Thời sự y học số 542 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CORONAVIRUS : CUỘC CHẠY ĐUA NHỮNG ĐIỀU TRỊĐóng cửa biên giới và các trường học, cách ly toàn thể các vùng, các địa điểm công nghiệp ngừng hoạt động, các lễ hội và các sự kiện thể thao bị hủy bỏ…Từ 3 tháng này, các chính quyền trên toàn thế giới ra sức kềm chế coronavirus chủng mới, được gọi là Sars-cnv-2 và căn bệnh mà nó gây nên từ nay được biết dưới tên Covid-19. ” Những biện pháp hạn chế này nhằm làm chậm lại chừng nào có thể được sự lan tràn của virus, và cho phép lợi được thời gian để tìm ra một điều trị “, Bruno Lina, người phụ trách của Centre international de recherche en infectiologue (Ciri) ở Lyon, đã tâm sự như vậy.Sự khẩn cấp là đáng kể đứng trước con virus này, có khả năng lan tràn một cách im lặng ngay khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên, thậm chí hơi trước đó, trong khi Sras, hội chứng hô hấp xuất hiện năm 2003, trở nên lây nhiễm nhiều ngày sau khi bệnh phát ra. Một simulation của Imperial College Luân Đôn), và những tính toán của một équipe Pháp-Ý chỉ rõ ràng khoảng 60% những trường hợp xuất cảng từ Trung quốc đã có thể xảy ra không được nhận biết. Dịch bệnh này làm hoang mang đến độ một nhà nghiên cứu của Havard, Marc Lipsitch, xác nhận rằng 40 đến 70% dân số thế giới có thể bị gây nhiễm trong năm bởi coronavirus, rằng điều đó được thể hiện bởi một dạng hiền tính của cảm cúm hay bởi một viêm phổi nặng, như hàng ngàn người hiện đang ở trong các đơn vị điều trị tăng cường ở châu Á, châu Âu hay ở Trung Đông. Một điều trị, nhanh lên !
MỘT SỰ HUY ĐỘNG CHƯA TỪNG CÓ
Từ khi génome của Sars-cov-2 đã được công bố bởi các nhà khoa học trung quốc, ngày 10/1 vừa qua, các nhà nghiên cứu của năm lục địa đã dấn mình vào trong cuộc chạy đua điều trị và vaccin. Các viện công, các nhóm dược, những xí nghiệp biotech : tất cả ra sức tìm kiếm một giải pháp, “tay trong tay”, người ta đảm bảo với chúng tôi như vậy. Một sự triển khai như vậy để đáp trả một sự đe dọa virus là vô tiền khoáng hậu : bệnh Sras của năm 2003, bệnh cúm gà H5N1 của năm 2004, hội chứng hô hấp của Trung Đông (Mers) năm 2012, Ebola năm 2016 rồi 2018 đã chưa từng nhận những cố gắng như vậy. Hãy nghĩ rằng giữa cuối tháng giêng và cuối tháng hai vừa qua, hơn 200 thử nghiệm lâm sàng đã được phát động ở Trung Quốc chống lại coronavirus chủng mới. Những thử nghiệm về những thuốc chống virus khác nhau khác nhau đi sát với những thử nghiệm trên những tế bào gốc phát xuất từ máu của cuống rốn, sự thử nghiệm những thuốc chống sốt rét, sự cho vitamine C với liều mạnh hay những điều trị của y học cổ truyền trung quốc.
Chúng ta hãy rất minh bạch : vào lúc mà chúng tôi viết những dòng chữ này, không có một điều trị đáng tin cậy nào cũng như không có một vaccin nào có sẵn để dùng. Ở Trung Quốc cũng như ở những nước khác, các thầy thuốc buộc phải điều trị những triệu chứng của những bệnh nhân bị nhiễm bởi coronavirus. Trong vài trường hợp cực kỳ, các thầy thuốc thử làm tất cả bằng cách áp dụng những điều trị được gọi là ” compassionnel”, đó là dùng những thuốc chưa được cho phép nhưng có những kết quả sơ bộ (in vitro, những mô hình động vật, vài thử nghiệm trên người…) và ta nghĩ là chúng có thể tác dụng lên virus mới phát khởi.
THUỐC CHỐNG VIRUS CÓ KHÁNG PHỔ RỘNG
” Với những thuốc này, ít nhất, các nhà khoa học không bắt đầu từ zéro”, Manuel Rosa-Calatrava, đồng giám đốc của phòng thí nghiệm virus học và bệnh lý học người VirPath (Inserm), đã giải thích như vậy.
Ngay những ngày đầu tiên của dịch bệnh, hai sản phẩm đã được thử nghiệm trực tiếp trên các bệnh nhân : một thuốc chống virus có kháng phổ rộng (antiviral à large spectre), remdesivir, được phát triển trong những năm vừa qua để chống lại Ebola ; và một thuốc được thương mãi hóa dưới tên Kaletra, phối hợp của các thuốc lopinavir và ritonavir, thường được sử dụng để chống lại HIV. Hai thuốc này phong bế các men mà virus cần để tăng sinh. Trong những công trình nghiên cứu động vật, chúng đã làm giảm mức của các coronavirus, nguồn gốc của Sras và của Mers, mà cấu trúc có thể so sánh với cấu trúc của Sars-cov-2. Hai thử nghiệm lâm sàng đã được phát động vào tháng hai, phối hợp với OMS, để đánh giá những lợi ích của chúng trong sự chống lại coronavirus. Theo dự kiến, những kết quả sẽ được biết trong tháng tư này. Ở Bordeaux, một bệnh nhân 48 tuổi đã được tuyên bố chữa lành hôm 13/2 sau khi được cho remdesivir bằng đường tĩnh mạch.” Bệnh nhân đã xuất viện không có những dấu hiệu lâm sàng và với tất cả những tiêu chuẩn virus học xác nhận rằng ông ta không còn mang một dấu vết nào về sự hiện diện của virus”, Danis Malvy, chuyên gia về các bệnh nhiễm trùng ở CHU de Bordeaux, đã tuyên bố như vậy. Ở Séoul, Nam Hàn, chính một thuốc chống virus khác dường như đã giúp một bệnh nhân : các thầy thuốc của bệnh nhân này đã xác nhận rằng bệnh nhân đã hoàn toàn bình phục sau khi cho Kaletra. Vả lại, chính thuốc Kaletra này đã được sử dụng ở Paris, trên một bệnh nhân từ đó đã bình phục…
TRUYỀN HUYẾT TƯƠNG
Chiến thắng ? Không phải nhanh như vậy.” Bệnh nhân mà chúng tôi đã điều trị đúng là đã lành bệnh với Kaletra, nhưng thẳng thắn mà nói, chúng tôi nghĩ rằng, bệnh nhân này đúng hơn đã tự lành bệnh, Eric Caumes, trưởng khoa những bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới ở bệnh viện la Pitié-Salpetrière (Paris) đã nói như vậy. Một cách tổng quát, ta không thể rút ra một kết luận nào chỉ trên một trường hợp. Bệnh nhân ở Bordeaux có thể được chữa lành với remdesivir, nhưng một bệnh nhân khác bị chết ở Paris (một du khách trung quốc) mặc dầu thuốc này đã được cho. Không có một lý do nào điều trị hiệu quả trên một bệnh nhân mà không hiệu quả trên một bệnh nhân khác, mặc dầu tình trạng nghiêm trọng của họ là khác nhau.” “Hiện nay chúng ta có rất ít thông tin về chất lượng và loại đáp ứng miễn dịch cho phép chữa lành, Bruno Lina đã nói thêm như vậy. Chúng ta không biết tại sao vài bệnh nhân lành bệnh còn những bệnh nhân khác thì không !”
Đứng trước sự thiếu những giải pháp điều trị tức thời và tình trạng khẩn cấp của vài tình huống, chính quyền trung quốc đã bắt đầu yêu cầu những cựu bệnh nhân đã được chữa lành, cho máu của họ. Mục đích : trích huyết tương (plasma), được cho là chứa những kháng thể, được phát triển một cách đặc hiệu chống lại virus. Sau đó truyền huyết tương này vào những bệnh nhân bị bệnh nặng và như thế thử làm sụt giảm charge virale. Institut China National Biotec Group đã đảm bảo rằng những bệnh nhân sau khi được truyền huyết tương, đã thấy tình trạng của họ “được cải thiện trong 24 giờ”. Giám đốc của những chương trình khẩn cấp của OMS, Michael Ryan, đã giải thích rằng sự sử dụng huyết tương của những cựu bệnh nhân đã tỏ ra có hiệu quả chống lại vài bệnh, như bệnh dại hay bệnh bạch hầu, tuy nhiên ông nhấn mạnh rằng cách điều trị này không luôn luôn thành công.”
Sự việc những người Trung quốc nhờ đến những người sống sót coronavirus để thực hiện liệu pháp huyết thanh (sérothérapie), chỉ rằng họ hẳn phải đi từ thất bại này đến thất bại khác với những thử nghiệm hiện hành “, Eric Caumes đã nghĩ như vậy.
Điều này không ngăn cản những loan báo thắng lợi nối tiếp nhau. Cuối tháng hai, một équipe của bệnh viện đại học Qingdao tiết lộ những thử nghiệm rất sơ bộ trên một trăm bệnh nhân, được điều trị bởi phosphate de chloroquine. Thuốc chống sốt rét cũ rẻ tiền này đã cho phép chống lại những tác dụng của coronavirus. Đợt chữa được khuyến nghị bởi các chuyên gia trung quốc là 500 mg, hai lần mỗi ngày, trong 10 ngày, nhưng coi chừng những tác dụng phụ, tiềm năng rất nghiêm trọng. Hy vọng này cũng được duy trì bởi những thử nghiệm in vitro, đầy hứa hẹn, được thực hiện vào đầu tháng hai và bởi những công trình nghiên cứu trước ; những công trình này gợi ý rằng thuốc tầm thường này (chloroquine) làm cho sự kết hợp giữa virus và tế bào khó khăn hơn, và làm rối loạn những phản ứng men trong những thụ thể của các virus.
Những nghiên cứu không dừng lại ở vô số những điều trị trị bệnh, được khẩn cấp lấy ra từ những cửa hàng thuốc. Những équipe khác làm việc ngày và đêm để hiệu chính một vaccin phòng ngừa.
MỘT VACCIN ARN ĐANG ĐƯỢC NGHIÊN CỨU.
Chúng ta hãy nhắc lại rằng nếu Sras dường như đã biến mất vào năm 2004, thì Mers thỉnh thoảng trở lại tấn công. Sau khi nhận thấy tất cả những điều không chắc chắn còn ảnh hưởng lên những tính chất của Sras-cov-2, nhiều hướng thăm dò vaccin được xét đến. Nhưng những hướng thăm dò này loại bỏ việc khảo sát lên toàn bộ virus.” Tìm kiếm một vaccin từ cả con virus, điều này cần phải làm giảm nhẹ độc lực của nó, Benjamin Wyplosz, thầy thuốc chuyên khoa bệnh nhiễm trùng ở bệnh viện Kremlin-Bicêtre (AP-HP) đã giải thích như vậy. Nhưng đó là một quá trình dài, chán ngắt và bấp bênh. Và tiềm năng nguy hiểm ! Ngoài ra, nếu ta thử giết hoàn toàn virus, ta có nguy cơ loại bỏ tất cả những gì có thể sinh một phản ứng miễn dịch.” Để nhanh chóng và hiệu quả, các nhà khoa học thăm dò những chiến lược khác.
Vài nhà khoa học ra sức nghiên cứu để có được một vaccin ARN, nhất là công ty Moderna của Hoa Kỳ và một équipe của Imperial College. Đó là tiêm một mảnh ARN, sinh ra cái vỏ bọc của coronavirus. Chính những tế bào của bệnh nhân sẽ sản xuất những hạt virus (particule virale), sau đó do tiếp xúc với chúng, những tế bào của bệnh nhân sẽ miễn dịch một cách tự nhiên bằng cách sản xuất những kháng thể và những tế bào lympho T. Loại vaccin này được xem như bền hơn và dễ chế tạo hơn một vaccin cổ điển. Sáu tuần sau khi các công trình bắt đầu, 26/2, các viện y tế Hoa Kỳ (NIH) đã loan bảo rằng giải pháp vaccin của Moderna (tên mật mã : mRNA-1273) đã tỏ ra có hiệu quả trên chuột và rằng những thử nghiệm trên người sẽ bắt đầu trước cuối tháng tư, với hy vọng thương mãi hóa từ nay đến một năm nữa.
ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH
Một phương pháp khác được theo đuổi bởi những nhà nghiên cứu của đại học Queensland (Úc). Để lợi được thời gian, họ khảo sát trực tiếp những protéine của virus, có thể nhận biết nhờ hệ miễn dịch. Phương pháp của những nhà nghiên cứu Úc dựa trên một kỹ thuật công nghệ được gọi là “pince moléculaire”, cho phép làm vững những protéine này. Được sản xuất in vitro (trong phòng thí nghiệm), chúng tạo thành một cái đích tốt cho một vaccin, nhưng chúng rất không bền. Do đó những nhà khoa học tìm cách làm vững chúng bằng cách gắn những phân tử vào những protéine. Chỉ trong 3 tuần, équipe của Úc đã tạo vaccin ứng viên đầu tiên trong phòng thí nghiệm, rồi đã chuyển qua giai đoạn thử nghiệm trên động vật.
