoảng 100 thử nghiệm điều trị được tiến hành. Những viện bào chế dược phẩm lớn nhất của thế giới làm việc để tìm ra một phương thuốc.Sự nghiên cứu để tìm những điều trị chống Covid-19 đang diễn ra sôi nổi. Những viện bào chế dược phẩm, thường bị dèm pha, bây giờ biết rằng họ sẽ đánh lớn. Trong khi một nửa các thử nghiệm lâm sàng hướng về những thuốc hiện có được cải dụng (repositionné), hai trục nghiên cứu chính sẽ được theo. Trục đầu tiên là sử dụng những thuốc chống virus, nghĩa là những chất làm vô hiệu hóa virus và làm sụt giảm charge virale. Hướng thứ hai nhằm điều biến đáp ứng miễn dịch (modulation de la réponse immunitaire) của các bệnh nhân. Hydroxychloroquine, được GS Raoult, của IHU de Marseille chủ trương sử dụng, và đã phát khởi một cuộc tranh cãi dữ dội ở Pháp, nằm trong loại thử nghiệm thứ hai.
Khoảng 100 thử nghiệm lâm sàng đã được phát động trên toàn thế giới. Ngay cả trước khi có những kết quả đầu tiên, sự sản xuất hàng loạt đã được bắt đầu.(Un patient participe à un essai de vaccin test contre le Covid-19, à Kansas City, aux Etats-Unis).
SANTÉ. Sự đổ xô của các Big Pharma đến Covid-19 đã không chậm trễ. Từ tháng giêng, những viện bào chế dược phẩm lớn nhất của hành tinh đã thành lập những cellule de crise. Những đơn vị nghiên cứu và những nhà máy được huy động. Khoảng 50 chuyên gia về miễn dịch học và virus học làm việc ở công ty Anh-Thụy Điển AstraZeneca. Các viện bào chế dược phẩm lớn bắt tay vào việc một mình hay đối tác với những biotech, như GSK liên minh với Vir Biotechnology của Hoa Kỳ hay Sanofi với Regenero. Những thử nghiệm lâm sàng đã được phát động trên toàn thế giới trong một thời gian kỷ lục. Tóm lại, ta đếm được hơn 80 candidat médicament và 50 candidat vaccin, hiện được thử nghiệm bởi các Big Pharma. ” Chúng ta đang sống những giờ phút đặc biệt và công nghiệp đáp ứng với điều đó “, David Ricks, PDG của công ty Eli Lilly và chủ tịch của Fédération internationale des fabricants pharmaceutiques (IFPMA) đã đảm bảo như vậy.
NHỮNG THỦ TỤC HÀNH CHÁNH ĐƯỢC TĂNG TỐC
Nhiều trục nghiên cứu được tiến hành song song, trong đó có hydroxychloroquine. Plaquenil của Sanofi thuộc về thử nghiệm châu Âu Discovery. Hôm thứ sáu 10/4, viện bào chế Pháp đã cam kết cho 100 triệu liều cho 50 nước. Hai hướng điều trị khác được theo : các thuốc chống virus, đơn độc hay phối hợp, cho phép chống lại căn bệnh ở một giai đoạn sớm, và những thuốc điều biến miễn dịch (immunomodulateur).
Một nửa những thử nghiệm lâm sàng hướng về những thuốc hiện có được cải dụng (repositionné) chống lại Covid-19. ” Hướng theo hướng mới (réorienter) những thuốc điều trị đã được đăng ký mà ta đã biết những profil nguy cơ, là dễ hơn và nhanh hơn “, Olivier Wierzba đã giải thích như vậy. Đó là trường hợp của Remdesivir của công ty Gilead, được phát triển năm 2014 trong dịch bệnh Ebola. 5000 điều trị đã sẵn có để phát động những thử nghiệm giai đoạn 3 (giai đoạn cuối trước khi xi phép thương mãi hóa). Thí dụ khác, Actemra của hãng Roche, được kê đơn để điều trị viêm đa khớp dạng thấp. Khoảng 50 bệnh nhân Pháp (trên 330) đã được đưa vào những thử nghiệm lâm sàng. Được bắt đầu hôm thứ tư 8/4, những kết quả đầu tiên sẽ được biết sau 28 ngày.
Cuối tháng ba, các viện bào chế đã cam kết cung cấp một vaccin có thể tiếp cận “khắp nơi trên thế giới ” từ nay đến 12-18 tháng nữa. ” Đó là một lời hứa được cùng đưa ra bởi công nghiệp dược phẩm “, Paul Sroffels, phó chủ tịch của ủy ban chấp hành của Johnson & Johnson đã tuyên bố như vậy trong một visionconference, được tổ chức bởi IFP-MA. Liên minh thần thánh chưa từng có giữa các nghành công nghiệp cạnh tranh. ” Thách thức vượt qua những sự cạnh tranh, Jean-François Brochard, tổng giám đốc của chi nhánh Pháp của Roche, đã bình luận như vậy. Phương thức thắng cuộc sẽ phối hợp các vaccin, các thuốc chống virus để chống lại bệnh ở một giai đoạn sớm, những thuốc để điều trị bệnh nhân ở một giai đoạn tiến triển hơn, các test…Vậy mục tiêu không phải là người đầu tiên tìm ra một điều trị mà là mang lại viên đá của chúng tôi cho một giải pháp toàn bộ.”
Trong cuộc chạy đua ráo riết này, Big Pharma có thể cậy vào những thủ tục hành chánh tăng tốc của giới hữu trách y tế. Ở Pháp, hãng Roche đã chỉ phải cần dưới 10 ngày để thiết đặt những protocole và tuyển mộ những bệnh nhân đầu tiên của những thử nghiệm giai đoạn 3, so với nhiều tháng theo lệ thường.” Có lẽ ta sẽ rút ra những bài học cho lần sau “, Jean-François Brochard đã tâm sự như vậy. Sự cộng tác công-tư, theo hình ảnh của sự đối tác nối kết giữa Johnson & Johnson và Bộ y tế Hoa Kỳ, đã cùng đầu tư 1 tỷ dollar trong nghiên cứu một vaccin.
(LE FIGARO 11&12/4/2020)
Đọc thêm :
TSYH so 542 : bài số 1
TSYH số 534 : bài số 3 và 7
TSYH số 540 : bài số 8 (traitement)

3/ ” TÔI ĐÃ CHƯA BAO GIỜ THẤY NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG TIẾN NHANH NHƯ VẬY.
Dominique Costagliota là giám đốc nghiên cứu ở Inserm và phó giám đốc của Viện dịch tễ và y tế công cộng Pierre-Louis.
Hỏi : Những hướng nghiên cứu chống Covid-19 là gì ?
Dominique Costagliota : Có hai hướng chính. Hướng đầu tiên là sử dụng những thuốc chống virus, nghĩa là những chất có tác dụng vô hiệu hóa virus và như thế làm sụt charge virale (nồng độ virus trong những mẫu nghiệm sinh học). Những thử nghiệm lâm sàng khác nhau trắc nghiệm những thuốc đã được sử dụng chống lại virus khác, để xem chúng có hiệu quả chống lại coronavirus chủng mới hay không. Thí dụ, đó là trường hợp của remdisivir hay của Kaletra (một phối hợp của hai thuốc chống virus, lopinavir và ritonavir, được sử dụng chống VIH). Nhưng cũngcó những thuốc khác.
