Thời sự y học số 528 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1. KHI CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG LÀ MỘT BỘ PHẬN CỦA ĐIỀU TRỊ
Trong vài căn bệnh, một sự thay đổi quan trọng chế độ ăn uống góp phần một cách trực tiếp vào sự cải thiện của tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.NUTRITION. Như ta đã biết, vài cách ăn uống có một vai trò bảo vệ chống lại những bệnh mãn tính thường gặp, những bệnh tim-mạch, ung thư hay đái đường. Thí dụ chế độ ăn uống loại “địa trung hải” hay sự tiêu thụ ít nhất 5 trái cây và rau xanh mỗi ngày, mà những lợi ích đã được chứng minh một cách rộng rãi bởi những công trình nghiên cứu dịch tễ học.
Nhưng đó chỉ là phòng ngừa. Đôi khi chính sự ăn uống trở nên một công cụ điều trị.Thí dụ với chế độ ăn uống sinh cétone (diète cétogène) trong bệnh động kinh, mà lợi ích đã được chứng minh bởi nhiều thử nghiệm.Ta sử dụng nó khi bệnh này đề kháng với một hay nhiều điều trị thuốc.” Đó không phải là một cách “bio” trong điều trị bệnh động kinh, mà là một cách điều trị dành cho những bệnh động kinh đề kháng thuốc “, GS Stéphane Auvin, neuropédiatre (Bệnh viện Robert-Debré, Paris), đã nhấn mạnh như vậy. Chế độ ăn uống sinh cétone nhằm hạn chế tất cả những đường chậm và nhanh dưới 10-12 g/ngày, hoặc 2-4 cục đường. Nói một cách khác, không bánh mì, không bột (pâtes), không những thứ có bột (féculents), không khoai tây…Khi đó những cung cấp dinh dưỡng dựa vào 90% lipides và 6-7% protéines. ” Năng lượng của các acide béo được sản xuất bằng đường cétonique của các tế bào thay thế phần lớn đường của glucides, sinh lý hơn ” Vài thức ăn bị cấm, những thức ăn khác, giàu mỡ (fromage, charcuterie…) được cho phép hầu như tùy ý. Đối với những thức ăn chứa đường, phải tính lượng được cho phép “, vị thầy thuốc đã định rõ như vậy. Rất ép buộc đối với những gia đình và đứa trẻ bị bệnh, và bị phạt về mặt xã hội, chế độ ăn uống sinh cétone được thiết đặt theo prescription médicale và cần một sự theo dõi chế độ ăn uống chặt chẽ. Chế độ ăn uống thường là tạm thời, ngoại trừ trong vài bệnh lý hiếm, trong đó nó phải được theo suốt đời.Những kết quả của nó có tính thuyết phục và chế độ ăn uống này từ nay được kê đơn ở những trẻ dưới 2 tuổi, thậm chí 6 tháng. ” Chế độ ăn uống sinh cétone chia hai tần số của các cơn động kinh ở một nửa những bệnh nhân và giảm 90% các cơn ở một bệnh nhân trên 20. Nó cũng có thể cho phép giảm vài loại thuốc và cải thiện vài rối loạn nhận thức (trouble cognitif) trong bệnh động kinh, nhưng điều đó không được chứng minh một cách rõ ràng “, Stéphane Auvin đã nói thêm như vậy. Ngược lại ta vẫn không được biết cơ chế hay những cơ chế tác dụng của nó. ” Những dữ kiện tiền lâm sàng gợi ý một tác dụng chống viêm nhưng chưa gì được chứng minh ở người “, thầy thuốc thần kinh nhi đồng đã nhấn mạnh như vậy. Tất cả những applications avancées khác chỉ là những giả thuyết.
Sự theo dõi dinh dưỡng cũng quan trọng trong một ung thư hay ở vài bệnh nhân rất già, bị đe dọa bởi mất dinh dưỡng. Trong ung thư, sự mất dinh dưỡng có nguồn gốc không do những quá trình ung thư biến đổi sự chuyển hóa, mà còn do những điều trị cần thiết để chống lại nó. Trong sự lão hóa, tình trạng mất dinh dưỡng và sarcopénie (tan cơ) là một yếu tố quan trọng gây suy thoái chức năng và tình trạng phụ thuộc (dépendance), thường trong một khung cảnh nhiều yếu tố, trong đó tác động những bệnh xảy ra đồng thời (comorbidités), sự mất vị giác và cảm giác ăn ngon do tuổi già, đôi khi được gia tăng bởi các thuốc, tình trạng cô độc, sự trầm cảm.