Về phía mình, các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur ra sức nghiên cứu một dẫn xuất vaccin của bệnh sởi : ” Chúng tôi thử biến đổi virus của bệnh sởi để làm cho nó biểu hiện những protéine tạo thành những thể kim (spicule), được dựng lên ở trên bề mặt của coronavirus chủng mới này, Christophe d’Enfert, giám đốc khoa học của Viện Pasteur, đã phát biểu như vậy. Nếu chúng ta có năng lực phát triển một phản ứng miễn dịch chống lại những thể kim này, ta sẽ có thể loại bỏ virus. Chúng tôi đang hiệu chính những thử nghiệm và chúng tôi hy vọng có những kết quả trên động vật vào đầu mùa hè.”
Nói thật, tất cả các laboratoire đều đứng vào hàng ngũ, từ Johnson & Johnson đến GlaxoSmithKline, qua Sanofi, liên kết với Bộ Y tế Hoa Kỳ. Theo OMS, hơn 20 dự án vaccin chống coronavirus đang được phát triển trên thế giới
CUỘC CHẠY ĐUA CỦA CÁC PHÒNG THÍ NGHIỆM
Trừ phi một ứng viên vaccin bất ngờ xuất hiện ; ngày 13/2, một équipe Hoa Kỳ của NIH công bố một công trình nghiên cứu tiết lộ rằng sự cho remdesivir ở những con khỉ rhésus có một tác dụng phòng ngừa đứng trước coranovirus gây bệnh Mers
Thế thì khi nào ta sẽ có một điều trị hiệu quả đầu tiên ? Và ai sẽ thắng cuộc chạy đua chống lại con quái vật này. ” Ngoài những câu hỏi về tính hiệu quả, độ dung nạp và phí tổn, còn sẽ được đặt ra năng lực sản xuất một vaccin ở quy mô công nghiệp, Christophe d’Enfert đã xác nhận như vậy. Sự công nghiệp hóa này sẽ dễ dàng ít hay nhiều tùy theo tính vững của thuốc được chọn và cách cho thuốc.” Không một chuyên gia nào dự kiến sự đi đến của một vaccin chống lại coronavirus trước 6 tháng đến một năm. Từ nay đến lúc đó, phải hạn chế những thiệt hại của một dịch bệnh thế giới. Và theo dõi những biến dị của virus này.
(SCIENCE & VIE 4/2020)
Đọc thêm :
TSYH số 534 : bài số 3 và 7
TSYH số 540 : bài số 8 (traitement)

2/ NHỮNG THUỐC CHỐNG VIRUS CÓ KHÁNG PHỔ RỘNG
CORONAVIRUS. Trong khi các phòng thí nghiệm trên toàn thế giới chú tâm tìm kiếm một điều trị chống Covid-19, một nhóm những chuyên gia về bệnh nhiễm trùng đã quyết định nhìn sự vật dưới một góc cạnh rộng hơn, nhưng cũng trong thời gian dài hạn hơn.
Đứng trước điều chúng thực rằng, thế giới ngày càng thường phải ứng phó những nhiễm trùng do virus lan tràn một cách nhanh chóng, équipe của thầy thuốc chuyên bệnh nhiễm trùng Đan Mạch Petter Andersen muốn phát triển những vũ khí nhằm một phổ virus rộng hơn là chỉ SARS-CoV2. Vi vậy các chuyên gia quyết định tránh xa phương pháp cổ điển nhằm phát triển một thuốc duy nhất chỉ nhắm vào một virus, họ đã giải thích như vậy trong International Journal of Infectious Diseases.
REPOSITIONNEMENT (DRUG REPURPOSING)
Từ một nửa thế kỷ nay, ta biết rằng có những sản phẩm hoạt tính chống lại nhiều virus, đó là những tác nhân chống virus kháng phổ rộng (agent antiviral à large spectre). Ý niệm này xuất phát từ điều chứng thực rằng các loại virus khác nhau sử dụng những cơ chế giống nhau để tăng sinh trong tế bào ký chủ và ý niệm này chỉ gây nên một sự quan tâm giới hạn. Tuy nhiên, kinh nghiệm của những dịch bệnh quan trọng như dịch bệnh Ebola, Zika, cúm Mễ Tây Cơ, của MERS và hôm nay của Covid-19 đã gây nên một sự tăng phấn khởi trở lại đối với phương pháp này. Những năm qua cũng đã chứng kiến sự xuất hiện của cả một loạt những thuốc mới, điều này đã làm cho sự nghiên cứu hiệu quả và lý thú hơn. Một yếu tố thứ ba nhập cuộc là ở chỗ sự quan tâm ngày càng gia tăng đối với reposionnement của những thuốc hiện có (drug repurposing). Thật vậy, sự nghiên cứu đã chứng minh rằng vài loại thuốc có thể được sử dụng trong những chỉ định đôi khi rất xa với mục tiêu điều trị ban đầu. Ưu điểm lớn của repositionnement là nó cho phép lợi được thời gian quý báu, vì lẽ nhiều giai đoạn của quá trình phát triển thuốc đã được thực hiện.
Andersen và các cộng sự đã mang lại một cái nhìn bao quát về điều mà ta biết hiện nay về tác dụng của 119 loại thuốc (với độ an toàn được chứng minh) lên 86 loại virus. Một sơ đồ về hoạt tính kháng virus của mỗi trong trong những sản phẩm này có thể sử dụng trong một cơ sở những dữ liệu có thể tiếp cận tự do và miễn phí : https://drugvirus.info). Ta tìm thấy trong số những sản phẩm này những thuốc chống virus cổ điển, nhưng cũng những kháng sinh và những thuốc chống ký sinh trùng và ngay cả những điều trị được sử dụng chống lại những vấn đề khác nhau không phải nhiễm trùng như những bệnh tim mạch, bệnh đái đường, chứng tăng cholestérol-huyết, viêm và ung thư.
CANDIDATSVài trong số những thuốc này đã là đối tượng của những thử nghiệm lâm sàng trong những nhiễm trùng do virus. Khoảng 31 ứng viên hứa hẹn đã có thể được nhận diện để điều trị Covid-19, và những nghiên cứu lâm sàng đã được phát động với lopinavir, ritonavir và remdésivir. Lopinavir và Ritonavir là những antirétroviral đã được sử dụng trong điều trị nhiễm bởi virus HIV. Ngay tháng giêng 2020, giới hữu trách y tế trung quốc đã khuyến nghị điều trị những bệnh nhân nhập viện bằng một phối hợp lopinavir/ritonavir (Kaletra) và interféron alpha với ý tưởng là chúng có thể ức chế một protéase của SARS-CoV2 như chúng làm như vậy đối với HIV. Tuy nhiên, Eric De Clercq, nhà nghiên cứu ở Viện Riga (Louvain), đã hoài nghi tính chất có căn cứ của phương thức này trong một cuộc phỏng vấn vào cuối tháng hai dành cho Nature Biotechnology : theo ông, sự liên kết này chỉ có hiệu quả chống lại protéase của HIV. Remdésivir là một thuốc chống virus có kháng phổ rộng, còn đang được thử nghiệm, ban đầu được phát triển để điều trị Ebola. Remdésivir đã thất bại trong chỉ định điều trị Ebola, nhưng nhiều chuyên gia nghĩ rằng nó có thể là một ứng viên hứa hẹn chống lại Covid-19.
Những thuốc kháng virus có kháng phổ rộng là những thuốc có kích thước nhỏ. Tuy nhiên, để điều trị Covid-19, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến những globuline tiêm tĩnh mạch và đến những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) của những bệnh nhân lành bệnh.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/3/2020)

3/ PHÁP : CHLOROQUINE CHỈ ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở NHỮNG BỆNH NHÂN NHẬP VIỆN.
Bộ trưởng y tế Pháp, Olivier Véran, đã tái xác nhận điều đó hôm thứ bảy 28/3 : “hydroxychloroquine, một dẫn xuất của chloroquine, sẽ không có thể được kê đơn ở thành phố. Vậy chỉ những bệnh nhân nhập viện, những trường hợp nặng, mới có thể dùng nó. ” Tôi dựa tất cả những quyết định của tôi trên những khuyến nghị của những société savante. Đã có 7 société phát biểu và nói rằng những dữ liệu lâm sàng mà chúng ta có là quá không đủ để có thể kê đơn điều trị mà không có nguy cơ cho những người Pháp trong chỉ định này “, ông đã nhấn mạnh như vậy.Một cách song hành, Didier Raoult, giám đốc của Institut hospitalo-universitaire Méditerranée Infection (IHU) ở Marseille, đã quyết định điều trị tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán trong viện của ông với hydroxychloroquine, liên kết với một kháng sinh, azithromycine. Một phối hợp tuy vậy không được khuyên sử dụng, vì lẽ một nguy cơ gia tăng những rối loạn nhịp. “1003 bệnh nhân được điều trị”, ông đã loan báo như vậy trên Twitter hôm chủ nhật.
” Không phải là đạo đức khi cho một loại thuốc mà không có một thử nghiệm lâm sàng, trong khi ta chưa biết là nó có hiệu quả hay không “, GS Mathieu Molimard, trưởng khoa dược của Bordeaux, đã phản ứng như vậy. Trái với điều mà GS Raoult xác nhận, ” hiện giờ không có một bằng cớ khoa học nào về tính hiệu quả của thuốc này trên căn bệnh mới này “, GS Franois Chast, chủ tịch danh dự của Viện hàn lâm dược học, cũng phát biểu như vậy. Theo ý kiến của tất cả những nhà khoa học mà Le Figaro đã hỏi từ một tháng qua, việc cho hydroxychloroquine ở tất cả các bệnh nhân là phản tác dụng (contre-productif). Bởi vì nếu thuốc tỏ ra không hiệu quả, điều đó sẽ là một sự mất thời gian to lớn trong sự tìm kiếm một điều trị. Đó là chưa kể những nguy cơ đối với bệnh nhân, liên kết với những tác dụng phụ của nó.
Hydroxychloroquine đúng là đang được thử nghiệm, nhưng sự sử dụng nó phải được dành cho những bệnh nhân có những triệu chứng hô hấp, trong những thử nghiệm lâm sàng. ” Đó là một chất có tác dụng in vitro (trên những tế bào trong phòng thí nghiệm) trên rất nhiều loại virus : vậy không phải là không logic khi thử nghiệm nó trên bệnh mới do virus này “, GS Chast đã xác nhận như vậy. Vả lại nó đã chứng tỏ hiệu quả trên coronavirus chủng mới, in vitro, cũng như remdesivir, một thuốc chống virus, ban đầu được phát triển để chống lại virus Ebola. Nhưng tuy vậy điều đó không có nghĩa là nó sẽ hiệu quả chống lại Covid-19. ” Nó đã luôn luôn thất bại trong những bệnh khác, đặc biệt chống lại những bệnh gây nên bởi virus Chikunguny : không những nó không có tác dụng, mà nó còn góp phần làm trầm trọng những triệu chứng “, François Chast đã cảnh báo như vậy.
Một công trình nghiên cứu đầu tiên vừa được công bố bởi một équipe trung quốc. Được thực hiện trên 30 bệnh nhân, công trình cho những kết quả gây thất vọng : không có sự khác nhau về mặt thời gian nhập viện hay về mặt cải thiện các triệu chứng giữa những bệnh nhân đã nhận hydroxychloriquine và nhóm chứng (groupe contrôle) (chỉ nhận những soins standards).
GS Raoult và équipe của ông cũng đã thực hiện hai công trình nghiên cứu trong những ngày qua, nhưng những công trình này không thỏa mãn một chuẩn mực khoa học nào. Công trình nghiên cứu thứ nhất, được tiến hành trên 36 bệnh nhân, chỉ rằng điều trị được liên kết với một sự giảm lượng virus (charge virale) trong mũi. Vấn đề thứ nhất, ngoài số lượng bệnh nhân thấp : ” công trình nghiên cứu không randomisé, nghĩa là người khởi xướng đã chọn người mà ông ta sẽ cho điều trị. Điều đó có thể dẫn đến chọn lọc những kết quả có sức thuyết phục nhất “, một biostatisticien đã quan sát như vậy. ” Ngoài ra, 6 bệnh nhân đã bị đưa ra khỏi phân tích bởi vì họ đã trở nặng hay đã có những tác dụng phụ, ngay cả có một người chết. Điều đó có nghĩa là chỉ giữ những bệnh nhân khoẻ hơn !”
NHỮNG KẾT QUẢ LẬP LỜ
Hạn chế khác : ta không biết là sự giảm của charge virale trong mũi có phải là một dấu hiệu cải thiện của tình trạng của bệnh nhân hay không. ” Một chỉ đấu tốt sẽ là số lượng những trường hợp nặng được chữa lành, được xuất viện,” GS Chast đã nhấn mạnh như vậy.