Hướng nghiên cứu thứ hai là điều biến (moduler) đáp ứng miễn dịch của các bệnh nhân. Thật vậy, dường như rằng trong một số trường hợp nặng nào đó, sự suy sụp được liên kết với một phản ứng quá mức (surréaction) của hệ miễn dịch : “orage cytokinique”. Vậy ta thử nghiệm những chất như interféron, nhằm “làm dịu” cơn giông bão này. AP-HP đã thiết đặt một khung, Corimuno-19, cho phép các nhà nghiên cứu sử dụng một phương pháp luận chung (tuyển mộ các bệnh nhân, đánh giá tình trạng của họ và phân tích những dữ liệu) để trắc nghiệm những immunomodulateur. Hai phương pháp có thể bổ sung cho nhau. Thí dụ thử nghiệm Discovery trắc nghiệm một phối hợp của những thuốc chống virus và interféron.
Hỏi : Hydroxychloroquine nằm trong loại nào ?
Dominique Costagliota : Hydroxychloroquine đã chứng tỏ một tác dụng chống virus in vitro (trên những tế bào được cấy trong phòng thí nghiệm), nhưng chúng ta vẫn phải rất thận trọng. Không một thử nghiệm lâm sàng nào đã cho phép xác nhận một hiệu quả có lợi ở các bệnh nhân. Không có một dữ liệu nào trên những mô hình động vật và những nghiên cứu lâm sàng trên người, được thực hiện ở Trung Quốc hay bởi GS Didier Raoult ở Marseille, không xác chứng. Chúng không cho phép quyết định dứt khoát. Điều đó không muốn nói rằng chloroquine không hiệu quả, nhưng điều đó cũng không chỉ rằng điều đó có hiệu quả. Điều đó cho người ta một hy vọng.
Hỏi : Điều đó có làm xáo trộn những nghiên cứu ?
Dominique Costagliota : Điều đó chắc chắn có một tác dụng có hại, bởi vì vài bệnh nhân không còn muốn những điều trị thí nghiệm (traitement expérimental) nữa, mặc dầu chúng có thể có hiệu quả, vậy điều này có hại trong sự tuyển mộ các bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành. Tôi nhắc lại rằng tiềm năng nguy hiểm khi cho ở quy mô lớn một loại thuốc đã không chứng tỏ khả năng của nó. Tôi không chỉ nói những tác dụng phụ. Trong trường hợp của chikungunya, chloroquine đã tỏ ra không có hiệu quả, bởi vì nó đã làm trầm trọng những triệu chứng của căn bệnh trong thời gian dài hạn. Những thử nghiệm khác nhau về chloroquine, mà một vài được thực hiện bởi các viện bào chế dược phẩm, hiện đang được tiến hành, đây là một điều tốt, nhưng nhất thiết phải chờ đợi những kết quả trước khi có một quyết định nào.
Hỏi : Sự sử dụng huyết tương của những bệnh nhân được chữa lành là một phương pháp khác. Phương pháp này như thế nào ?
Dominique Costagliota : Điều đó gần với các thuốc chống virus nhưng ở đây đó là huyết tương (phần lỏng không màu, có được bằng ly tâm) của những bệnh nhân đã bị nhiễm bởi virus và đã lành bệnh. Ta hy vọng rằng huyết tương chứa những kháng thể, chúng sẽ có khả năng vô hiệu hóa virus ở những bệnh nhân bị nhiễm. Đó là điều được trắc nghiệm trong khung cảnh của thử nghiệm Coviplasm. Huyết tương phải được cho ở các bệnh nhân không quá lâu sau khi bắt đầu các triệu chứng, trước khi họ ở trong một tình trạng nghiêm trọng. Đó là một kỹ thuật phức tạp, sẽ không thể cho phép điều trị toàn bộ các bệnh nhân, nhưng phương pháp này, trong thi hai, có thể được sử dụng tối ưu cho một khuếch tán rộng hơn.
Hỏi : Những người trung quốc dường như đã không tìm ra những điều trị. Tại sao ?
Dominique Costagliota : Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chúng đã thường được thực hiện trên một số lượng nhỏ bệnh nhân. Tôi nghĩ rằng họ ít được chuẩn bị hơn, chúng ta có hơi nhiều thời gian nhìn lại hơn. Theo tôi, kết quả hứa hẹn nhất của họ liên quan đến Kaletra. Điều mà họ đã công bố trong New England Journal of Medicine có thể dường như gây thất vọng, nhưng đó là bởi vì một nửa những bệnh nhân được đưa vào trong thử nghiệm, trung bình, đã có những triệu chứng từ 13 ngày rồi, trong khi đó, phân tích được thực hiện ở những bệnh nhân có những triệu chứng từ dưới 13 ngày đã cho thấy một lợi ích tiềm năng. Nhưng bất hạnh thay, nửa đường, họ đã ngừng tuyển mộ bệnh nhân, nhưng những kết quả của họ gợi ý một tác dụng tiềm năng có lợi trên những bệnh nhân ở một giai đoạn sớm hơn của bệnh.
Hỏi : Nhưng điều đó sẽ không là một điều trị nhiệm màu…
Dominique Costagliota : Không, và tôi nghĩ rằng hiện nay đó không phải là điều mà ta phải trông cậy. Nhưng tôi vẫn lạc quan rằng những nghiên cứu này sẽ dẫn đến kết quả. Đã 30 năm tôi làm việc trong nghiên cứu lâm sàng và tôi đã chưa bao giờ thấy những chuyện tiến nhanh như thế. Tất cả các hướng nghiên cứu tiến bước để tăng nhanh những quá trình. Chúng ta sẽ có những tổng hợp kết quả đầu tiên từ nay đến cuối tháng. Điều đó rất là đáng phấn khởi. Trên bình diện châu Âu, ta đã đếm được khoảng 30 thử nghiệm lâm sàng (vào 9/4). Điều đó là khá tuyệt vời.
(LE FIGARO 11 & 12/4/2020)

4/ MỘT THUỐC MỚI ĐẦY HỨA HẸN CHỐNG CORONAVIRUS
Những thử nghiệm lâm sàng về tính vô hại của một loại thuốc hiệu quả ở chuột chống lại nhiều virus à ARN tương tự với Sars-CoV-2 hiện nay, đột ngột tăng tốc.(Plusieurs types de coronavirus ont pu etre neutralisés chez la souris par un nouvel antiviral nommé EIDD-2801. Des essais cliniques d’innocuité sur des patients humains vont etre lancés ce printemps)
Đó là một hướng nghiên cứu sơ bộ nhưng đồng thời đầy hứa hẹn, được công bố trong tạp chí uy tín Science Translational Medicine tuần này. Nhiều loại coronavirus đã có thể được vô hiệu hóa ở chuột bởi một thuốc chống virus mới được gọi là EIDD-2801. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của các đại học Caroline du Nord và Emory ở Géorgie, đã có thể dập tắt căn bệnh do Sras-Cov-1 hay Mers-Cov, hai coronavirus rất gần với Sars-CoV-2 hiện nay, ở những động vật phòng thí nghiệm. Thuốc đã được cho bằng đường miệng cho đến 12 giờ sau khi gây nhiễm các động vật, cho phép làm giảm nhiều sự hiện diện của virus trong phổi cũng như những xuất huyết phổi và sự sụt cân điển hình liên kết với căn bệnh ở mô hình động vật này. Ở người, trong nhiễm coronavirus, charge virale đạt cao điểm muộn hơn nhiều trong phổi, điều trị này vẫn có thể hiệu quả một tuần sau khi các triệu chứng khởi đầu, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy.