Trong suy thận mãn tính, những cung cấp protéine phải được giảm.” Ở Pháp chứng bệnh này xảy ra cho 3 triệu người, bằng bệnh đái đường. Các thuốc là cần thiết để chống lại cao huyết áp, protéinurie, những bất thường phosphocalcique…Nhưng chúng không đủ bởi vì thức ăn mang lại những độc chất, mà thận bi bệnh không thể loại bỏ, chúng tích tụ và làm nhiễm độc cơ thể. Vậy sự xử trí dinh dưỡng là cần thiết”, GS Denis Fouque, néphrologue (CH Lyon Sud) đã xác nhận như vậy. Trung bình, ở Pháp, ta ăn protéine hai lần nhiều hơn là cần thiết.”Thế mà, ta càng ăn protéine, ta càng làm mệt thận. Điều đó không nghiêm trọng nếu thận hoạt động tốt, nhưng ngay khi ta bị bệnh thận, sự làm mệt thận sẽ đẩy nhanh sự phá hủy chúng. Bằng cách giảm sự cung cấp protéine xuống 0,3-0,4 g/kg/ngày, ta hạn chế sự tạo thành urée và ta làm chậm lại sự phá hủy này. Như thế ta có thể trung bình lùi lại 6-18 tháng việc phải nhờ đến dialyse.” Nhưng tất cả protéine không có cùng tầm quan trọng.” Carnitine, một acide aminé, chỉ được mang lại bởi thịt đỏ, là rất có hại, và các protéine thực vật được thận dung nạp tốt hơn. Bệnh càng trở nặng, ta càng phải tiến về một chế độ ăn uống végétarien. Cung cấp khác phải giảm, muối, làm trầm trọng sự lọc thận, huyết áp, và ngăn cản các thuốc bảo vệ thận “, néphrologue đã xác nhận như vậy.
Chế độ ăn uống, được theo bởi 2 bệnh nhân trên 3, phải còn được chấp nhận tốt hơn.” Sự thành công dựa nhiều trên sự giáo dục điều trị các bệnh nhân, những consultation de diététique và sự theo dõi đều đặn : quyết định của giới hữu trách đảm nhận tất cả parcours de soins của những bệnh nhân suy thận là tiến bộ lớn nhất từ hai mươi năm qua và sẽ giúp chúng ta.
(LE FIGARO 28/10/2019)

2. UNG THƯ : COI CHỪNG MẤT DINH DƯỠNG
Khi bị một ung thư, việc xử trí càng sớm càng tốt những rối loạn dinh dưỡng là cấp thiết. ” Lúc chẩn đoán, 1/4 những bệnh nhân đã bị mất dinh dưỡng, với một sự mất cân và tan cơ (fonte musculaire). Sự mất dinh dưỡng kéo dài thời gian nhập viện trong ngoại khoa, nhân gấp 2 đến 4 nguy cơ bị nhiễm độc nặng của những điều trị, kể cả những liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) và miễn dịch liệu pháp, và tăng gấp đôi nguy cơ phải ngừng điều trị vì độc tính. Vậy đó là một sự mất cơ may thật sự “, BS Bruno Raynard, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng ở Viện Gustave-Roussy (Villejuif) đã nhấn mạnh như vậy.
Tất cả các ung thư đều bị liên quan. ” Viêm do khối u biến đổi chuyển hóa của mô mỡ, sinh nhiệt nhiều hơn và ” lãng phí” năng lượng, gây nên một sự đề kháng insuline (insulinorésistance) của các mô khiến chúng sử dụng ít hiệu quả hơn glucose và gây một sự tan cơ “, thầy thuốc đã giải thích như vậy. ” Hiện tượng viêm cũng làm giảm cảm giác ăn ngon và có lẽ góp phần vào những rối loạn vị giác và khứu giác.” Trong điều trị, tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân có nguy cơ trở nặng bởi vì những tác dụng của tình trạng dinh dưỡng sẽ thêm vào những tác dụng của khối u. Thường với một sự mất ăn ngon, nôn, rối loạn nhu động ruột, một sự mất vị giác, khứu giác.
Than ôi, vị thầy thuốc lấy làm tiếc, ” sự phát hiện tình trạng mất dinh dưỡng này không được tốt bởi vì những cơ sở chuyên môn về ung thư, trừ những ngoại lệ hiếm, chịu một sự thiếu quan trọng những diétécien được đào tạo về ung thư học. Sự xử trí dinh dưỡng được đảm bảo thành công hơn nếu các bệnh nhân được gởi đến cho chúng tôi ngay khi họ bị mất 5% trọng lượng. Thế mà chúng tôi thường khám họ khi sự mất cân này vượt quá 15%, hoặc một nguy cơ tiên lượng rất cao.
” ĂN KHÓ NHỌC ”
Khi sự mất dinh dưỡng là quan trọng, sự dinh dưỡng nhân tạo, thường bằng sonde gastrique, có thể cần thiết ít nhất trong khi chờ đợi tái lập tình hình. Nếu sự mất dinh dưỡng ở mức độ vừa phải và nếu bệnh nhân tiếp tục ăn, tốt hơn bệnh nhân sẽ có một conseil diététique individualisé với một sự theo dõi đều đặn. ” Nguyên tắc, đó là làm giảm sự ăn uống nặng nhọc nhưng tối ưu hóa những cung cấp bằng cách chia nhỏ các bữa ăn, bằng cách giảm những phần ăn nhưng gia tăng những prise alimentaire. Mỗi miếng phải mang lại càng nhiều calorie và protéine càng tốt. Thí dụ, bằng cách thêm vào món nghiền (purée) một lòng đỏ trứng gà, fromage, beurre…Vui thích với những thức ăn mà ta thích, không hạn chế.”