Về công trình nghiên cứu thứ hai, công trình này được thực hiện ở nhiều bệnh nhân hơn (80) nhưng không bao gồm nhóm chứng (groupe contrôle). Rõ ràng, điều trị đã được cho ở tất cả mọi người, không so sánh. Các nhà khoa học ở Marseille kết luận rằng 97,5% những người tham dự không còn virus có thể phát hiện nữa trong mũi sau 5 ngày.” Một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi đại học Thượng Hải đã cho thấy rằng, không điều trị, charge virale giảm trong một thời kỳ y hệt ở những bệnh nhân với những triệu chứng nhẹ “, GS Anne-Claude Crémieux, thầy thuốc chuyên bệnh truyền nhiễm ở bệnh viện Saint-Louis (Paris), đã nhận xét như vậy. Đối với GS Raoult và équipe của ông, đó là một chiến thắng bởi vì ” một công trình nghiên cứu mới đây của Trung quốc đã cho thấy rằng thời gian trung bình mang virus là 20 ngày”. Nhưng ” họ quên định rõ rằng con số này xuất phát từ những bệnh nhân trong một tình trạng nặng”, GS Molimard đã chỉ rõ như vậy.” Thế mà, trong công trình nghiên cứu của IHU, phần lớn những bệnh nhân không bị sốt cũng như không có những triệu chứng nặng. Đó là một escroquerie intellectuelle.” 92% trong số họ có một nguy cơ thấp trở nặng và chỉ 12 người bị số.t
Virus đã biến mất một cách tự nhiên hay nhờ điều trị ? Không có nhóm chứng thì không thể biết điều đó.” Chúng ta đừng quên rằng đó là một bệnh trong đó hơn 80% những bệnh nhân lành bệnh một cách ngẫu nhiên “, GS Chast đã nhấn mạnh như vậy.” Không cho gì hết hay cho bất cứ thuốc nào khác có thể dẫn đến cùng kết quả. Đó không phải là một phương pháp khoa học.”
Thử nghiệm lâm sàng châu Âu Discovery, được phát động 23/3 ở Pháp, sẽ cho phép thấy rõ hơn, bằng cách trắc nghiệm 4 thuốc điều trị, trong đó có hydroxychloroquine. ” Vấn đề là ta khó đưa các bệnh nhân vào trong thử nghiệm lâm sàng : họ chỉ muốn hydroxychloroquine “, GS Molimard đã lấy làm tiếc như vậy.
HYDROXYCHLOROQUINE : MỘT THUỐC KHÔNG HẲN LÀ VÔ HẠI.Những tác dụng của truyền thông về điều trị này đã không phải chờ đợi. Trong những ngày qua, nhiều trường hợp của những người bị những rối loạn nhịp tim sau khi đã dùng hydroxychloroquine, liên kết với một kháng sinh, azithromycine, đã được báo cho những trung tâm cảnh giác dược. Những người này đã tìm cách tự bảo vệ hay tự dùng thuốc để chống lại nhiễm coronavirus. ” Phối hợp này có thể gây những rối loạn nhịp tim, mặc dầu hiếm, nhưng có thể nghiêm trọng, thậm chí gây chết người nếu bệnh nhân đã có những vấn đề tim “, GS Mathieu Molimard, trưởng khoa dược của CHU de Bordeaux, đã nhấn mạnh như vậy. ” Không nên kê đơn hydroxychloroquine trong médecine de ville bởi vì điều đó cần một sự theo dõi chặt chẽ bằng điện tâm đồ.”
Hydroxychloroquine, một dẫn xuất của chloroquine, là một thuốc mà những tác dụng phụ đã được biết rõ. Được sử dụng lâu dài để điều trị vài bệnh tự miễn dịch (lupus, viêm đa khớp dạng thấp), nó có thể gây nên những thương tổn không thể đảo ngược ở võng mạc và tim.
(LE FIGARO 30/3/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 541 : bài số 6, 7, 8, 9 (Chloroquine)
– TSYH số 538 : bài số 10 (chloroquine)
– TSYH số 536 : bài số 9 (chloroquine)

4/ PHILIPPE DEVOS (BỈ) : HYDROXYCHLOROQUINE ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở TẤT CẢ BỆNH NHÂN NHẬP VIỆN.
Từ nay là người mang Covd-19, BS Philippe Devos, chủ tịch của Absym và trưởng khoa điều trị tăng cường (ICU) của CHC de Liège, một lần nữa yêu cầu sự minh bạch ở chính quyền. Điều mà các thầy thuốc và nhân viên điều trị cần nhất là dụng cụ bảo vệ (matériel de protection). ” Người ta phải làm cho chúng tôi yên tâm về những giải pháp được tìm thấy cho những nguy cơ thiếu dụng cụ thông khí (matériel de ventilation) và những nguy cơ thiếu thuốc. Hiện nay, những câu trả lời nhận được là quá mơ hồ.” Ông nhắc lại rằng, hiện nay hydroxychloroquine được phân phát cho tất cả các bệnh viện cần nó.Journal du Médecin : Trước hết, sức khỏe của ông thế nào ? Ông ho dữ…Ông mắc phải virus như thế nào ?
Dr Philippe Devos : Tôi không bao giờ biết được điều đó. Có lẽ là do vợ tôi hay có lẽ chính tôi là người nhập cảng con virus này. Dẫu sao, có hề chi. Nó đó, nó đó. Ta biết rằng có 30% những người mang virus mà không có triệu chứng. Mối quan tâm của tôi là, đến lượt tôi tôi đã không gây nhiễm cho người nào nữa.
Hỏi : Mới đây ông đã loan báo rằng nhiều thầy thuốc và nhân viên điều trị sẽ bị nhiễm và rằng vài người sẽ chết. Thông điệp nào ông gởi cho các đồng nghiệp ? Làm an lòng hay làm lo âu ?
Dr Philippe Devos : Không chỉ một mình tôi đã loan báo điều đó : các con số của Trung Quốc báo cáo rằng 50% các thầy thuốc đã bị nhiễm bởi corona ; rằng ở những người Ý, 30% các thầy thuốc đã bị nhiễm trong ba tuần đầu. Đó là một thực tế. Vài đồng nghiệp của tôi nói với tôi về các khẩu trang như thể đó là một gri-gri magique. Không phải là như vậy. Nguy cơ zéro chỉ hiện hữu khi ta tự cách ly ở nhà. Về tử vong, Y sĩ đoàn Pháp đã có can đảm thông báo về sự thật này : họ cũng đã viết rằng cần phải nhìn trực diện thực tế. Giới hữu trách y tế đã công bố hôm nay họ đã có một thầy thuốc thứ 18 tử vong. Điều đó là ít so với tổng số những người chết, nhưng dĩ nhiên, đó là 18 lần quá nhiều đối với người thực hành nghề nghiệp của mình.
Điều quan trọng là phải nhận thức về những nguy cơ bởi vì ưu tiên phải là bảo vệ các thầy thuốc của các nhóm nguy cơ (tất cả chúng ta không đều trẻ tuổi) và duy trì áp lực lên chính quyền để họ cho chúng ta những phương tiện để tự bảo vệ. Đó là thông điệp chính.
Hỏi : Điều xuất hiện ngay như là một tai tiếng nhà nước, đó là sự thiếu các khẩu trang và các test. Ông chia sẻ ý kiến này không ? Về phương diện đó ta có phải cho hồi hương những năng lực công nghiệp của chúng ta về lại châu Âu không ?
Dr Philippe Devos : Đó là sự chứng minh cho nguy cơ délocalisation với bất cứ giá nào. Ngày mai sẽ phải xem xét lại sự vận hành của những công ty của chúng ta. Hôm nay, Bỉ phụ thuộc vào thiện ý của những ngước láng giềng để bảo vệ các thầy thuốc của mình, để có dụng cụ sinh tử và ngay cả để có các loại thuốc. Điều gì sẽ xảy ra nếu những nước sản xuất này bị ảnh hưởng bởi một đỉnh dịch quan trọng và nếu những nước này ưu tiên cung cấp cho nước mình trước khi xuất cảng ?
Do đó tôi nghĩ rằng vâng, phải mang trở về những những năng lực công nghiệp về lại châu Âu và ngay cả về lại Bỉ bởi vì kịch bản Ý đã cho thấy rằng ngay cả sự đoàn kết châu Âu không được bảo đảm. Và mặc dầu điều đó quá chậm đối với đỉnh dịch này, dẫu sao nó cũng có thể hữu ích trong giả thuyết một đỉnh dịch thứ hai.
Hỏi : Các thầy thuốc và nhân viên điều trị cần gì vào lúc này ?
Dr Philippe Devos : sự hỗ trợ. Một cách nghiêm túc hơn, nhất là dụng cụ bảo vệ (matériel de protection). Sau đó chúng tôi cần người ta trấn an chúng tôi về những giải pháp đối với nguy cơ thiếu dụng cụ thông khí (matériel de ventilation) và nguy cơ thiếu thuốc. Hiện nay những câu trả lời mà người ta nhận được là quá mơ hồ.
Hỏi : Nhiều ” trường phái ” hiện hữu trên thế giới để chiến thắng virus : cách ly (confinement), ” miễn dịch bầy đàn” (herd immunity hay immunité grégaire), điều tra phát hiện quy mô lớn (dépistage massif) và cách ly chỉ những người bị nhiễm corona. Theo ông, giải pháp tốt nhất là gì ?
Dr Philippe Devos : Trong tình trạng khẩn cấp, cách ly tại nhà (confinement) là giải pháp tốt nhất. Ta thấy rằng ở Nam Hàn, họ đã đạt được bằng phát hiện nhanh nhanh và quy mô lớn. Ta phải có những phương tiện kỹ thuật công nghiệp địa phương có thể làm điều đó.
Hỏi : Có vẻ, Bỉ thoát hiểm khá tốt. Điều đó là do gì ?
Dr Philippe Devos : Tôi ưa thích hơn trả lời câu hỏi này trong 10 ngày nữa…Bởi vì vào lúc đó ta sẽ thấy là ta có thật sự thoát hiểm tốt hay không. Chúng ta đã thiết đặt một loạt các biện pháp : đóng cửa nhanh chóng các trường học, cách ly tất cả những trường hợp cúm, chẩn đoán từ xa (télédiagnostic) (chúng ta là những người duy nhất trên thế giới đã làm điều đó), nhạy cảm hóa dân chúng để những biện pháp được tôn trọng…Nhưng cũng ngừng những nhập viện được lên chương trình trước, điều này đã có thể tránh những nhiễm trùng chéo giữa những bệnh nhân ở bệnh viện (rất được mô tả ở Ý)…Khi ta làm “tapis” và khi ta thiết đặt nhiều chuyện, khó nói điều đã có hiệu quả. nhưng chúng ta không có sự lựa chọn
Hỏi : Trong khi nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành trong năm tuần đến, có phải đợi phán quyết của chúng không ? Người ta đã loan bảo rằng équipe của BS Raoult đã sử dụng, đối với những bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, một điều trị bằng phối hợp hydroxychloroquine + azithromycine. Với tư cách chính ông là bệnh nhân, và đối với các người bệnh, ông có sẽ sử dụng phối hợp thuốc này hay không, vì thiếu điều tốt hơn, cho rằng những tác dụng phụ là ít đáng kể so với tử vong của bệnh nhân ?
Dr Philippe Devos : Hydroxychloroquine đã được sử dụng ở tất cả những bệnh nhân nhập viện. Ưu tiên là sự tiếp tế từ nước ngoài được duy trì cho đến cuối cuộc khủng hoảng này đối với bệnh viện. Tôi hy vọng rằng Nhà nước sẽ tìm ra những giảo pháp cho điều đó. Tôi luôn luôn không hiểu tại sao người ta không thể định hướng lại công nghiệp hóa học và dược học của chúng ta để trở thành producteur !
Nếu tôi là một bệnh nhân đủ trầm trọng để phải nhập viện, vâng tôi sẽ dùng hydroxychloroquine. Vì lẽ điện tâm đồ của tôi là bình thường (trong khung cảnh thể thao, plongée sous-marine, tôi phải kiểm tra tim hằng năm). Đối với azithromycine, có ít bằng có ve tính hiệu quả hơn và sự khan hiếm là rõ nét. Nhưng vì không còn có cách nào khác, cuối cùng ta phải thử tất cả. Phải xem những tài liệu xuất bản của những người trung quốc : họ đã thử hàng chục và hàng chục các loại thuốc trong thời kỳ khó khăn của họ.
Hỏi : Phải chăng chúng ta sẽ sẵn sàng hơn cho đại dịch toàn cầu sắp đến ?
Dr Philippe Devos : Tôi hy vọng tất cả những gì mà ta làm bây giờ sẽ không là vô ích ! Tôi hy vọng rằng từ nay người ta đã hiểu rằng phải xem mối đe dọa này ít nhất cũng bằng với sự khủng bố. Khi ta thấy sự khủng bố đã thay đổi sự vận hành của nhiều hệ thống như thế nào, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ rút ra những bài học từ thảm kịch này.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 27/3/2020)

5/ UN VACCIN ARN CHỐNG VIRUSCORONAVIRUS. Cũng như những sự kiện khác, Hội nghị về những rétrovirus và những nhiễm trùng cơ hội (CROI : Conférence sur les rétrovirus et les infections opportunistes), ban đầu được dự kiến từ 8 đến 11/3 ở Boston, đúng là đã xảy ra, nhưng virtuellement ! Thật vậy các hội nghị viên đã phát biểu từ xa xa, từ bệnh viện của họ. Dĩ nhiên sự phát triển của vaccin chống Sras-CoV2 đã được đề cập. Công tác nghiên cứu tiến triển, nhưng vẫn còn những nghi ngờ về tính hữu ích của vaccin chống lại dịch bệnh thế giới hiện nay.