” Hướng điều trị Covid-19 này có vẻ nghiêm túc đối với tôi bởi vì sản phẩm này là mạnh, đặc hiệu đối với những virus à ARN này và đã cho thấy những kết quả đáng chú ý ở chuột “, Thomas Baumert, thầy thuốc và nhà nghiên cứu của Inserm (Institut de recherche sur les maladies virales et hépatiques, đại học Strasbourg) đã nhấn mạnh như vậy. Cùng sự quan tâm đối với chuyên gia về coronavirus Bruno Canard ở CNRS (Laboratoire Architecture et fonction des macromolécules biologiques à Marseille) : ” Sản phẩm này là đầy hứa hẹn. Nó cùng họ của những inhibiteur nucléosidique như remdesivir, hiện được thử nghiệm trên những bệnh nhân trong khung cảnh thử nghiệm lâm sàng Discovery “, nhà chuyên gia nói rõ như vậy.
KHÔNG MỘT ĐỘC TÍNH ĐẶC BIỆT NÀO.
EIDD-2801 không phải hoàn toàn là một điều chưa biết trong virus học. Nó dẫn xuất từ một phân tử, NHC, đã tỏ ra là một chất ức chế mạnh, in vitro, virus à ARN như những virus của cúm, Ebola và những coronavirus, mà vài hiện diện ở dơi có khả năng gây nhiễm trực tiếp những tế bào người. NHC đã được khám phá ngay năm 2002 bởi laboratoire Hoa Kỳ Pharmasset, ở đây vào năm 2007 cũng đã được phát triển thuốc chống virus chính có khả năng chữa lành viêm gan C, sofosbuvir (Sovaldi). NHC thuộc họ của những chất tương cận của cytosine, mà một vài, như lamivudine (Epivir) hay emtricitabine (Emtriva), là trong số những thuốc được sử dụng nhất chống lại một virus được biết rõ khác, virus của sida.
EIDD-2801 là một dạng của NHC, được thích ứng với chuyển hóa người, được hiệu chính năm vừa qua bởi những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của Emory Institute for Drug Development, trung tâm nghiên cứu không có mục đích lợi nhuận, phát xuất từ đại học Emory ở Atlanta (Géorgie). Lúc ban đầu được dự kiến như là tác nhân chống cúm vạn ứng, EIDD-2801 phong bế nhiễm trùng do những virus cúm trong mô hình động vật của chồn sương (furet). Vì không tìm thấy ở nó một độc tính đặc biệt nào ở động vật hay trên những tế bào người, nên các nhà nghiên cứu sửa soạn thử nghiệm nó ở người.
Sự khám phá tính hiệu quả của nó chống lại những coronavirus bây giờ đẩy nhanh sự thiết đặt những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên về tính vô hại của nó, được dự kiến vào mùa xuân này. Cũng như đối với mọi médicament candidat; những thử nghiệm này sẽ cần thiết để kiểm tra rằng nó không có những tác dụng phụ không được mong muốn ở người. ” Những thử nghiệm lâm sàng sẽ được làm dễ bởi sự kiện là chúng ta đã tích lũy nhiều kinh nghiệm với loại thuốc này”, Bruno Canard đã nói rõ như vậy. Ông nói thêm : ” Với cùng lý do, trong trường hợp thành công, sự sản xuất công nghiệp của nó có thể bắt đầu rất nhanh”. Với, chủ yếu, hy vọng một phương thuốc chống lại bệnh cúm gây hàng trăm ngàn người chết mỗi năm trên thế giới, nhưng cũng chống lại coronavirus version 2019 và những virus kế nghiệp.
(LE FIGARO 11 & 12/4/2020)

5/ OMS TRẮC NGHIỆM 4 ỨNG VIÊN-ĐIỀU TRỊ
CORONAVIRUS. OMS phát động một công trình nghiên cứu quy mô hành tinh về những điều trị chống lại Covid-19. Văn liệu nêu lên nhiều chục ứng viên tiềm năng, trong số đó OMS đã cứu xét bốn loại thuốc.Ý tưởng chủ đạo là sự lấy lại vị trí (repositionnement) cua những thuốc hiện co, một phương thức rõ ràng nhanh hơn sự phát triển của một thuốc bắt đầu từ không gì cả (hay hầu như thế).
Khi một thầy thuốc chứng thực rằng bệnh nhân (được nhập viện) của mình nằm trong sự cứu xét để tham gia công trình nghiên cứu Solidarity, ông ta có thể ghi tên bệnh nhân qua trung gian của một plateforme của OMS, đồng thời ghi chú một số lượng nào đó của những dữ liệu-bệnh nhân và định rõ những thuốc nào, mà bệnh viện có, trong số 4 loại thuốc được khảo sát. Lúc tàn cuộc, thầy thuốc kết thúc sự tham gia của bệnh nhận bằng cách ký ngày tháng xuất viện hay tử vong, cũng như thời gian lưu lại bệnh viện và sự đặt máy thở hay không. Những thuốc được OMS chấp nhận là :
Remdésivir, một sản phẩm có khả năng ức chế một enzyme virale quan trọng, ARN polymérase, phụ thuộc ARN, và đã được thử nghiệm nhưng không thành công năm 2019 trong dịch bệnh Ebola ở Congo. Năng lực kềm hãm sự tăng sinh (réplication) của SARS-CoV-1 và của MERS đã được chứng minh in vitro và người ta đã được biết về vài bệnh nhân nguy kịch mà tình trạng đã được cải thiện nhanh chóng sau khi cho remdésivir. Một con chủ bài phụ thêm của thuốc này là sự dung nạp tốt của nó, kể cả với liều cao.Chloroquine/hydroxychloroquine hiển nhiên là thuốc bị tranh cãi nhất trong số 4 loại thuốc được khảo sát. Tác dụng của nó trên virus cho đến nay đã chỉ được chứng minh trong phòng thí nghiệm (in vitro) ; thí dụ, vào năm 2004, GS Marc Van Ranst đã quan sát in vitro rằng chloroquine tác dụng lên Sras-CoV-1. Mới đây hơn, một nhóm nghiên cứu Pháp đã báo cáo những kết quả dương tính ở những bệnh nhân bị nhiễm bởi Covid-19, nhưng công trình nghiên cứu không được randomisé.
Chính ở Pháp mà cuộc tranh luận ở cực điểm, đến độ một bình luận, được công bố 25/3 trên một site d’information français, xác nhận rằng ta có thể chia cộng đồng khoa học thành 2 phe, phe của những người dùng chloroquine (chloroquinards) và phe của những người chống dùng chloroquine (anti-chloroquinards). Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã duy trì cuộc tranh luận bằng cách xác nhận trong một buổi họp báo rằng chloroquine/hydroxychloroquine sẽ thay đổi tình hình. Những công trình nghiên cứu cũng hiện đang được tiến hành ở Trung Quốc, nhưng hôm 20/3 vừa qua OMS đã đánh giá rằng những dữ liệu sẵn có là không được nhiều để có thể rút ra những kết luận dầu là sơ bộ.
Hydroxychloroquine được sử dụng như diều trị kháng viêm ở những bệnh nhân bị viêm đa khớp dạng thấp hay lupus érythémateux. Nó cũng làm hạ pH trong các endosome, là cửa vào tế bào đối với vài virus.