Sự phát triển của một vaccin tiến triển nhanh, Anthony Fauci, trưởng của Viện quốc gia của những dị ứng và những bệnh nhiễm khuẩn (NIH/NIAID) đã đảm bảo như vậy. Theo ông, sẽ cần khoảng 2 tháng để đi từ séquençage du virus đến những khảo sát lâm sàng đầu tiên trên những vaccin tiềm năng. Một thời gian ngắn hơn nhiều so với những dịch bệnh virus khác của những thập niên qua : 20 tháng đối với Sras năm 2003, 11 tháng đối với cúm gia cầm (H5N1) năm 2006, 4 tháng đối với Sras năm 2001 và ít nhất 3 tháng đối với zika năm 2016. Séquence complète của Sras-CoV2 đã được công bố 10/1 vừa qua, vài tuần sau khi dịch bùng nổ ở Vũ hán. Chúng ta hiện đang ở hai tháng sau.
Nhiều hướng nghiên cứu hiện đang được thăm dò. Theo GS Fauci, hướng tiến triển nhất là hướng được phát triển bởi NIAID, cộng tác với secteur pharmaceutique. Đó là một vaccin à ARN messager (ARNm), nhắm protéine de spicule của Sras-CoV2.Những vaccin ARN là những vaccin trong đó ARNm của một kháng nguyên (trong trường hợp này là protéine de spicule) đ cơ ược tiêm vào trong cơ thể của một người cần phải tiêm chủng. Những tế bào thể hấp thụ ARNm, chế tạo protéine tương ứng và biểu hiện nó trên bề mặt của các tế bào. Vậy protéine lạ đối với cơ thể gây một đáp ứng miễn dịch, cho phép cơ thể bảo vệ chống lại tác nhân gây bệnh liên kết với kháng nguyên liên hệ.
TỪ ADN ĐẾN ARNm.
Sự quan tâm đối với vaccin ARNm đã có từ những năm 90 và ăn khớp với sự sử dụng phổ biến hơn những acide nucléique và tương đương của nó ADN.Từ đó, cũng có những vaccin ADN, dựa trên một plasmide. Những vaccin này có sẵn để sử dụng đối với những động vật, nhưng chưa có đối với người.
Những vaccin ADN hay ARNm có ưu điểm lớn là tác nhân gây bệnh không hiện diện trong vaccin. Nhờ séquençage moderne, những vaccin này có thể được sản xuất nhanh hơn và ít tốn kém hơn những vaccin cổ điển. Một hướng tốt đẹp khi ta biết rằng những dịch bệnh khác do virus chẳng bao lâu sẽ làm thế giới lâm nguy.
Tuy nhiên, việc vaccin một ngày nào đó sẽ được thương mãi hóa là điều không chắc chắn chút nào. Sự nghiên cứu càng ngày càng được tập trung vào những vaccin ARNm, do sự sản xuất dễ dàng. Những plasmide d’ADN phải được sản xuất bởi một vi khuẩn, trong khi sự sản xuất ARNm có thể được phát khởi nhờ một séquence ADN thích ứng và thuần phân tử. Ngoài ra, ta cho rằng ARNm mang lại nhiều an toàn hơn, bởi vì phân tử bị thoái biến ngay khi protéine tương ứng đã được tổng hợp.
SỰ HOÀI NGHI.
Ý tưởng là hấp dẫn, nhưng không phải tất cả mọi người đều nhiệt tình như GS Fauci. Nhà vi trùng học Ralph Baric, của đại học Caroline du Nord, nhắc lại rằng có nhiều chủng Sras-CoV2. Do đó phát triển một vaccin che chở toàn phổ là phức tạp. Vậy ông thấy nhiều triển vọng hơn trong con đường trị bệnh, trong số những triễn vọng này là remdesivir, một thuốc, nguồn gốc, được phát triển như một điều trị chống Ebola.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/3/2020)
Đọc thêm :
– TSYH số 534 : bài số 8 (vaccin)
– TSYH số 531 : bài số 7 (vaccin)

6/ Ở CHÂU ÂU, MỖI NƯỚC CÓ NHỮNG LỰA CHỌN ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CỦA RIÊNG MÌNH.
Đứng trước sự lan rộng của đại dịch toàn cầu, các nước châu Âu có những năng lực phát hiện khác nhau, trong khi những dự trữ của các nước thường không đủ.
Trắc nghiệm, hay không trắc nghiệm. Đó là câu hỏi không ngừng trở lại. Từ đầu này qua đầu kia của châu Âu, các chính quyền đã lựa chọn, không đồng nhất, những chiến lược khác nhau để đối phó với sự lan tràn của virus trên lãnh thổ của mình, đồng thời để mắt theo dõi điều được thực hiện ở nước láng giềng. Commission européenne đã đưa ra, 18/3, thay cho 18 nước thành viện, những đề nghị, để mua chung, nhất là, những kit de tests.
Trong khi OMS chủ trương một phát hiện đại trà : ” Testez ! testez ! testez !” để đo lường tốt hơn sự tiến triển của đại dịch, mỗi quốc gia hành động tùy theo mức độ nghiêm trọng của tình hình trên lãnh thổ mình và, thường nhất, tùy theo những phương tiện và những dự trữ sẵn có của mỗi quốc gia. Kết quả : những câu trả lời tùy ý lựa chọn đứng trước nhiều câu hỏi : có cần phải trắc nghiệm một tối đa những người ? Dành chúng cho những người yếu ớt nhất ? Bỏ kỹ thuật này trước tính chất nhanh chóng của những lây nhiễm ?Chủ đề là nhạy cảm bởi vì thí dụ của Nam Hàn, ở đây công tác phát hiện được thực hành với quy mô lớn, đã ghi dấu ấn trong các đầu óc. Ở Nam Hàn, một trong những quốc gia đầu tiên bị ảnh hưởng bởi Covid-19 sau Trung Quốc, giới hữu trách y tế, nhất là rút kinh nghiệm từ trận dịch SRAS năm 2003, đã dự kien rất sớm sự cần thiết phải thực hiện các test, bằng cách huy động những phòng xét nghiệm nhân . Ngược lại, Pháp từ nay giới hạn các trắc nghiệm vào những trường hợp nghiêm trọng nhất, điều này, đối với một bộ phận của y sĩ đoàn và của công luận, không phải là điều hiển nhiên.
Với một tình hình đại dịch rất giống với tình hình của Pháp, Áo tiến hành một chính sách điều tra phát hiện năng động hơn. Để được trắc nghiệm, chỉ cần có những triệu chứng hay đã bị tiếp xúc với một người bị nhiễm, với ordonnance médicale. Hiện giờ chính quyền xác nhận có thể đối phó với tất cả những yêu cầu. Họ cũng cậy vào những máy được phát triển bởi các laboratoire Roche, cho phép trắc nghiệm 96 mẫu nghiệm mỗi 3 giờ rưỡi, một cách tự động hóa. Một kỹ thuật công nghệ chẳng bao lâu sẽ được triển khai ồ ạt.
Vienne cũng đã thiết đặt những “drive-in”, như ở Nam Hàn, ở đó chỉ cần hiện diện trong xe hơi, với ordonnance. Điều này phải chăng giải thích tỷ lệ tử vong thấp ? Áo chỉ có 5 người chết đối với 1843 trường hợp dương tính. Chủ tịch Hồng thập tự và thành viên của “Task Force Corona”, Gerry Foitik, tương đối hóa chính sách này. ” Chính sách này không tuyệt đối cần thiết trong chừng mực hậu quả của một test dương tính là phải bị cách ly trong 14 ngày. Thế mà, nếu một thầy thuốc có một trường hợp nghi coronavirus và không thể làm test, ông ta dẫu sao cũng đã phải gởi bệnh nhân đi cách ly”, ông đã giải thích như vậy trong nhật báo Die Presse.
NHỮNG TEST TỪ XE HƠI.(Nurtingen, Bade-Wurtemberg, Allemagne, 9 mars 2020)
Cũng phải tính đến những kẹt xe. Với một năng lực khoảng 160.000 test mỗi tuần, theo Viện y tế liên bang Robert-Koch, Đức dường như đã được chuẩn bị sẵn sàng. Nhưng viện Robert-Koch khuyến nghị chỉ trắc nghiệm những người có một triệu chứng cúm và, trong 14 ngày qua, đã bị tiếp xúc với người có coronavirus dương tính hay đã lưu lại trong một vùng có nguy cơ (zone à risque). Thật vậy, phần lớn những centre de dépistage bị tràn ngập. Ở Bavière, tiểu bang (Land) bị ảnh hưởng nhất của Đức (13 người chết) sau Rhénanie-du-Nord-Westphalie (20 người chết), đôi khi phải chờ đợi 5 đến 7 ngày trước khi có kết quả. Để làm hết tắc các bệnh viện, những “drive-in” đã được thiết đặt trong những vùng bị nhiễm corona nhất. Tuy nhiên, như những trắc nghiệm khác, những test mà ta có thể thực hiện từ xe auto chỉ có thể được thực hiện nếu chúng được khuyên bởi một thầy thuốc.
Ở Đông Âu, nhiều quốc gia không còn có khả năng trắc nghiệm tất cả mọi người nữa. Đặc biệt bị ảnh hưởng do vị trí biên giới với Ý, Slovénie đã quyết định hạn chế những trắc nghiệm cho những nhân viên y tế, những người già và những bệnh nhân có những triệu chứng nặng. Hongrie cũng từ chối trắc nghiệm tất cả những trường hợp nghi ngờ. Cộng hòa tchèque đảm bảo có thể phát hiện mọi người với một ordonnance, và những test cũng được đề nghị bởi những phòng xét nghiệm tư nhân với một phí tổn từ 35 đến 100 euros.Ở Ba Lan, bộ trưởng y tế, Lukasz Szumowski, đã xác nhận rằng những phòng xét nghiệm của Ba Lan đã thực hiện trung bình 1500 test mỗi ngày, nhưng có một năng lực 2 lần cao hơn. Thật vậy, những chỉ thị hiện nay của chính quyền để cho các thầy thuốc một sự tự do rộng rãi để quyết định thực hiện test, một lập trường được đánh giá là ít làm yên tâm bởi một bộ phận của dân chúng và của chính các thầy thuốc. Y sĩ đoàn kêu gọi gia tăng tình trạng sẵn sàng sử dụng của các test : ” Thà làm quá nhiều hơn là không đủ ! ”
THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC
Và rồi thì, có những quốc gia mà những nhà lãnh đạo thay đổi chiến lược nửa đường để cố ngăn chặn đại dịch. Ở Tây ban Nha, ổ lây nhiễm đứng thứ hai của châu Âu sau Ý (19.980 trường hợp được chẩn đoán và 1002 người chết, hôm thứ sáu 20/3), hơn 20.000 người có những triệu chứng nghi ngờ được theo dõi qua điện thoại ở Madrid, nhưng không được thử test. Vì thiếu kit để dépistage, ít nhất từ 16/3, test chỉ được thực hiện trên những bệnh nhân có những triệu chứng nặng. Bilan sau cùng được thực hiện hai ngày trước, báo cáo khoảng 30.000 test đã được thực hiện.
Trong ” những ngày sắp đến”, những “test rapide antigénique” sẽ được thực hiện trên những người có những triệu chứng nhẹ, Fernado Simon, giám đốc của Centre d’urgences sanitaires, đã đảm bảo như vậy hôm thứ năm 19/3. Những trắc nghiệm này, ” không cho phép phát hiện sự hiện diện của những kháng thể “, sẽ được dùng để đánh giá giai đoạn trong đó “một người có khả năng lây nhiễm”. Kết quả có thể có được “trong 10 đến 15 phút”, trái với những test biologique (PCR) được thực hiện cho đến nay, mà kết quả chỉ có được 21 đến 24 giờ sau. Sự gò bó chủ yếu của những test rapide này là tính chất phức tạp của chúng, điều này bắt buộc đào tạo nhân viên điều trị. ” Có lẽ điều đó sẽ làm gia tăng rõ rệt số lượng những trường hợp”, Bộ đã cảnh báo như vậy.
Ở Vương quốc Anh, cuộc tranh luận tăng thêm về chiến lược của chính phủ. Chính phủ Anh đã chọn không theo những khuyến nghị của OMS, trước khi thay đổi ý kiến. Vào chiều 18/3, chỉ 50.000 người Anh đã được trắc nghiệm, với nhịp độ khoảng 5000 test được thực hiện mỗi ngày. Thủ tướng Boris Johnson, đã hứa rằng mục tiêu sẽ chuyển “ngay tuần đến” lên 10.000 test mỗi ngày, với mục tiêu đạt mốc 25.000. Cho đến nay, NHS, hệ bệnh viện Anh, không trắc nghiệm một cách hệ thống những nhân viên bệnh viện, và nhiều người trong số họ đã phàn nàn không được trắc nghiệm. Một thầy thuốc trẻ, Rebecca McCauley, đã phát ra một thỉnh nguyện thư trên plate-forme Change-org. Ngay hom thứ sáu, đã có hơn 1 triệu chữ ký.
Ngày 16/3, tạp chí Wired cũng đã công bố một reportage gây quan ngại về những nhà chế tạo kit de tests ở Anh, như Biopanda Reagents, có cơ sở ở Belfast (Bắc Ái Nhĩ Lan). Công ty này làm việc hết công suất, nhưng chủ yếu dành cho ngoại quốc. Ông chủ của công ty giải thích rằng một chuyến giao hàng 20.000 kit chẳng bao lâu sẽ được gởi đi, “nhưng NHS đã chưa có một đơn đặt hàng nào”.