Lúc ban đầu OMS đã không có ý định đưa chloroquine/hydrochloroquine vào trong công trình nghiên cứu Solidarity, nhưng cuối cùng tổ chức bị thuyết phục bởi sự quan tâm mà thuốc này mang lại trên bình điện quốc tế. Ở Bỉ, hiện nay giới hữu trách y tế khuyến nghị chloroquine/hydroxychloroquine như là thuốc điều trị de première ligne ở những bệnh nhân bị thể nặng của Covid-19.
Lopinavir/ritonavir được sử dụng từ năm 200 trong điều trị những bệnh nhân bị nhiễm bởi VIH. Lopinavir và ritonavir là những chất ức chế protéase, và ngoài ra ritonavir kềm hãm sự thoái biến của lopinavir. Những kết quả được quan sát ở những bệnh nhân bị nhiễm bởi SARS hay MERS là mâu thuẫn.
Một thử nghiệm randomisé đầu tiên ở những bệnh nhân Covid-19 đã để lộ những kết quả gây thất vọng. Những người được điều trị đã không lành bệnh nhân hơn và tỷ lệ tử vong của họ không thấp hơn so với nhóm chủng, mac dầu hiệu quả hơi cao hơn ở những bệnh nhân được điều trị sớm. Chính ở hy vọng mỏng manh này mà hiện ta bám vào đối với hai loại thuốc này.
Trong khung cảnh của công trình nghiên cứu Solidarity, lopinavir/ritonavir sẽ được thử nghiệm đơn độc hay phối hợp với interféron beta.
Solidarity không phải là một thử nghiệm en double aveugle, một sự vi phạm của OMS tính nghiêm túc khoa học, nhưng cần thiết do sự khẩn cấp của tình hình.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/4/2020)
Đọc thêm : TSYH số 542 : bài số 2 (antiviraux à large spectre)

6/ CHÂU ÂU VỚI THỬ NGHIỆM DISCOVERY : HƠN 500 BỆNH NHÂN
Gần 3 tuần sau khi phát động, thử nghiệm Discovery đến đâu rồi ?. Discovery là thử nghiệm lâm sàng châu Âu nhằm tìm ra một điều trị chống covid-19. Ở Pháp, 25 bệnh viện đã đưa vào 540 bệnh nhân tử 22/3, trên 800 bệnh nhân được dự kiến. Tổng cộng, hơn 3000 bệnh nhân sẽ tham gia thử nghiệm này trong 7 nước châu Âu. ” Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử của các đại dịch mà chúng ta có khả năng tiến hành những nghiên cứu en temps réel”; GS Florence Ader, phụ trách thử nghiệm ở Pháp và là thầy thuốc của khoa những bệnh nhiễm trùng của bệnh viện Croix-Rousse-Hospices civils de Lyon, đã nhấn mạnh như vậy.
4 thuốc điều trị được thử nghiệm : remdesivir, một thuốc chống virus, ban đầu được hiệu chính để chống lại virus Ebola (không thành công) ; Kaletra, một phối hợp của hai thuốc chống virus (lopinavir và ritonavir), được sử dụng để chống lại VIH ; Kaletra phối hợp với interféron beta, một chất điều hòa hệ miễn dịch ; và hydroxychloroquine, thuốc chống sốt rét cũ, từ nay nổi tiếng vì được ca ngợi bởi GS Didier Raoult. Tất cả được cung cấp miễn phí bởi 4 viện bào chế dược phẩm.
Những thuốc này đã được chọn ưu tiên trong số hàng chục được liệt kê bởi OMS bởi vì chúng đã cho thấy những dấu hiệu hiệu quả chống lại SARS-CoV-2 in vitro, nghĩa là trong ống nghiệm. Những tín hiệu mặc dầu đáng phấn khởi, tuy nhiên không tiên đoán tính hiệu quả của chúng ở người. Thí dụ, chloroquine đã nhiều lần cho những hy vọng giả, như một bài báo được công bố ngày 8/4 trong British Medical Journal đã nhắc lại điều đó : hoạt tính trong phòng thí nghiệm chống lại virus Ebola, virus de la dengue hay những virus của bệnh cúm, nhưng nó tỏ ra hoàn toàn không hiệu quả in vivo. Còn tệ hại hơn, được trắc nghiệm trên các động vật được nhiễm bởi virus Ebola và virus Chikungunya, nó đã làm trầm trọng nhiễm trùng.
Ý NIỆM TÌNH CỜ
Lúc đầu, hydroxychloroquine không được đưa vào trong thử nghiệm Discovery. Vào phút cuối nó được thêm vào, tiếp theo sau những công trình nghiên cứu sơ bộ của GS Didier Raoult. Nhưng những người bảo vệ nó trách thử nghiệm lâm sàng này không theo đúng protocole được theo ở Marseille : thuốc phải được cho ở tất cả các bệnh nhân (không chỉ những bệnh nhân nhập viện), liên kết với một kháng sinh, azithromycine. Trên thực tế, thử nghiệm Discovery liên quan những bệnh nhân “vừa phải” (modéré), không đòi hỏi cho oxy lưu lượng cao (oxygénation à haut débit) hay hồi sức, cũng như những trường hợp “nặng”. Còn về azithromycine, thuốc kháng sinh này gia tăng hiệu năng của những tác dụng không được mong muốn lên tim của hydroxychloroquine và không có bằng cớ về tính hiệu quả của nó, đó là lý do hydroxychloroquine không được đưa vào thử nghiệm Discovery.
Thử nghiệm diễn biến như thế nào ? Mỗi bệnh nhân được cho, một cách tình cờ, một trong 4 loại thuốc cần thử nghiệm hay những điều trị chuẩn (soins médicaux standards), mà không điều trị bổ sung. Ý niệm tình cờ (hasard) này là cơ bản. Các thầy thuốc có một ý kiến chủ quan, GS Ader đã giải thích như vậy. Nếu ta để họ phân bố các bệnh nhân, chúng ta sẽ có một sự mất cân bằng giữa các nhóm. Như thế sẽ không thể so sánh các kết quả.
Nhóm nhận những điều trị chuẩn (soins standards) (nhóm kiểm soát : groupe contrôle) cũng quan trọng (lý do lo ngại đối với vài người vì sợ những bệnh nhân trong nhóm này có thể bị perte de chance). ” Cách duy nhất để biết một điều trị có hiệu quả hay không là so sánh những tác dụng của nó với référence duy nhất mà chúng ta có “, GS Florence Ader đã chỉ rõ như vậy. Trong trường họp ở đây là tương lai của những bệnh nhân nhận những điều trị chuẩn (oxy liệu pháp, paracétamol trong trường hợp sốt…). Ngoài ra, có thể rằng điều trị này hay điều trị kia tỏ ra không những không hiệu quà, mà còn có hại. Vậy, những bệnh nhân của nhóm “soins standards”, trước hết, không có ít cơ may hơn những bệnh nhân khác.
Những kết quả đầu tiên, ban đầu được dự kiến cuối tháng ba, chỉ sẽ có được vào cuối tháng tư. ” Đó là một bệnh tiến triển chậm, trong khoảng hai tuần. Vậy sự đánh giá tính hiệu quả của những điều trị chỉ có thể được thực hiện 15 gnày sau khi đưa bệnh nhân vào thử nghiệm, GS Ader đã biến minh như vậy. Một phân tích 300 trường hợp đầu tiên sẽ được thực hiện nhanh chóng bởi một ủy ban độc lập gồm những chuyên gia quốc tế “, vị thầy thuốc xác nhận như vậy. Những kết quả được củng cố sẽ đến sau, một khi một số lượng quan trọng bệnh nhân được đưa vào. Nếu những thuốc thử nghiệm tỏ ra không hiệu quả, chúng sẽ nhanh chóng được thay thế bởi những thuốc điều trị đầy hứa hẹn khác trong công trình nghiên cứu.