Ở Hòa Lan (2994 trường hợp lây nhiễm, 106 trường hợp tử vong hôm thứ sáu 20/3), ở đây lý thuyết “miễn dịch tập thể” vẫn là học thuyết chính thống, các test đã được thực hiện ở một quy mô khá rộng rãi cho đến đầu tuần. Với một ưu tiên đối với những người đã từng lưu lại ở Ý hay ở Trung Quốc. Nhưng từ đó, cũng ở đây, các thầy thuốc généraliste đã được thông báo rằng chỉ những bệnh nhân có một tình trạng nặng cần nhập viện mới được dépistage, cũng như những người trên 70 tuổi và những bệnh nhân mãn tính. Mục đích của sự thay đổi này : phát hiện tốt hơn những người bị nguy hiểm nhất. Mục đích bán chính thức : không làm tắc nghẽn một hệ bệnh viện không có đủ giường ICU
Đôi khi, chính những thuốc thử cần thiết cho xét nghiệm bị thiếu. Ở Bi (2257 trường hợp lây nhiễm, 37 tử vong hôm thứ sáu 20/3), các laboratoire de référence có thể, trên lý thuyết thực hiện đến 10.000 test mỗi ngày, nhưng chỉ thực hiện 1000 đến 1500 test vì thiếu thuốc thử. Vả lại, các phòng xét nghiệm rất nhanh chong bi tràn ngập, cũng như những thầy thuốc bởi những yêu cầu của bệnh nhân. Ngoài ra chỉ có một laboratoire de référence để chuẩn nhận các test. Vì vậy, thời hạn chờ đợi nhung kết quả bị kéo dài, lên đến 3 ngày, thậm chí 7 ngày trong những trường hợp được đánh giá không khẩn cấp. Một bệnh viện ở Liège (CHR Citadelle) đã tổ chức “drive-in tests” trên một parking.
ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN QUY MÔ LỚN
Ở Scandinavie, test de dépistage được dành cho những bệnh nhân được nhập viện, với những rối loạn hô hấp. Ở Thụy Điển, ở đây 1623 người đã được trắc nghiệm dương tính và 16 người chết, Cơ quan y tế công cộng xác nhận rằng “việc hạch toán số lượng những người bị lây nhiễm không còn là một ưu tiên nữa”, vì virus từ nay đã lan tràn toàn xã hội “. Kết quả : những con số không có ý nghĩa gì nhiều, vì lẽ chỉ một thiểu số rất nhỏ được trắc nghiệm mà thôi. Do đó khuyến nghị là ở tại nhà mình khi có chút ít triệu chứng, trong một đất nước mà các trường học vẫn còn mở cửa và không có biện pháp cách ly nào đã được áp dụng.
Ở Đan Mạch, hôm thứ sáu 20/3 có 1226 người bị lây nhiễm (trên 10.402 được trắc nghiệm) và 9 tử vong, giới hữu trách y tế sẽ đề nghị những kit de dépistage tại nhà, vào tuần đến, bằng cách phân phát chúng cho 120 thầy thuốc, những thành viên của mạng theo dõi cúm.
Chỉ có Islande (409 người bị nhiễm) tiến hành một dépistage quy mô lớn, với sự giúp đỡ của laboratoire tư nhân deVODE Genetics. Phòng xét nghiệm này đề nghị trắc nghiệm tất cả những người dân của Islande nếu muốn và miễn phí. Mục đích là đánh giá sự hiện diện của virus trong 3364.000 người dân của đảo, cũng như những biến dị của nó. Tổng thống Gudni Th. Johannesson và vợ đã nêu gương khi được trắc nghiệm hôm sáu 20/3.
(LE MONDE 23/3/2020)
Đọc thêm : TSYH số 540 : bài số 1

7/ TEST PCR, TEST RAPIDE HAY TEST SEROLOGIQUE
” 50.000 test cổ điển mỗi ngày từ nay đến cuối tháng tư” và “hơn 100.000″ test rapide mỗi ngày vào tháng 6, không quên ” những test sérologique” sẽ đến trong những tuần đến, Bộ truong y tế Pháp Olivier Véran đã hứa như vậy hôm thứ bảy 28/3. ” Một ” loại xét nghiệm cơ bản cho những người Pháp vào giờ phút mà chúng ta sẽ chuẩn bị rút đi sự cách ly (déconfinement) của nước Pháp “. Nhưng những loại test khác nhau này là gì ?
Test par rtPCR tìm kiếm chính virus. “PCR” có nghĩa là “réaction en chaine par polymérase” : đó là, bằng cách đun nóng rồi làm lạnh, trong nhiều lần, mẫu nghiệm, buộc một chuỗi nhỏ của vật liệu di truyền của virus sinh phân đôi (duplication) thành những số lượng rất lớn. Những chữ “rt” có nghĩa “reverse transcriptase” : chất liệu di truyền của coronavirus không được cấu tạo bởi ADN mà bởi một phân tử gần, ARN. Để làm sinh phân đôi (dupliquer) virus, một men (transcriptase) biến đổi ARN này thành ADN. Sau đó ADN này sử dụng guồng máy tế bào của ký chủ để tái tạo ARN viral. Chính ADN có được từ ARN viral sẽ được phân tích thành PCR.
Test par rtPCR là một xét nghiệm rất nhạy cảm (nó phát hiện sự hiện diện của virus)… với điều kiện sự lấy mẫu nghiệm phải được thực hiện một cách đúng đắn và vào đúng lúc ! Một loại coton-tige, được gọi là ” écouvillon” được đẩy vào sâu trong mũi ; một xét nghiệm không có gì là dễ chịu, và có thể không lấy gì hết nếu được thực hiện không đúng cách. Charge virale của các bệnh nhân cũng có thể biến thiên theo thời gian, và virus có thể không có trong mũi nhưng hiện diện trong phổi. Những bất tiện khác, những kết quả lâu mới có được (vài giờ), phí tổn đắt (54 euros được bồi hoàn bởi Sécurité sociale), và chỉ được phát hiện những người bài xuất đủ virus (vậy không vào lúc đầu của nhiễm virus, hay một khi virus được loại bỏ). Vậy một trắc nghiệm âm tính không đủ để xác nhận rằng một bệnh nhân nghi ngờ không bị nhiễm. Những test PCR nhanh hơn đã được phát triển, có thể cho một kết quả trong vòng dưới 1 giờ.Những loại test khác đang được phát triển. Những test nhanh được gợi ra bởi Olivier Véran là những “test antigène”, được thực hiện tại giường của bệnh nhân hay trên đường phố, và 5 triệu test đã được Pháp đặt hàng. Những test antigène này tìm kiếm những protéine được sản xuất bởi virus (những kháng nguyên) và nói chung hoạt động bằng ” immunochromatographie” : mẫu nghiệm, được lấy trên một bệnh nhân, được đặt trên một cái giá (support), và một phản ứng hóa học được thực hiện với những kháng nguyên hiện diện. Ưu điểm của những trắc nghiệm này, ngoài tính chất nhanh chóng (vài phút) : nếu test nói rằng anh bị nhiễm, thì không còn nghi ngờ gì nữa. Ngược lại, rất ít chắc chắn nếu test là âm tính.
Sự nghiên cứu cố hiệu chính một loại test immunologique rapide thứ hai. Đó là tìm kiếm trong máu của bệnh nhân những kháng thể mà bệnh nhân đã có thể phát triển để chống lại virus (những kháng thể IgM, tức immunoglobuline M, chỉ một nhiễm trùng mới xảy ra và những IgG, tức immunoglobuline G, chỉ một nhiễm trùng cũ hơn). Những trắc nghiệm này nói chung được thực hiện bởi những kỹ thuật được gọi là “ELISA” : những phân tử được tiếp xúc với mẫu nghiệm sẽ gắn vào những kháng thể hay kháng nguyên được tìm kiếm, và phát ra một tín hiệu có thể được nhận biết.
Ưu điểm của kỹ thuật này, nó có thể tục động hóa và có thể làm trong bất cứ laboratoire d’analyse nào, vậy ta có thể thực hiện rất nhiều test trong ít thời gian và với một phí tốn ít ỏi. Nhưng sự tìm kiếm những kháng thể là thường ít đặc hiệu và sinh ra nhiều nhiều dương tính giả (chỉ rằng bệnh nhân đã bị nhiễm, trong khi không phải như vậy) và những âm tính giả (những bệnh nhân không được phát hiện). Không nên thực hiện chúng quá sớm, ít nhất cần 10 ngày giữa lúc nhiễm và lúc chế tạo những kháng thể với lượng đủ.
Nếu ta thành công hiệu chính những test par anticorps có thể tin cậy được, điều đó sẽ cho phép biết ai trong dân chúng đã bị nhiễm và được miễn dịch chống lại coronavirus. Hữu ích ở mức cá nhân để biết ta có nguy cơ bị bệnh không, nhưng cũng ở mức cộng đồng để quyết định giở bỏ sự cách ly (déconfinement) : nếu một tỷ lệ đủ của dân chúng được miễn dịch, một “miễn dịch tập thể” (immunité collective) sẽ được thiết đặt. Miễn dịch này ngăn cản virus lưu hành và gây nhiễm cho những người yếu ớt nhất.
” CÓ MỘT CUỘC KHỦNG HOẢNG RÕ RÀNG TRONG TÌNH TRẠNG SẴN SÀNG CỦA CÁC TESTS”
BS Catharina Boehme điều khiển ONG Find, một fondation pour les diagnostics innovants, hợp tác với OMS để đánh giá những test du Covid-19. Bà điểm lại những khó khăn mà nhiều nước gặp phải, kể cả Pháp, để gia tăng nhịp độ phát hiện coronavirus.
Hỏi : Đại dịch Covid-19 gợi cho bà điều gì ?
BS Catharina Boehme : Tôi đã theo dõi nhiều dịch bệnh : Mers năm 2012, Ebola năm 2014 và Zika năm 2016. Dĩ nhiên, cơn khủng hoảng hiện nay là khác bởi quy mô hành tinh của nó. Cơn khủng hoảng này vượt quá những ác mộng tệ hại nhất của tôi. Trong chẩn đoán, chúng tôi đã chưa bao giờ trải nghiệm một tình huống như thế với những gián đoạn bi thảm trong sự cung ứng các test. Trong nhiều nước giàu, kể cả ở Pháp, có một cuộc khủng hoảng rõ ràng trong tình trạng sẵn sàng sử dụng của các tests. Chẩn đoán là bà con nghèo của những khủng hoảng kinh tế. Có quá ít sự tài trợ dành cho nghiên cứu này so với những phương tiện dành cho tiêm chủng và điều trị.
Hỏi : Tại sao chẩn đoán là quan trọng như thế để đối phó với virus này ?
BS Catharina Boehme : Chẩn đoán sớm cho phép hạn chế sự khuếch tán của nhiễm virus trong một vùng hay một quốc gia. Sau đó có thể áp dụng những biện pháp thích đáng, như sự cách ly những người bị lây nhiễm. Chúng tôi có những dữ liệu chứng minh rằng trong vài vùng, nhất là ở Đức và ở Ý, khi một số lượng test được thực hiện, có thể làm chậm lại sự khuếch tán của virus. Trong trường hợp Covid-19, sự chẩn đoán sớm cho phép cứu nhiều mạng sống. Bởi vì chúng ta đã thấy rằng những bệnh nhân, được điều trị rất sớm, thoát được tốt hơn. Sau cùng, chẩn đoán là một cột trụ chủ yếu để theo dõi đại dịch trong một nước. Điều đó cho phép biết những biện pháp bổ sung có phải được thực hiện hay không, như sự cách ly, và nhất là khi những biện pháp hạn chế được lấy đi.
Hỏi : Bà giải thích thế nào sự thiếu các test ở Pháp, so với tình hình trong những nước khác ?
BS Catharina Boehme : Chúng tôi đã có những tiếp xúc với nhiều laboratoire ở Pháp và những entreprise de diagnostics cung cấp những test. Chúng ta biết rằng những cơ quan này thiếu những nguyên liệu xuất phát từ Trung Quốc và thiếu vài thiết bị. Chỉ có hai nhà máy lớn cho “écouvillon”, được sử dụng để lấy mẫu nghiệm, ở Hoa Kỳ và Ý. Tất cả hai nhà máy này en rupture de stock.
Hỏi : Có những điểm tích cực không ?
BS Catharina Boehme : Chúng tôi thực hiện những đánh giá nhanh về những giải pháp chẩn đoán và chúng tôi thấy rằng 250 entreprise trên thế giới đang đề nghị hay sẽ đề nghị một cách rất nhanh chóng những test de détection par PCR. Trong số những entreprise này, có những groupe rất lớn có năng lực sản xuất trên 1 triệu test mỗi tuần. Chúng tôi hy vọng rằng, một cách tập thể, các nhà công nghiệp sẽ giải quyết vấn đề cung ứng của họ.
Hỏi : Những test sérologique hiện nay dùng để làm gì ?
BS Catharina Boehme : Đó là những test được gọi là test de dépistage (phát hiện) hay de triage (sàn lọc). Chúng cho phép xác định xem các bệnh nhân đã phát triển những kháng thể đặc hiệu hay không, điều này tiết lộ một sự tiếp xúc với coronavirus. Các nước châu Âu nghĩ sử dụng chúng để trắc nghiệm những nhân viên y tế và triển khai chúng trong những Ehpad (nhà dưỡng lão). Vương Quốc Anh ngay cả xem xét sử dụng chúng ngay cả ở nhà, như một trắc nghiệm thai nghén. Nhưng sự sử dụng autotest không phải là đơn giản lắm, nhất là để giải thích kết quả.