(LE FIGARO 11&12/4/2020)

7/ CHLOROQUINE : NIỀM HY VỌNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ ĐƠN GIẢN
Chloroquine phosphate, một phân tử tổng hợp, là một loại thuốc đã được sử dụng nhiều nhất, cùng với quinine, trên bình diện trị liệu và phòng ngừa để chống lại bệnh sốt rét. Sự thương mãi hóa có từ những năm 1949-1950. Sự xuất hiện của những đề kháng đối với sản phẩm này trong nhiều vùng bị nhiễm sốt rét trên thế giới, đã dần dần hạn chế chloroquine vào việc sử dụng chủ yếu để phòng ngừa, với liều 100 mg/ngày ở người lớn. Ngoài ra chloroquine có những tác dụng chống viêm (được khai thác trong điều trị viêm đa khớp dạng thấp và lupus érythémateux disséminé), cũng như những tác dụng chống virus, được khám phá giữa những năm 1990 : bằng cách biến đổi pH của những cơ quan tử trong tế bào (organite intracellulaire), được gọi là lysosome, chloroquine phosphate ngăn cản vài virus gây nhiễm những tế bào.
NHỮNG THỬ NGHIỆM RẤT ĐÁNG PHẤN KHỞI.
Một công trình nghiên cứu đa trung tâm trung quốc, được chỉ đạo bởi khoa dược của đại học Qingdao (tỉnh Shandong, miền đông Trung Quốc), được công bố 19/2, đã báo cáo những sự kiện sau đây. 1. In vitro (trong ống nghiệm), những nồng độ thấp của chloroquine phosphate phong bế sự đi vào của Covid-19 trong các tế bào, điều mà 15 laboratoire khác nhau của Trung quốc đã có thể quan sát. 2. Để chứng minh cho những dữ liệu này, một thử nghiệm đã được thực hiện trong 10 bệnh viện trung quốc (mà một ở Vũ Hán, tâm dịch, một bệnh viện khác ở Bắc kinh, một bệnh viện thứ ba ở Thượng Hải…) trên hơn 100 bệnh nhân bị nhiễm corona với viêm phổi được xác nhận. Chloroquine được cho bằng đường miệng với liều 500 mg/ngày trong 10 ngày (xa những liều độc 2g hay hơn) đã tỏ ra có một hiệu quả hơn một điều trị chứng (traitement contôrle), mặc dầu nội dung đã không được mô tả bởi các tác giả. Hiệu quả dường như ngoạn mục : virus biến mất (phản ứng huyết thanh âm tính trong vài ngày), sự cải thiện nhanh chóng của tình trạng của phổi và của những hình ảnh X quang tương ứng, tiến triển lâm sàng rút ngắn lại. Những kết quả này đã khiến chính quyền trung quốc khuyến nghị chloroquine để phòng ngừa và điều trị viêm phổi do Covid-19.
Tiếp theo sau đó, công trình nghiên cứu non randomisée, được thực hiện ở Pháp trên 24 bệnh nhân, bởi GS Didier Raoult, trưởng Institut hospitalo-universitaire de Marseille, đã kết luận theo cùng chiều hướng : 75% những bệnh nhân nhận 600 mg/ngày sản phẩm dưới dạng hydroxychloroquine (dung nạp tốt hơn chloroquine phosphate để có một hiệu quả tương đương) đã loại bỏ virus trong vòng dưới một tuần, và trong chỉ 6 ngày khi hydroxychloroquine sulfate (tên thương mại là Plaquéil) được liên kết với azithromycine, một kháng sinh phòng ngừa những bội nhiễm vi khuẩn và có vài tính chất kháng virus. Ở phía ngược lại, chỉ 10% những bệnh nhân đã không nhận điều trị này đã trở nên âm tính. Đối với GS Raoult, Plaquenil cho phép chữa lành phần lớn các bệnh nhân trong một thời gian rất ngắn. Loại bỏ virus lâu trước khi chấm dứt chu kỳ tự nhiên của nó (khoảng 20 ngày) là yếu tố chủ chốt để tránh những thể nghiêm trọng đòi hỏi soins intensifs và những thể này chỉ xuất hiện nếu virus tồn tại lâu trong cơ thể của những người bị nhiễm.
SANOFI ĐỀ NGHỊ GIÚP ĐỠ
Sau hai công trình nghiên cứu này, Sanofi, công ty phân phối Plaquénil ở Pháp, có những stock quan trọng, đã tiếp cận với giới hữu trách y tế để đặt miễn phí sản phẩm này dưới quyền sử dụng của corps médical phụ trách những bệnh nhân nhập viện
Olivier Bogillot, chủ tịch của Sanofi France đưa ra những lời bình luận : ” Từ nhiều tuần qua, viện bào chế dược phẩm của chúng tôi đã dấn vào trong cuộc chiến đấu chống lại Covid-19, trên bình diện trị liệu cũng như trên bình diện tiêm chủng. Các kíp của chúng tôi được huy động để gia tăng sự sản xuất paracétamol và để chữa tạm sự thiếu hụt ở những người có triệu chứng. Tôi nhấn mạnh phản ứng của BS Olivier Véran, bộ trưởng y tế và văn phòng của ông về đề nghị của chúng tôi. Trong thì đầu, cần phải xác nhận trên quy mô lớn tính hiệu quả và sự dung nạp tốt của Plaquénil trong một công trình nghiên cứu randomiséé. Sản phẩm này sẽ nhập vào công trình nghiên cứu Discovery, một thử nghiệm nhiều trung tâm châu Âu, được điều hợp bởi GS Yazdan Yazdanpanah, trưởng khoa những bệnh nhiễm trùng và nhiệt đới của bệnh viện Bichat (AF-HP). Đó là, ở 3200 bệnh nhân (trong đó 800 người Pháp) Covid-19 dương tính với những dấu hiệu nặng, so sánh 5 nhóm khác nhau : nhóm những bệnh nhân trong đó chỉ những triệu chứng sẽ được điều trị (ba nhóm với những thuốc chống virus) và một nhóm với hydroxychloroquine. Từ thử nghiệm này sẽ có nhiều chiến lược điều trị khả dĩ, thích ứng với những trường hợp khác nhau và với những loại bệnh nhân.
Chloroquine là một sản phẩm ít tốn kém và dễ sản xuất. Nhiều thử nghiệm trên thế giới đang được tiến hành (khoảng 20 ở Trung Quốc) hay sẽ bắt đầu, như ở Anh trên 10.000 người tham dự (chloroquine phosphate và hydroxychloroquine sulfate sẽ được so sánh en double aveugle với một placebo). Tổng thống Trump đã quyết định làm cho nó tức thời có sẵn sử dụng ở khắp nơi trên đất nước Hoa Kỳ. Những thuốc khác, mà chúng ta sẽ nói sau này, cũng mang niềm hy vọng.
(PARIS MATCH 26/3-1/4/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 542 : bài số 3, 4 (chloroquine)
– TSYH số 541 : bài số 6, 7, 8, 9 (chloroquine)
– TSYH số 538 : bài số 10 (chloroquine)
– TSYH số 536 : bài số 9 (chloroquine)

8/ SỬ DỤNG NHỮNG KHÁNG THỂ CỦA NHỮNG BỆNH NHÂN LÀNH BỆNH ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN COVID-19.
Virus càng lưu hành, số lượng người được miễn nhiễm càng gia tăng trong dân chúng. Một sự bảo vệ cá nhân cũng có thể trở thành một vũ khí tập thể. Thật vậy, những bệnh nhân Covid-19 sản xuất những kháng thể để thành công chống lại nó. Vậy mục tiêu là sử dụng những kháng thể này hiện diện trong huyết tương (phần không màu trong máu sau khi đã loại bỏ những hồng cầu) để làm lợi cho những bệnh nhân khác. ” Đó là một phương thức y khoa khá thường dùng, Cathy Bliem, phó tổng giám đốc của Etablessement français du sang (EFS) đã giải thích như vậy. Thí dụ, ta sử dụng nó trong những trường hợp viêm gan D. Trong khung cảnh của dịch bệnh Covid-19, khó khăn đầu tiên là phải có đủ những người lành bệnh để thực hiện những lấy máu.”
Một thử nghiệm lâm sàng, được mệnh danh Coviplasm, được phát động bởi EFS, AP-HP và Inserm, đã bắt đầu ở Pháp vào đầu tuần. 600 ml huyết tương được lấy ở 200 bệnh nhân lành bệnh từ ít nhất 14 ngày. ” Giai đoạn đầu tiên nhằm phân tích những huyết tương được hiến này và kiểm tra xem chúng có chứa đủ các kháng thể không, Cathy Bliem đã nói như vậy. Chúng ta không phải là những người duy nhất cho rằng sự truyền thụ động các kháng thể này có thể là một điều trị hiệu quả. Ở Đức, có một thử nghiệm lâm sàng được tiến hành song song với thử nghiệm của chúng ta, nhưng nhắm vào những bệnh nhân mà tình trạng lâm sàng là nghiêm trọng và ở giai đoạn rất tiến triển.” Ngoài ra, một công trình nghiên cứu khác, được công bố trong những báo cáo của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, vào đầu tuần, cho thấy tính hiệu quả của điều trị trên 10 bệnh nhân bị bệnh nặng.
” MỘT ĐIỀU TRỊ NẶNG NỀ”
” Mục đích của dự án Coviplasm là để biết sự hiến huyết tương (don de plasma) có thể được phát triển như là một điều trị đại trà không, Cathy Bliem đã nói rõ như vậy. Chúng tôi nhắm vào những bệnh nhân trong một tình trạng nghiêm trọng, nhưng không trong một tình trạng tiến triển như những đồng nghiệp Đức của chúng tôi. 60 bệnh nhân sẽ được đưa vào trong thử nghiệm lâm sàng sẽ diễn ra trong những bệnh viện khác nhau của AP-HP. Một nửa sẽ nhận huyết tương của những người bình phục (plasma-convalescent), nửa kia sẽ nhận một placebo.” Giai đoạn 2 này sẽ bắt đầu vào thứ ba 14/4. Một nhóm 30 bệnh nhân sẽ được truyền hai lần với liều 200 ml huyết tương, cách nhau khoảng 48 giờ, năm ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên. Đó là những bệnh nhân còn ở một giai đoạn sớm nhưng có những yếu tố nguy cơ cao và tình trạng lâm sàng cần phải nhập viện. ” Nghĩa là những người già, hay những người với những bệnh kèm theo, Cathy Bliem đã nói như vậy. Điều trị là khá nặng nề và chỉ có thể được thực hiện trong một khung cảnh bệnh viện.”
HUYẾT TƯƠNG CỦA NHỮNG BỆNH NHÂN LÀNH BỆNH ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM Ở PHÁP
Những bệnh nhân lành bệnh Covid-19 sẽ được mời hiến huyết tương cho Etablissement français du sang (EFS) ngay hôm thứ ba 7/4 trong 3 vùng của nước Pháp : Ile-de-France, Grand Est và Bourgogne-Franche-Comté. Như thế, họ sẽ có thể, người ta hy vọng như vậy, giúp những bệnh nhân nhập viện trong giai đoạn cấp tính của bệnh, xuyên qua thử nghiệm lâm sàng Coviplasm, được cổ xướng bởi Assistance publique-Hopitaux de Paris (AP-HP) với sự hỗ trợ của Inserm. Đó là sử dụng những kháng thể mà những người lành bệnh Covid-19 phát triển, để truyền chúng cho những bệnh nhân bằng truyền huyết tương. 60 bệnh nhân sẽ được đưa bào trong thử nghiệm mà một nửa sẽ nhận huyết tương của những người lành bệnh. Những kết quả sẽ được biết trong hai đến ba tuần. Một công trình nghiên cứu được thực hiện ở Trung Quốc với 5 bệnh nhân trong tình trạng nguy kịch tuổi từ 36 den 65 tuổi đã cho thấy những kết quả đáng phấn khởi vì lẽ hai bệnh nhân trong tình trạng ổn định 37 ngày sau khi truyền huyết tương và 3 bệnh nhân khác ra viện trước tháng thứ hai.
(LE FIGARO 6/4/2020, 11&12/4/2020)
Đọc thêm : TSYH số 534 : bài số 3

9/ MỘT THUỐC TRỊ HEN PHẾ QUẢN HIỆU QUẢ IN VITRO CHỐNG LẠI COVID-19
Một thuốc, đã được sử dụng chống hen phế quản, ciclesonide, tỏ ra rất hiệu quả để phong bế sự tăng sinh của SARS-CoV-2 trong những tế bào người in vitro (trong phòng thí nghiệm), các nhà nghiên cứu của National Institute of Infectious Diseases đã loan báo như vậy trong một ấn bản khoa học được công bố trên site BioRxiv. Các nhà nghiên cứu định rõ rằng những stéroide khác như cortisone hay prednisolone không có tác dụng trên virus.
Ciclesonide là một thuốc vô hại ngay cả ở liều cao ở trẻ em. Một khi được phun vào trong phổi, nó có thể tác động tại chỗ chống lại virus và sự viêm mà không có một tác dụng suy giảm miễn dịch đáng sợ của những corticoides khác, các nhà nghiên cứu đã chỉ như vậy. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu Nhật Bản báo cáo đã điều trị thành công một viêm phổi ở 3 hành khách của du thuyền Diamond Princess, bị nhiễm hồi tháng hai bởi coronavirus.
Đồng thời, các nhà nghiên cứu Nam Hàn của Institut de Pasteur de Corée cũng đã nhận diện ciclosonide sau khi đã sàng lọc một ngân hàng 3000 loại thuốc được cho phép hay những ứng viên, do hiệu quả chống virus của chúng. Họ định rõ trong bài báo trên site BioRxiv rằng tính hiệu quả của nó in vitro là cao hơn remdesivir và chloroquine, hai loại thuốc hiện đang được đánh giá lâm sàng.
Những kết quả này đã dẫn đến sự khởi động vào đầu tháng tư một thử nghiệm lâm sàng của Nam Hàn trên 100 người bị nhiễm corona. ” Chiến lược trắc nghiệm những loại thuốc hiện có được theo đuổi bởi tất cả các viện bào chế, GS Thomas Baumert đã nhấn mạnh như vậy, bởi vì đó là chiến lược nhanh hơn hết để điều trị các bệnh nhân trong trường hợp thành công.
(LE FIGARO 11&12/4/2020)

10/ CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỈ MỚI BẮT ĐẦU
Đối với GS Bréchot, nhà virus học, cựu patron của Inserm rồi phó chủ tịch của Viện Pasteur, chúng ta sẽ sống lâu dài với virus này.