Sau cùng, những test immunologique này rất hữu ích để theo dõi dịch bệnh, bằng cách đánh giá huyết thanh (sérologie) của những nhóm quần thể trong nhung vùng, ở đó có những ở những người bị nhiễm. Điều đó sẽ cho phép đánh giá sự lan rộng của dịch bệnh
Hỏi : Tình hình nào đối với những test sérologique ở Pháp ?
BS Catharina Boehme : Có hơn 100 test sérologique đang phát triển trong đó một bởi Bio-Mérieux. Trong số chứng 46 đã được chấp thuận ở mức châu Âu và được thương mãi hóa
Hỏi : Tại sao Pháp chưa sử dụng chúng ?
BS Catharina Boehme : Theo cho tôi biết, trường hợp của nước Pháp không phải là riêng biệt. Thụy Sĩ, Ý hay Đức hiện giờ đã không triển khai những trắc nghiệm huyết thanh này. Tất cả các nước đang đánh giá hiệu năng của test, ít tốt hơn đối với những test PCR. Đó là một vấn đề đối với giới hữu trách ở Hoa Kỳ và châu Âu. Test chính duoc sử dụng ở Trung Quốc có một độ nhạy cảm 90% và một tính đặc hiệu 90%. Điều đó không đủ.
Hỏi : Khi nào vấn đề chẩn đoán sẽ được giải quyết trong những nước lớn của cháu Âu như Pháp, Ý hay Tây Ban Nha ?
BS Catharina Boehme : Tôi hy vọng rằng trong một tháng nửa tình hình sẽ tốt hơn nhiều. Trong hai hay ba tuần nữa, sẽ có một sự cải thiện rõ rệt nhờ một sự đa dạng của các test có sẵn sử dụng.
(LE FIGARO 30/3/2020)
Đọc thêm : TSYH so 541 : bài số 4 (Test rapide)

8/ TRẮC NGHIỆM HUYẾT THANH CÓ THỂ “GIẢI PHÓNG” HÀNG NGÀN NGƯỜI“Ông Sida” tiết lộ một phương tiện hiện ít được chú ý đến để đánh giá tác động thật sự của dịch bệnh trong dân chúng. Test sérologique d’anticorps (test sérologique par anticorps) có thể giúp chúng ta quyết định sự chấm dứt cách ly (déconfinement) và sự tái tục những hoạt động bình thường. Nhưng phải đưa nó vào sản xuất không chậm trễ.
” Mỗi nhiễm trùng đều gây nên một đáp ứng miễn dịch, sự đánh giá chất lượng và tầm quan trọng của đáp ứng miễn dịch này là thiết yếu. Ngoài ra đó là cơ sở của nguyên tắc tiêm chủng. Tôi không hiểu tại sao người ta vẫn chưa kích động những nguồn lực để hiệu chính một trắc nghiệm để xác định nồng độ kháng thể anti Sras-Cov-2 trong máu. Bởi vì đó là một chìa khóa để biết khi nào dịch bệnh sẽ suy tàn, khi nào ta sẽ có thể mở lại các trường học, khi nào ta có thể ra đường một cách thanh thản.Người nói đó là GS Nathan Clumeck (ULB). Một nhân vật quan trọng quốc tế về virus. Ông là người đầu tiên đã nhận diện bệnh Sida ở châu Phi. Ông là người đầu tiên đã thấy những bệnh nhân đầu tiên không còn chết vì sida nữa trong các phòng bệnh của bệnh viện St-Pierre ở Bruxelles, nhờ những trithérapie đầu tiên. Hôm nay là giáo sư danh dự, nhưng ông vẫn kín đáo đầu quân ở Centre d’appel Covid-19 pour institut référence pour les maladies infectieuses. Quá già để có thể điều trị những bệnh nhân Covid-19 mà không bị một nguy cơ cao. Nhưng không quá già để suy nghĩ về những phương ton để thoát hiểm.
” Hôm nay, ta đi trong đêm tối. Chúng ta có những con số về những người bị nhiễm, không giống với số lượng những người đã thật sự tiếp xúc với virus và đã lành bệnh. Chúng ta có những con số về những người nhập viện và những con số những trường hợp tử vong. Những con số làm hoảng sợ, nhưng khiến quyên rằng hơn 85% những người bị nhiễm lành bệnh. Nhưng chúng ta không có một ý nghĩ nào về “taux de pénétration” (tỷ lệ xâm nhập) của virus trong dân chúng.”
TRẮC NGHIỆM NHỮNG KHÁNG THỂ
Test huyết thanh sẽ là một trong những tham số hữu ích để quản lý hậu quả của những biến cố. ” Hiện nay chúng ta trong tình trạng khẩn cấp. Ta chỉ trắc nghiệm sự hiện diện của virus và không phải ở tất cả mọi người. Phải trù liệu vào lúc, trong vài tuần nữa, có một ý nghĩ về mức miễn dịch của dân chúng (iceberg, mà ta thấy khắp nơi để tượng trưng đại dịch, sẽ cho phép thích ứng hay giải phóng những biện pháp cách ly).”
Nhưng làm thế nào để không còn ” piloter nữa trong đêm tối ” ? ” Bằng cách thực hiện điều mà ta gọi là một test sérologique d’anticorps, một test IgM/IgG, cũng được gọi test d’immunoglobuline.” Một test chỉ cần lấy máu từ một tĩnh mạch của cánh tay, thậm chí một giọt máu ở đầu ngón tay. Trắc nghiệm này khác với test PCR, được thực hiện hiện nay trên những bệnh nhân và đo lường sự hiện diện của virus ở đường hô hấp. ” Các kháng nguyên (test antigène) là bằng cớ của một nhiễm tích cực với virus “. Ở đây (test par anticorps), đó là một test OUI/NON dựa trên sự hiện diện hay vắng mặt của những kháng thể đặc hiệu.
” Hàng ngàn người Bỉ có lẽ đã mắc coronavirus nhưng không nhận thức về điều đó, đã lẫn lộn nó với một bệnh do virus (virose) thông thường, họ lành bệnh một cách ngẫu nhiên đồng thời do một đáp ứng miễn dịch tốt ; vậy họ không làm lây nhiễm nữa và không còn có nguy cơ bị lây nhiễm nữa, nhưng họ vẫn bị cách ly hay trong tình trạng lo âu bị nhiễm trong khung cảnh hoạt động nghề nghiệp của họ. Một trắc nghiệm như thế có thể cho phép trước hết làm an lòng và sau đó “giải phóng” không nguy cơ hàng ngàn người mà công việc và hành động là chủ yếu cho sự vận hành của xã hội. Và điều đó cũng có những người chưa bị nhiễm và “huyết thanh âm tính” trong việc tự cách ly nghiêm túc và tự bảo vệ tốt”.
Những phí tổn của một “testing sérologique” như thế há không phải là quá cao sao ? ” Tôi không nghĩ như vậy. Người ta nói 2,5 euros mỗi test. Có lẽ cao hơn một chút…Đó là một test Elisa, một kỹ thuật công nghiệp được biết rõ, được tự động hoá. Tôi nghĩ rằng các phòng xét nghiệm Bỉ có thể hiệu chính chúng một cách khá nhanh chóng và chuẩn nhận kỹ thuật”, GS Nathan Clumeck đáp lại. ” Có lẽ người ta chống lại tôi rằng đó không phải là một ưu tiên và rằng tất cả những phương tiện phải được huy động để trắc nghiệm những bệnh nhân để tìm sự hiện diện của virus, nhưng tôi không chắc rằng tất cả các phòng xét nghiệm bị bảo hòa. Trong đất nước của chúng ta có nhiều phong xét nghiệm. Trong cahier des charges của mission ministérielle được phát động hôm thứ sáu cho một sự gia tăng của các test PCR, tôi đã không thấy rằng người ta cũng đưa vào những test huyết thanh. Theo tôi, đó là một sai lầm.
ƯU TIÊN CHO NHÂN VIÊN Y TẾ
Những nhóm đầu tiên nào cần trắc nghiệm để có được hình ảnh thật sự của tảng băng (iceberg) của nhiễm virus ? ” Tôi nghĩ rằng ta phải bắt đầu bằng trắc nghiệm những nhân viên tế thuộc tuyến đầu , xem bao nhiêu người đã phát triển một phản ứng miễn dịch sau khi đã bị nhiễm bởi một bệnh nhân (contact patient) hay không nghi ngờ bởi một tiếp xúc với một hay nhiều “người mang virus không triệu chứng” (porteur asymptomatique). Những ” Sars-Cov-2 huyết thanh dương tính ” ít sợ mắc phải coronavirus. Còn những ” Sars-Cov-2 huyết thanh âm tính sẽ tiếp tục tự bảo vệ nhưng một cách có ý thức. Những cảnh sát, những ambulancier, nhân viên của các sở y tế phụ cũng bị tiếp xúc ở tuyến đầu. Rồi để có một ý tưởng ở cấp toàn dân ta có thể bắt đầu bằng những người hiến máu mới đây. Bằng những công trình nghiên cứu tiền phong này, ta sẽ có một ý tưởng chính xác hơn về mức xâm nhập của virus trong dân chúng (bề sâu của tảng băng). Một thông tin quan trọng cho sự tiếp tục những biện pháp cần thực hiện về mặt cách ly.”
Với những người hoài nghi, GS Clumeck đối lại rằng ta không thể được phép coi thường phản ứng miễn dịch, con đường đáp trả quan trọng với dịch bệnh. ” Anh biết, khi ta tìm thấy những kháng thể trong máu của những bệnh nhân bị sida, vào lúc đầu của dịch bệnh, điều đó muốn nói rằng họ bị nhiễm bởi HIV nhưng đáp ứng miễn dịch là không hiệu quả và sau cùng họ phải chết. Ở đây, tìm thấy những kháng thể Covid-19 hay chính xác hơn Sars-Cov-2 trong máu, điều đó muốn nói rằng ta đã có năng lực thắng được virus, rằng ta được lành bệnh và rằng ta không còn là một nguy hiểm đối với những người chung quanh.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 27/3/2020)

9/ COVID-19 : NHỮNG TRƯỜNG HỢP NẶNG HIẾM HƠN NHƯNG CÓ THỂ XẢY RA TRƯỚC 50 TUỔI
Rất sớm trong dịch bệnh, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã nhận thấy rằng tuổi cao là một yếu tố nguy cơ quan trọng vi nó làm gia trọng bệnh trong trường hợp nhiễm bởi coronavirus. Trong một công trình nghiên cứu, được công bố 9/2, được thực hiện trên 1099 bệnh nhân nhập viện ở Trung Quốc vì bị nhiễm bởi coronavirus, những người trên 65 tuổi có nguy cơ bị trở nặng 6 lần nhiều hơn những bệnh nhân trẻ. Nghĩa là được chuyển vào ICU, cần một thông khí hỗ trợ (ventilation assistée), thậm chí tử vong. Do đó, sự chú ý của các thầy thuốc được hướng về những lão niên. Tuy nhiên, những dữ liệu này đã cho thấy một cách rõ ràng, bằng số lượng tuyệt đối, rằng 1/2 những bệnh nhân nhập viện có dưới 50 tuổi.
24/2, một publication de référence, trong Journal of the American Medical Association (Jama), lần này được thực hiện trên hơn 44.000 bệnh nhân trung quốc, xác nhận tỷ lệ này và tỷ lệ tử vong cao nhất, đối với những bệnh nhân già. Tỷ lệ tử vong được tính là 1,3 % ở những người 50 tuổi, rồi gần như tăng gấp đôi đối với mỗi thập niên : 3,6% ở những người 60, 8% ở những người 70 và 14,8% bắt đầu từ 80.
Tuần qua, trên cơ sở prépublications en ligne MedRxiv, các nhà nghiên cứu của đại học Oxford, của Imperial College và của đại học Queen Mary de Londres đã phân tích hơn 1000 trường hợp tử vong do nhiễm bởi coronavirus xảy ra ở Trung Quốc và những nơi khác. Chỉ một trên năm người dưới 60 tuổi, nhưng dẫu sao cũng một trên năm. Các nhà thống kê đã tính một tỷ lệ tử vong, ngoài Trung Quốc, 1,33% sau 60 tuổi và 0,39% dưới 60 tuổi. Sự xác nhận, một lần nữa, rằng những nguy cơ tử vong cũng hiện diện trước 60 tuổi. Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu Hoa-Trung nhấn mạnh rằng những người có nguy cơ tử vong nhất là những người đàn ông trên 60 tuổi, đối với họ một chẩn đoán viêm phổi đã được đặt ra ban đầu và bệnh nhân đã chậm đi khám bệnh.
Một công trình nghiên cứu đã so sánh 221 bệnh nhân nhập viện vì một nhiễm coronavirus, 55 trong một tình trạng nặng và 166 ít nặng hơn. Không ngạc nhiên, tuổi trung bình là 62 trong nhóm thứ nhất, có tỷ lệ tử vong đạt 22%, và 51 tuổi trong nhóm thứ hai, không có một tử vong nào.
Tất cả những công trình nghiên cứu này củng cố các thầy thuốc trong ý tưởng rằng những nhiễm bởi coronavirus ở tuổi 50 thường ít nặng hơn ở tuổi 70 nhưng rằng những trường hợp nặng và những tử vong vẫn có thể xảy ra. Tuy nhiên quá sớm để tính những tỷ lệ tử vong chính xác theo lứa tuổi, bởi vì có thể rằng nhiều trường hợp không triệu chứng hay ít triệu chứng hiện hữu trong tất cả lứa tuổi, nhưng rằng chúng không nhất thiết được phát hiện, cũng như được hạch toán.