Là chuyên gia của các viêm gan siêu vi trùng, ông đã đi sát những bệnh nhiễm trùng suốt trong một sự nghiệp très haut niveau. Đại dịch này, Christian Bréchot đã tức thời cho nó là quan trọng. Sau khi về hưu ở Viện Pasteur, ông đã đáp lời kêu goi của Global Virus Network, một mạng nghiên cứu hội tụ những chuyên gia virus học của toàn thế giới, để nắm chức chủ tịch. Sự tình cờ đã muốn rằng ông đã tham gia vào sự thành lập phòng thí nghiệm dịch tễ P4 của Vũ Han, trong đó những complotiste đã muốn thấy một chaudron infernal. Tin vào tính hiệu quả của hệ thống y tế của Pháp, ông cho chúng ta những hướng để đối phó với virus.
Là chủ tịch của Global Virus Network, GS Bréchot nhắc lại rằng không có một vaccin đáng tin cậy nào đã được hiệu chính chống lại coronavirus
” Không loại bỏ rằng ta có thể bị nhiễm nhiều lần”Hỏi : Coronavirus làm đỏ rực thế giới, ông đã từng tưởng tượng một đại dịch với tầm quan trọng như thế ?
GS Christian Bréchot : Con virus này trả chúng ta trở lại tỉnh nhún nhường của nhà nghiên cứu của chúng ta. Cuối tháng 12, khi chúng ta đã thấy nó đến, chúng ta đã hiểu mức độ nghiêm trọng nhưng chúng ta nghĩ có thể làm ngừng sự khuếch tán của nó. Đối với tôi, virus này có vẻ như là phần tiếp theo của Sras năm 2003 và của Ebola năm 2014, hai trận dịch mà tôi đã trải nghiệm khi tôi điều khiển Inserm rồi Viện Pasteur. Khi đó đã có một sự thức tỉnh của giới hữu trách y tế, đã có những tiến bộ đáng kể. Vào lúc Ebola, người ta tự nhủ : ” Thật khủng khiếp, những lần đến có thể xảy ra một nhiễm bởi một virus hô hấp, tiến triển thành đại dịch toàn cầu…”
Hỏi : Tuy vậy, có vẻ dường như không gì đã được tiên liệu, ngay cả những st khẩu trang dự trữ cho nhân viên điều trị ?
GS Christian Bréchot : Thật là kỳ lạ. Một cách nào đó, ta khó có thể dự kiến trong ý tưởng rằng một đại dịch như thế có thể thật sự xảy đến, ta đã ” thiếu tưởng tượng ” ; giới hữu trách y tế công cộng chắc chắn bị bận rộn bởi sự quản lý công việc hàng ngày, bởi những vấn đề ngân sách. Nhưng chúng ta đừng quên : Sars-CoV-2 đặc biệt đáng sợ, ít giết người hơn virus của 2003 nhưng “thông minh hơn”, khó phát hiện hơn bởi vì nó có thể không gây triệu chứng. Nó cũng lây nhiễm hơn, một công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng nó gây nhiễm phổi, nhưng cũng họng, điều này giải thích sự phát tán nhanh của nó.
Hỏi : Phải chăng chúng ta đã chậm đo lường đại dịch bởi vì nó xuất phát từ Trung Quốc, đất nước ở xa, mà thông tin mặc dầu bị kiểm soát, tất nhiên là đáng ngờ ?
GS Christian Bréchot : Dĩ nhiên ta đã mất một thời gian quý báu, vào đầu tháng giêng, khi chính quyền trung quốc bịt mồm những người phát ra lời báo động như thầy thuốc nhãn khoa trẻ tuổi, BS Lý văn Lượng. Trong Mạng virus toàn cầu (Global Virus Network), người ta cảm thấy rõ rằng lời nói của những nhà khoa học bị kiểm soát, người ta đã ước tính rằng những con số bệnh nhân và người chết bị đánh giá thấp. Nhưng cùng lúc, một cách nghịch lý, những người Trung Quốc đã chia sẻ những dữ liệu của họ, séquençage của virus được thực hiện một cách rất nhanh chóng. Và họ thực hiện một cố gắng nghiên cứu gây ấn tượng.
Hỏi : Sự mỉa mai của lịch sử, dịch bệnh phát xuất từ Vũ Hán, mà ông biết vì đã tham gia, lúc ông lãnh đạo Viện Pasteur, vào sự thành lập của phòng thí nghiệm rất an toàn P4, cộng tác với chính quyền Trung Quốc…
GS Christian Bréchot : Tất cả phat sinh từ ý muon của Jacques Chirac thành lập, năm 2004, một Comité franco-chinois des maladies émergentes, được giao phó cho Alain Mérieux. Nhà công nghiệp lớn này, mà với ông ta tôi đã làm viec, đóng một vai trò chủ chốt trong việc phát triển sự cộng tác khoa học và y khoa với Trung Quốc. Do vay dự án cửa phòng thí nghiệm P4 Vũ Hán xuất hiện vào năm 2008. Những cuộc thảo luận liên miên bất tận : vài người sợ những vấn đề về an toàn, những người khác, như Alain Mérieux và tôi, đã nghĩ rằng, mặc dầu vẫn tỏ ra thận trọng, nhưng ta không thể bỏ rơi Trung Quốc, đất nước có một bể chứa rất lớn những bệnh nhiễm trùng, rằng phải giúp nước này, không chịu thua thiệt những nước cạnh tranh Hoa Kỳ và Đức. Cuối cùng P4 đã được khánh thành năm 2015 nhưng bất hạnh thay sự hợp tác khoa học đã ít phát triển, một phần do một tinh thần ” chống trung quốc” của vài chính trị gia và những người hữu trách của chính quyền. Thật đáng tiếc. Tôi đã rụng rời bởi tin đồn nói rằng virus đã được chế tạo trong P4 này. Hoàn toàn bị phủ nhận bởi sự phân tích của séquence du coronavirus, tin đồn này phát xuất từ những người được gọi là những nhà nghiên cứu Trung Quốc, trước khi một nghị sĩ Hoa Kỳ cao buộc Bắc Kinh đã phát tán dịch bệnh. Và bây giờ, Trung Quốc cáo buộc Hoa Kỳ đã chế tạo virus ! Tất cả điều đó thật là thê thảm.Hỏi : Ông đã trải nghiệm đại dịch ở Hoa Kỳ như thế nào, nơi đây ông dạy ở Đại học Floride ?
GS Christian Bréchot : Trước hết, trước khi Hoa Kỳ bị ảnh hưởng, tôi đã thấy một sự huy động khác thường của các nhà nghiên cứu, những hãng dược phẩm và những công ty biotech. Điều đó làm phấn khởi, bởi vì Donald Trump đã không đủ năng lực để đối phó với tình hình, đi từ phủ nhận (déni) đến sự tự phụ. Báo chí ngay cả báo cáo những toan tính của ông ta, bằng hàng triệu dollar, muốn đảm bảo sự độc quyền của vaccin mà phòng thí nghiệm Đức Cure Vac đang nghiên cứu. Rồi thì coranavirus đã xuất hiện và đó là sự hoảng sợ. Cũng ở đây, tất cả đều thiếu : các khẩu trang, các bộ thử nghiệm, các máy thở…Bộ “máy” Hoa Kỳ đã bắt đầu khởi động nhưng đã chịu một sự chậm trễ khủng khiếp, còn hơn ở Pháp, ở đây hệ y tế rõ rệt tốt hơn.
Hỏi : Tại sao ta đã chậm trễ để có những kít xét nghiệm như thế ? Chúng có thật sự đáng tin cậy không ?
GS Christian Bréchot : Điều đó sẽ vẫn là, cùng với sự thiếu các khẩu trang, một trong những bài học lớn nhất của cuộc khủng hoảng này. OMS đã sớm công nhận một test được gọi là PCR, được tiêu chuẩn hóa bởi nhiều phòng xét nghiệm. Nam Hàn đã phản ứng rất nhanh, cũng như Trung Quốc hôm nay đề nghị những kít xét nghiệm cho châu Âu và Hoa kỳ…Ở Pháp, điều đó đã mất nhiều thời gian hơn, mặc dầu Viện Pasteur đã tức thời hiệu chính test, đã cung cấp cho các trung tâm bệnh viện những protocole cho phép phát triển nó. Cac xí nghiệp cũng đã bắt đầu sản xuất những kit xét nghiệm. Những test này không đáng tin cậy 100%, nhưng chúng là con đường duy nhất có thể có để thoát dịch. Từ nay phải phát hiện đại trà, bằng cách sử dụng những test để phát hiện sự hiện diện của virus (test PCR) và những test khác để xem những kháng thể đã được phát triển hay không, để có một ý tưởng về khả năng miễn dịch của dân chúng. Điều chủ yếu là tiến hành theo từng giai đoạn, như thế chúng ta sẽ phải còn chung sống lâu với con virus này.
Hỏi : Ông có hiểu cuộc luận chiến ở Pháp về điều trị với hydroxyxhloroquine, được cho bởi GS Raoult trong IHU de Marseille không ?
GS Christian Bréchot : Tôi biết rõ Didier Raoult và tôi quý mến ông ta. Ngoài những hiệu quả quảng cáo và những cuộc tranh cãi, hydroxychloroquine là một hướng điều trị nghiêm túc, được thử nghiệm trong nhiều nước, để điều trị những nhiễm trùng bởi Covid-19 ở giai đoạn sớm của bệnh và, có thể, để dự phòng. Như mọi loại thuốc, hydroxychloroquine không phải là không có nguy cơ, nhất là tim mạch, và điều tốt nhất là tránh không để cho người ta, ở Hoa Kỳ cũng như ở Pháp, đổ dồn đến các hiệu thuốc… Nhưng GS Raoult đã có lý khi thúc hệ y tế bởi vì cấp cứu là đó. Các nhà khoa học thử nghiệm những điều trị được sử dụng đối với những nhiễm trùng hay những bệnh khác, những thuốc như remdesivir, lopinavir, favipiravir, những thuốc chống virus cổ điển, vài thuốc được sử dụng chống lại VIH. Còn hydroxychloroquine, nó tác động lên tế bào bị nhiễm và phản ứng miễn dịch đối với virus, như những interféron alpha và beta. Sau cùng, ta có thể nhắm vào, không phải virus, mà là phản ứng miễn dịch và viêm mà nó phát khởi, phản ứng chịu trách nhiệm hội chứng hô hấp cấp tính và những tử vong. Trong bối cảnh này, được đề nghị những thuốc như những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) chống lại thụ thể IL6, những thuốc hiện được sử dụng cho miễn dịch liệu pháp của ung thư. Những kết quả đầy hứa hẹn đã có được, những thử nghiệm đang được tiến hành. Sau cùng, chúng ta hãy nhấn mạnh tầm quan trọng phải trắc nghiệm những thuốc như hydroxychloroquine hay nitazoxanide để dự phòng ở những người bị tiếp xúc, nhất là nhân viên điều trị, những công nhân viên chức và những người hưu trí của các viện dưỡng lão.
Hỏi : Khi nào các vaccin sẽ hoạt động ?
GS Christian Bréchot : Sớm nhất là trong 18 tháng. Những thí nghiệm đầu tiên đã bắt đầu nhưng phải cảnh giác, trước hết phải đánh giá tính vô hại của vaccin trên những mô hình động vật. Tiền lệ của sự tiêm chủng chống bệnh dengue khiến ta đặc biệt chú ý sự thận trọng này bởi vì, một cách nghịch lý, vài kháng thể có thể, không phải phòng ngừa, mà “làm dễ” một nhiễm trùng thứ hai. Phải nhắc lại rằng cho đến nay, không có một vaccin đáng tin cậy nào đã được hiệu chính chống lại một coronavirus. Những công trình nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng Covid-19 đúng là gây nên sự sản xuất các kháng thể và rằng chúng bảo vệ chúng ta, nhưng trong thời gian bao lâu ?
Hỏi : Ông sưu tập những dữ liệu của các chuyên gia virus học trên toàn thế giờ, hôm nay ông biết gì về virus ?
GS Christian Bréchot : Ta học ve dieu do mỗi ngày và những dữ liệu thay đổi từ công trình nghiên cứu này đến công trình nghiên cứu khác. Nhưng ta biết rằng trên một mặt phẳng, ví dụ một cái bàn, một cuốn sách, virus vẫn nguyên vẹn trong nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày. Vài người sợ rằng nó được truyền qua aérosols, điều này dường như đúng một phần ; những người khác sợ rằng những động vật nuôi trong nhà là một vecteur. Chắc chắn rằng ta sẽ tìm thấy những ARN của virus trên con chó của một ông chủ bị Covid-19, hay trên quần áo của ông ta : điều này không có nghĩa rằng đó là những hạt bị nhiễm (particules infectées). May mắn thay, một động tác đơn giản cho phép hãm lại sự lây nhiễm : hãy rửa tay. Chắc là, coronavirus này, cũng như những virus khác, không thích lắm trời nóng và sự ẩm ướt, nhưng phải thận trọng vì nó cũng phát triển ở châu Phi. Điều mà ta có thể nói một cách chắc chắn, đó là mọi virus, đặc biệt những virus à ARN, sinh ra những biến thể, nghĩa là nó biến dị. Câu hỏi là phải biết nó biến dị như thế nào, với tác động nào. Những công trình nghiên cứu về vấn đề này gia tăng, đặc biệt ở Trung quốc và ở Ý ; chúng gợi ý rằng, còn không chắc chắn, sự hiện hữu của những biến thể liên kết với tỷ lệ tử vong gia tăng. Câu hỏi chủ yếu khác : sự miễn dịch thụ đắc kéo dài bao lâu ? Ta có thể bị nhiễm nhiều lần không ? Điều đó không được loại trừ mặc dầu ta còn thiếu những dữ liệu vững chắc. Nói chung người ta cho rằng khi tối thiểu 50 đến 60% dân số đã bị nhiễm, virus sẽ không phát triển nữa. Sự thật là có lẽ không một quốc gia nào sẽ thoát được con coronavirus khủng khiếp này. Để thắng nó, phải chiến đấu chống lại những chủ nghĩa dân tộc và những cuộc chiến vì cái tôi, vì tiền bạc, vì văn bằng, để sau cùng thiết đặt một sự hợp tác quốc tế thật sự.
(PARIS MATCH 9/4-15/4/2)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(16/4/2020)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

9 Responses to Thời sự y học số 544 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 545 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 546 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 550 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  4. Pingback: Thời sự y học số 551 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  5. Pingback: Thời sự y học số 553 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  6. Pingback: Thời sự y học số 554 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  7. Pingback: Thời sự y học số 556 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  8. Pingback: Thời sự y học số 557 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  9. Pingback: Thời sự y học số 559 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s