Ngày 10/3, một nhóm những nhà nghiên cứu trung quốc và Úc công bố một trong những công trình nghiên cứu hiếm hoi, được thực hiện trên những bệnh nhân dưới 40 tuổi. Đó là 46 những người trẻ tuổi từ 10 đến 35, phần lớn là những người trưởng thành trẻ tuổi (32 có dưới 25 tuổi), với 22 phụ nữ và 24 đàn ông. Chỉ 6 người có những bệnh lý tiềm năng. Etude rétrospective tìm thấy trong số những triệu chứng thường gặp nhất : ho (81%), sốt (69%), và, hiếm hơn (28%), khat đờm. 2/3 trong số những bệnh nhân này có một kết quả scanner cho thấy một dạng vẻ đặc trưng của nhiễm bởi coronavirus (aspect “en verre dépoli”).
Thời kỳ tiềm phục trung bình dường như hơi dài hơn so với những người già (5-6 ngày ở những người già ; 7 ngày ở những người trẻ). Các tác giả nhận xét rằng 4 bệnh nhân không có một triệu chứng nào. Họ đã được phát hiện bởi vì họ đã tiếp xúc với một người bệnh dương tính ở nhà, nhưng những thăm khám phát hiện rằng, trong 3 trường hợp trên 4, chính họ đã làm lây nhiễm những người thân trong gia đình.
(LE FIGARO 17/3/2020)
Đọc thêm : TSYH số 540 : bài số 7 (groupes à risque)

10/ TÌNH HÌNH DỊCH CORONAVIRUS Ở BỈMỗi người phải chăm chú tôn trọng những lệnh an toàn để gìn giữ cộng đồng : điều đó sẽ hạn chế sự đi đến cùng lúc của quá nhiều bệnh nhân trong những bệnh viện. Mỗi người phải thận trọng đối với chính mình : những người thuộc mọi lứa tuổi có thể chết vì nhiễm bởi Covid-19. Vậy lợi ích cá nhân đi đối với lợi ích tập thể : chừng nào không có vaccin, nguy cơ sẽ hiện hữu. Với Marius Gilbert, nhà nghiên cứu về dịch tễ học của Université libre de Bruxelles, chúng ta sẽ kiểm điểm tình trạng cuộc khủng hoảng y tế. Ta cũng sẽ nói về những sai lầm trong dự báo của các nhà quyết định chính trị và về hy vọng được mở ra bởi khả năng, trong thời gian ngắn hạn, tăng nhanh những test de dépistage.
Hỏi : Tác động có thể nhận thấy của những biện pháp được chính phủ thực hiện từ giữa tháng ba để hạn chế sự lan tràn của Covid-19 là tác động nào ?
Marius Gilbert : Vào lúc chúng ta nói chuyện (23/3), ta quan sát thấy một sự hạ của số lượng những người đến trong những đơn vị điều trị tăng cường (ICU). Tuy nhiên, còn quá sớm để rút ra những kết luận. Còn có một phần rất lớn điều không thể tiên đoán. Ta vẫn luôn luôn không thể nói khi nào sẽ xuất hiện đỉnh điểm của dịch bệnh. Phải nhận thức một bias quan trọng mà ta có hôm nay : thật vậy, chỉ những người có triệu chứng rõ rệt mới nhận một test de dépistage. Tuy nhiên, có thể rằng sự hạn chế của những tiếp xúc xã hội đã có một ảnh hưởng quan trọng lên sự truyền của virus trong dân chúng, mặc dầu điều đó không thể được the hien bằng những dữ liệu thống kê. Để nhắc lại, có hai loạt những biện pháp đă được chính phủ áp dụng, cách nhau vài ngày. Ta chờ đợi những biện pháp đầu tiên (đóng cửa trường học, các tiệm café và những cửa hàng ăn uống) có một ảnh hưởng ít quan trọng nhưng có thể cụ thể hóa trong một thời kỳ giữa 22 và 36 tháng ba.Tuy nhiên, giây phút sự thật sẽ xảy ra giữa 26 và 31 tháng 3, bởi vì chính khi đó mà ta sẽ đánh giá tác động của toàn bộ những biện pháp phòng ngừa (mesure de précaution), bao gồm sự cách ly một phần của dân chúng từ 17/3. Vậy không phải là không có lý do khi chính phủ đã loan báo rằng tình hình sẽ được tái đánh giá vào đầu tháng tư.
Hỏi : Có thể “dự kiến” sự dẹt xuống của đường cong của những lây nhiễm (aplatissement de la courbe des infections) với một mức độ chắc chắn hợp lý không ? Hay đúng hơn chỉ là gợi lên một hy vọng ?
Marius Gilbert : Thật vậy, đó là một hy vọng, chứ không phải là một dự kiến chắc chắn. Nói như thế, hy vọng không phải là không dựa trên cái gì cả : một tiến triển tich cực có thể dự kiến thật, mặc dầu nó không thể được bảo đảm. Thí dụ, ta tự hỏi về tác động mà sự thiếu tuân thủ những biện pháp phòng ngừa bởi một bộ phận của dân chúng sẽ có. Tuy nhiên, nếu tôi phải tiên lượng tiến triển của những ngày sắp đến, với nguy cơ bị cải chính bởi những sự kiện, đó là ta sẽ chứng thực một sự chậm lại ; nói một cách khác, từ nay đến cuối tháng, dịch bệnh sẽ tiếp tục gia tăng, nhưng ít nhanh hơn trước. Có lẽ đường cong của những lây nhiễm sẽ không còn nằm ngang vào cuối tháng ba.
Hỏi : Ở Hòa Lan, chính quyền ưa thích hơn một chiến lược “miễn dịch tập thể” (immunité collective). Một ý tưởng hay ?
Marius Gilbert : Đó là một chiến lược cực kỳ liều lĩnh. Chiến lược này đi từ định đề rằng ta có thể để phát tán virus trong toàn dân để tạo một phản ứng miễn dịch, đồng thời bảo vệ những người yếu ớt nhất. Việc gạt bỏ những người có nguy cơ này đối với tôi dường như khó thành công. Nếu ta cô lập những người già, mặc dầu vậy họ vẫn sẽ bị tiếp xúc với nhân viên điều trị, rất thường bị nhiễm bởi vì không có cách ly (confinement). Tôi sợ rằng chính sách Hòa Lan này sẽ dẫn đến một số lượng tử vong quan trọng hơn so với những quốc gia, như Bỉ, đã áp dụng những biện pháp phòng ngừa hà khắc.
Hỏi : Chính sách được tiến hành ở Hòa Lan phải chăng khả dĩ làm tiêu tan những cố gắng được thực hiện ở Bỉ ? Mỗi ngày, những người lao động xuyên biên giới (travailleurs transfrontaliers) đi qua biên giới.
Marius Gilbert : Đó là một vấn đề thật sự, mà nguồn là chính trị, vì lẽ những năng lực y tế (compétences sanitaires) vẫn là những độc quyền quốc gia, điều này không cho phép đi đến một sự nhất quán của những biện pháp được thực hiện trong những quốc gia khác nhau của Liên Hiệp châu Âu. Thế thì vâng, thật vậy, chiến lược Hòa Lan khả dĩ làm phương hại sự thành công của chính sách cách ly (politique de confinement) mà ta tiến hành ở Bỉ. Nếu những người Bỉ đi làm việc ở Hòa Lan và những người Hòa Lan đến làm việc ở Bỉ, điều đó dĩ nhiên gia tăng những nguy cơ truyền virus trên lãnh thổ của chúng ta.
Hỏi : Chúng ta hy vọng chẳng bao lâu nữa có thể thực hiện nhiều hơn test de dépistage ở Bỉ. Điều đó có thể ảnh hưởng chiến lược được thiết đặt bởi chính phủ ở chỗ nào ?
Marius Gilbert : Sự gia tăng thực hien những test de dépistage có thể cho phép một sự ra khỏi dần dần thời kỳ cách ly (déconfinement). Ta có thể dẫn kinh nghiệm được thực hiện ở Nam Hàn, ở đây sự sử dụng với số lượng lớn những test (20.000-30000 mẫu nghiệm mỗi ngày), phối hợp với những biện pháp khoảng cách xã hội (distanciation sociale), như đóng của trường học và làm việc ở nhà (télétravail), đã cho phép quản lý dịch bệnh một cách hiệu quả hơn điều mà ta đã thành công thực hiện cho đến nay ở châu Âu.Những người Nam Hàn kềm chế đường cong của những lây nhiễm (courbe des infections), họ có ít những người chết hơn mặc dầu người ta vẫn còn đi lại trên đường phố. Vì chẩn đoán được làm dễ, nên những đáp ứng thích đáng cho mỗi người là nhanh hơn. Ta biết ai phải được tuyệt đối cách ly và ai không cần phải như thế, điều này cũng là một lợi điểm cho sự vận hành tốt của xã hội.
Hỏi : Đáng ra ta phải phổ biến những test này ngay ở Bỉ, như thí dụ Nam Hàn đã cho thấy điều đó ?
Marius Gilbert : Trên lý thuyết, vâng, nhưng trên thực tế, vào lúc đầu của dịch bệnh ở Bỉ, ta đã không thiết đặt những phương tiện hậu cần và người (moyens logistiques et humains), cho phép tiến hành một chính sách như thế.
Hỏi : Một sự thiếu sót được chứng thực như thế có thể chấp nhận được không ?
Marius Gilbert : Làm lại lịch sử khi chuyện đã xong rồi là việc luôn luôn dễ dàng. Ta đã bị vượt tốc độ…(Ông ngừng một lát trước khi tiếp tục). Chắc chắn, đã có những yếu tố thuộc phạm vi của sự không sửa soạn (impréparation). Về vấn đề các khẩu trang và các thuốc thử cần thiết cho sự hiệu chính các trắc nghiệm chẩn đoán (tests de diagnostic), ta có thể lấy làm tiếc cho một sự thiếu thận trọng, một sự thiếu tiên liệu. Đồng thời, tưởng tượng rằng Bỉ có năng lực chuẩn bị đến độ thiết đặt một kịch bản theo kiểu Nam Hàn, đó là rơi vào sự mị dân. Đó không phải là lúc cho loại tranh cãi này. Sẽ đến lúc để đánh giá những thiếu sót, nhưng điều khẩn cấp lúc này là quản lý tốt nhất cơn khủng hoảng y tế.
Hỏi : Còn thiếu những gì mà không phổ cập ngay những test này ?
Marius Gilbert : Đại dịch ảnh hưởng rất nhiều nước, tất cả đều muốn thực hiện test de dépistage. Yêu cầu bùng nổ về test gây nên một sự thiếu những sản phẩm và những thiết bị kỹ thuật. Vậy Bỉ không thể cậy vào nguồn lực riêng của mình để gia tăng những năng lực trắc nghiệm (capacité de tests). Chính vì điều đó mà một sự hợp tác của tất cả các phòng xét nghiệm đại học thực hiện test PCR đã được thiết đặt. Dĩ nhiên, điều đó không được thực hiện một cách dễ dàng như vậy. Đi từ một hoạt động nghiên cứu sang một hoạt động điều tra phát hiện quy mô lớn hàm ý những vấn đề thuộc về hậu cần, pháp lý, sự hiệu chính quá trình, một sự hài hòa trong sự truyền của các dữ liệu…
Hỏi : Khi nào Bỉ sẽ thật sự sẵn sàng chuyển qua tốc độ cao hơn ?
Marius Gilbert : Số lượng các trắc nghiệm sẽ bắt đầu gia tăng ngay tuần này và, bắt đầu tuần lễ đầu của tháng tư, ta sẽ có thể thực hiện từ 10.000 đến 15.000 test mỗi ngày. Vào lúc đó, ngoài những phòng xét nghiệm đại học, ta sẽ có sự đóng góp của vài phòng xét nghiệm tư nhân. Thí dụ, GSK sẽ tham gia vào cố gắng tập thể bằng cách đặt những cấu trúc hạ tầng và nhân viên trong tình trạng sẵn sàng sử dụng. Trong tình hình mới này, những mẫu nghiệm có thể được lấy thường hơn, nhất là bởi những médecin généraliste. Do đó ta sẽ có một đánh giá thực tế hơn về tình trạng của dịch bệnh và ta có thể tiến hành những chính sách cách ly nhắm đích hơn nhiều. Trong những tuần đến, ta cũng sẽ có những kit de tests rapides, cho một kết quả trong vài phút, điều này sẽ cho phép các bệnh viện đẩy nhanh sự chọn lọc các bệnh nhân trong thì đầu, rồi cho phép các généraliste thực hiện các test bởi chính họ ngay khi sự sản xuất sẽ cho phép.
Hỏi : Những test này có năng lực phát hiện nhiễm coronavirus trong trường hợp những người không có triệu chứng không ?
Marius Gilbert : Trong trường hợp này, ta có thể có những âm tính giả nếu charge virale của những người không triệu chứng có thể rất thấp. Nói một cách khác, charge virale có thể nằm dưới ngưỡng phát hiện.
Hỏi : Ngược lại, ta có thể có những triệu chứng đặc trưng của Covid-19 sau một nhiễm bởi coronavirus, được làm trắc nghiệm và, lại nữa, nhận một âm tính giả không ?
Marius Gilbert : Những âm tính giả này có thể chiếm đến 20 đến 30% những trường hợp và điều đó rất tùy thuộc vào tình trạng tiến triển của bệnh. Nhưng những thiếu sót này trong chẩn đoán đặc biệt liên quan những bệnh nhân có những thể nặng của bệnh, dầu sao cũng được điều trị như thể chúng là dương tính.
Hỏi : Ở Nam Hàn, người ta thêm vào test de dépistage một định vị địa lý (géolocalisation) những người bị nhiễm bởi coronavirus. Như thế, những người mong muốn có thể kiểm tra trên một internet để xem, trong con đường họ ở hay trong tòa nhà mà họ làm việc, có một người mang virus hay không.
Marius Gilbert : Trên quan điểm dịch tễ học, phương pháp tiến hành này có ý nghĩa. Đối với những chuẩn xã hội và văn hóa triều tiên, nó có thể thực hiện được. Ở Nam Hàn, người ta cho rằng lợi ích tập thể là quan trọng hơn những cân nhắc liên quan đến sự bảo vệ những dữ liệu cá nhân. Do đó, người Nam Hàn, khi bị nhận diện, sẽ trải nghiệm điều đó không quá khó khăn bởi vì không có sự phản đoán đạo đức hay bị điểm mặt chỉ tên. Nhưng ở châu Âu, một biện pháp như thế sẽ xâm phạm tự do cá nhân và đời sống riêng tư. Với nhân sinh quan của chúng ta, những mốc văn hóa và xã hội của chúng ta, điều đó có thể dẫn tới những trải nghiệm khủng khiếp. Các bệnh nhân sẽ cảm thấy bị nhìn bởi những người khác, như những còn hủi. Một lần nữa điều đó cho chúng ta thấy tầm quan trọng của sự tuân thủ xã hội (adhésion sociale), không có nó những biện pháp được áp dụng bởi chính phủ có thể hoàn toàn không hiệu quả. Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ không như thế ở Bỉ.
Hỏi : Những người bị nhiễm tuy vậy xác nhận là đã tôn trọng tất cả những biện pháp phòng ngừa được khuyến nghị. Điều đó không làm lo ngại sao ?
Marius Gilbert : Tất cả những biện pháp được khuyến nghị làm giảm những nguy cơ nhưng, ngoại trừ hoàn toàn được nhốt trong một nơi kín, không ai có thể chắc chắn thoát được con virus. Ta có thể giảm thiểu mạnh nguy cơ, nhưng ta không thể làm nó biến mất hoàn toàn.
Hỏi : Các chuyên gia giải thích với chúng ta rằng cần phải tránh không để cho tất cả mọi người bị lây nhiễm cùng lúc để tránh sự bảo hòa của hệ điều trị. Do đó những biện pháp cách ly hiện nay. Có phải tập quen với ý tưởng rằng, trong một thời gian chắc chắn dài hơn, phần lớn người ta cuối cùng dẫu sao cũng bị nhiễm ?
Marius Gilbert : Đó đúng là chiến lược. Trong một khung cảnh đại dịch và trong khi sự lan tràn của Covid-19 không được kiểm soát trong vài nước, không ai nhắm đến việc trừ triệt virus.
Hỏi : Vậy mỗi người phải chuẩn bị cho ý tưởng rằng mình có thể bị nhiễm coronavirus vào một lúc nào đó ?
Marius Gilbert : 60 hay 70% những người có thể bị nhiễm trước khi một miễn dịch cộng đồng phát triển. Nhưng điều đó, đó là không kể đến công việc to lớn đang được tiến hành trong cộng đồng khoa học : có lẽ từ đây đến một tháng, hai tháng hay hơi hơn nữa, sẽ có một loai thuốc làm cho sự lây nhiễm ít nguy hiểm hơn nhiều. Và rồi thì sau đó sẽ có một vaccin. Chính vì điều đó mà ta phải tôn trọng một cách nghiêm túc những biện pháp phòng ngừa : ta giúp đỡ cộng đồng bằng cách làm chậm sự lan tràn của virus và ta giúp đỡ cho chính chúng ta, bởi vì nếu bị bệnh, càng chậm càng tốt, khi đó chúng ta đã thực hiện những bước tiến về mặt điều trị.Hỏi : Sự khan hiếm các khẩu trang đang bị tranh cãi. Những người điều trị kém được bảo vệ có thể bị nhiễm và trở nên những vecteur làm lây nhiễm. Cái gì gây nên sự không thấy trước (non-anticipation) này ? Mặc dầu ở nước ngoài đã có những dịch bệnh do virus mới xảy ra gần đây và rất đáng quan ngại. Ngày xưa, khi ở Bỉ còn làm nghĩa vụ quân sự, ta chuẩn bị những người được gọi nhập như với nguy cơ chiến tranh vi trùng…Há không ngạc nhiên sao khi chúng ta không có đủ những khẩu trang và, còn tệ hại hơn, chúng ta không có năng lực chế tạo chúng mặc dầu, rõ ràng, đó là một nguồn chiến lược ?
Marius Gilbert : Vâng, tình huống này hoàn toàn gây sững sờ. Điều đó tiếp theo với vấn đề các test de diagnostic. Ta sẽ nói đó là một sự thiếu sót trong sự dự báo (défaut d’anticipation). Người ta cho rằng những chuỗi cung ứng (chaine d’approvionnement) dựa trên những người cung cấp ở ngoại quốc là đủ, và điều đó đối với một loạt những yếu tố quan trọng và chiến lược : các khẩu trang, các thuốc thử, nhưng cũng những dụng cụ và sản phẩm khác đáng ra có thể được chế tạo ở Bỉ.Ta đã không dự kiến sự kiện là, khi một dịch bệnh lan tràn trong một số lượng lớn quốc gia, những những chuỗi cung ứng quốc tế rất nhanh chóng gặp khó khăn. Thêm vào đó một logique cung ứng căng thẳng (logique de flux tendus) đối với toàn thể những vật dụng bệnh viện (fournitures hospitalières). Điều chứng thực này dĩ nhiên khiến phải suy nghĩ về những thực hành quản lý (pratiques managériales), ưu tiên những tiết kiệm, nhất là suy nghĩ về những dự trữ trong một khung cảnh chính sách giảm những đầu tư trong khu vực y tế công cộng.
Hỏi : Hôm nay ta đo lường kết quả của một chính sách như thế. Một thí dụ trong số những thí dụ khác : những lời chứng của những người lao động y tế, làm việc không khẩu trang trong những nhà dưỡng lão, trong khi họ tiếp xúc với những người yếu ớt. Điều đó không đáng phàn nàn sao ?
Marius Gilbert : Vâng đúng vậy. Không có biện minh nào khác cho điều đó ngoài sự thiếu khẩu trang. Và điều đó tạo một cách rõ ràng một mối nguy hiểm lây nhiễm cho những người già bởi một nhân viên điều trị có thể bị nhiễm bởi coronavirus nhưng không có triệu chứng.
Hỏi : Ta có thể học gì từ những sai lầm đã phạm phải ?
Marius Gilbert : Từ nay, phải duy trì một dự trữ thường trực của một số nguồn lực chiến lược nào đó để cho phép các bệnh viện đối đầu với những cuộc khủng hoảng y tế.
Hỏi : Và phát triển một năng lực sản xuất những nguồn lực chiến lược này ở Bỉ ?
Marius Gilbert : Sự thiếu khẩu trang chỉ như cây che dấu rừng. Có nhiều vật dụng bệnh viện được quản lý một cách căng thẳng. Rất là tích cực khi một “task force” đã được thiết đặt để nhận diện toàn bộ những nhu cầu. Thật vậy, đó là dự kiến điều có thể là dự trữ không đủ để thỏa mãn yêu cầu trong những tuần đến và dự kiến những đáp trả thích ứng. Phải hiểu rằng một trong những hậu quả quan trọng của mọi đại dịch : những nhu cầu tương tự xuất hiện cùng lúc trong nhiều nước trên thế giới. Như thế, ở Bỉ cũng như ở những nơi khác, ta thiếu máy thở (respirateur) và khẩu trang để đối phó với Covid-19. Nhưng nếu ta đối đầu với một virus loại Ebola, ta sẽ còn thiếu các khẩu trang và, ngoài ra, thiếu những thiết bị bảo vệ. Chúng cũng không đủ trong những dự trữ. Vậy trong tương lai phải xác định một danh sách những sản phẩm và những dụng cụ chiến lược mà ta phải có thể kích hoạt sự sản xuất tại chỗ và, dĩ nhiên, đồng thời đánh giá những nhu cầu, cùng với khu vực bệnh viện.
Hỏi : Há không đáng tiếc sao khi những biện pháp dự đoán cơ bản như thế chỉ được xét đến sau khi xuất hiện một cơn khủng hoảng ?
Marius Gilbert : Đó không phải là lần đầu tiên mà một cơn khủng hoảng làm thay đổi sự việc ở Bỉ
Hỏi : Đồng thời, há không phải những universitaire spécialisé đã cố nhạy cảm hóa chính giới với những thách thức này trước cơn khủng hoảng này ? Có phải người ta đã cảnh báo các nhà quyết định chính trị rằng một ngày nào đó đất nước có thể đương đầu với loại đại dịch này ?
Marius Gilbert : Với những khoảng thời gian cách quãng đều đặn, ở châu Âu, cộng đồng khoa học đã rung chuông báo động về nguy cơ của một đại dịch do virus. Tôi có thể đưa ra một bibliographie gồm 12 bài báo đi theo chiều hướng này, những công trình gợi lên những biện pháp phòng ngừa phải được thực hiện.. Những dịch bệnh, điều đó thuộc về những đe dọa phải được xét đến với nhiều thời gian nhìn lại bởi những nhà quyết định chính trị. Đó như thể là một sự thay đổi khí hậu, mà ta chỉ hiểu khi trải nghiêm những cơn gió lốc và những trận lụt lội đầu tiên. Loại thách thức đã có vẻ không khẩn cấp.Những đại dịch, đó như là những trận động đất ; ta biết rằng điều đó có thể đến, rằng điều đó sẽ đến một ngày nào đó, nhưng ta không biết khi nào và với cường độ nào. Thế thì, vài người nghĩ đến điều đó, nhưng những nhà quyết định chính trị lại quên nó.
Hỏi : Chỉ cần nhìn thời sự của những năm vừa qua để nhận thức rằng những virus rất nguy hiểm phát khởi trong vài vùng của thế giới. Điều đó hẳn không vượt quá những năng lực cua một nhà quyết định chính trị để rút ra vài bài học…
Marius Gilbert : Không đánh giá những năng lực của những người này và những người kia, tôi chỉ có thể xác nhận với ông điều đó : từ nhiều năm nay, những virus mới khá nguy hiểm phát khởi một cách đều đặn. Thí dụ ở trung quốc, người ta đã khảo sát một virus đặc biệt nguy hiểm, H7N9, một cúm gà đã gây nhiều trăm tử vong trong 5 năm, trong thập niên trước. Tỷ lệ tử vong là rất cao, hoặc 30% đến 40% của những người bị nhiễm. May mắn thay, H7N9 không được truyền từ người qua người. Ta đã quan sát rằng tất cả các bệnh nhân đã từng có một tiếp xúc với gia cầm, hoặc trong chợ, hoặc trong những trại chăn nuôi. Tuy nhiên, nếu virus này tìm ra năng lực truyền từ người qua người, nó sẽ vô cùng nguy hiểm. Cũng đã có MERS, hoặc hội chứng hô hấp của Trung Đông, hội chứng này cũng có một tỷ lệ tử vong cao hơn tỷ lệ tử vong của Covid-19, nhưng không lan tràn tốt như thế. SRAS năm 2002 đã là một tín hiệu báo động. Tuy nhiên sự làn tràn của nó là dễ được kềm chế hơn bởi vì các bệnh nhân trở nên lây nhiễm sau khi phát triển những triệu chứng nhiễm trùng, điều này đã cho phép một chiến lược chống lại, dựa trên sự phát hiện sớm, tiếp theo bởi những biện pháp cách ly. Sự chống lại Covid-19 là phức tạp hơn nhiều bởi vì những người đã có khả năng lây nhiễm khoảng 24 giờ trước khi có những triệu chứng đầu tiên.
Hỏi : Ta có thể nói rằng ” thiên hướng ” của những con virus nguy hiểm này, được truyền một cách khó khăn đến người, là tìm những cửa vào (porte d’entrée) dễ tiếp cận hơn ?
Marius Gilbert : Dĩ nhiên, các virus không suy nghĩ nhưng, trên một quan điểm tiến hóa, ta có thể tra lời dương tính cho câu hỏi của ông. Ở mức các động vật có xương sống trên đất liền, nếu ta không lấy tất cả các động vật, biomasse của chúng ta chỉ được vượt qua bởi biomasse của các động vật chăn nuôi, hoặc tổng số những trâu bò, dê cừu, dê, gà mái, heo…Ngay sau, có chúng ta, những con người. Chúng ta là một cái đích rất lôi kéo đối với những virus này vì chúng cần thân thể của chúng ta để sinh sản.
(PARIS MATCH 26/3-1/4/2020)
Đọc thêm : TSYH số 541 : bài số 1 (Marius Gilbert)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/4/2020)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

11 Responses to Thời sự y học số 542 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 543 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 544 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 545 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  4. Pingback: Thời sự y học số 546 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  5. Pingback: Thời sự y học số 547 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  6. Pingback: Thời sự y học số 550 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  7. Pingback: Thời sự y học số 551 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  8. Pingback: Thời sự y học số 554 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  9. Pingback: Thời sự y học số 555 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  10. Pingback: Thời sự y học số 556 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  11. Pingback: Thời sự y học số 557 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s