” Về nôn, điều đó thay đổi từ người này đến người khác. Những vị thay đổi và mỗi người phải trải nghiệm điều mà người này thích hay không chịu được. Chúng tôi, chúng tôi thích ứng hay theo kèm các bệnh nhân.” Thật vậy những vị của thức ăn có thể rất bị biến đổi bởi những điều trị. Nếu vài sự ghê tởm thức ăn đôi khi vĩnh viễn, những nôn, rối loạn khứu giác và vị giác thường biến mất khi bệnh nhân thuyên giảm.
Một khi ung thư đã được điều trị, phải tránh tăng thể trọng và chứng béo phì, những yếu tố tái phát. Sự liên kết của một điều trị dinh dưỡng và một hoạt động vật lý thích ứng là cần thiết sau ung thư để tạo nhiều cơ và ít mỡ hơn. ” Những công trình nghiên cứu đầu tiên cho thấy những khác nhau quan trọng về mặt sống còn và tái phát. Nhưng lại nữa, sự theo dõi diététique không thỏa mãn, vì thiếu thời gian và phương tiện “, BS Raynard đã lấy làm tiếc như vậy.
(LE FIGARO 28/10/2019)

3. YẾU ỚT VÀ TAN CƠ LÀ 2 MỐI NGUY CỦA NGƯỜI GIÀ CẢ
Trái với một định kiến, những người già phải ăn nhiều hơn và tốt hơn. ” Phải có những bữa ăn phong phú, không những với cung cấp calorique và protéique đủ, mà còn một hoạt động tối thiểu, GS Yves Rolland, gériatre (gérontopole, Toulouse) đã nhấn mạnh như vậy. Một người già hoạt động, ở tại nhà mình, được nuôi dưỡng tốt và làm 2 hay 3 lần mỗi tuần 30 phút hoạt động vật lý thích ứng, dẻo dai, cuối cùng hầu như có thể duy trì được khối cơ của mình.
Mặc dầu, có nhiều mất dinh dưỡng và sarcopénie (tan cơ) hơn ở những người già. ” Ta càng già, ta càng mất cơ, thầy thuốc giải thích như vậy. Giữa 30 và 85 tuổi, ta mất 30% khối lượng cơ. Ảnh hưởng chức năng bắt đầu được biểu hiện khoảng năm 70 tuổi ở đàn ông, sau mãn kinh ở đàn bà.” Nhưng ” đó không phải bởi vì ta già mà ta mất dinh dưỡng, mất năng lực vận động hay suy giảm trên bình diện nhận thức. Chúng ta cũng thấy những người rất già vẫn khỏe mạnh bởi vì họ có những lối sống thích ứng”.
ĐỪNG QUÊN HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ
Sarcopénie là một trong những thành phần của tình trạng yếu ớt (fragilité), trạng thái tạm thời giữa sự tráng kiện và tình trạng phụ thuộc (dépendance). ” Một người già được gọi là yếu ớt (fragile) khi người này hội đủ 3 trong số 5 yếu tố : mất cân, yếu cơ, bước chậm hơn, mệt mãn tính và nhàn rổi không hoạt động (sédentarité). Một chế độ ăn uống giàu trái cây, rau xanh, giàu caroténoides và vitamine E cho phép phòng ngừa tình trạng yếu ớt “, Catherine Féart, chuyên gia dịch tễ học (Inserm U1219, Bordeaux) đã nói như vậy. Và bởi vì với tuổi già, các cơ, ít nhạy cảm hơn với những kích thích của những cung cấp protéine, tạo ít cơ mới hơn, nên những người già cần những cung cấp protéine tốt hơn : 1,2g/kilo/ngày so với khoảng 0,8 g đối với những người trưởng thành trẻ.
” Khi sarcopénie xuất hiện, vẫn còn có thể cải thiện các bệnh nhân dầu cho tuổi tác như thế nào “, GS Yves Rolland đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng không được quên hoạt động vật lý : ” Một cung cấp protéine đủ mà không hoạt động vật lý không gia tăng khối lượng cơ, do đó lực cơ.” Vì những vòng luẩn quẩn có thể xuất hiện : một hư khớp gối hạn chế sự cử động và tạo điều kiện cho sự không hoạt động (sédentarité), yếu tố chính của sự mất cơ, đến lượt lại làm giảm sự tạo thành những cơ mới và đẩy nhanh sự suy thoái chức năng. Một người già không bị bệnh nhưng nằm liệt đánh mất 1,5kg có trong 10 ngày, nhất là ở các chi dưới.
Thế mà lực cơ cho phép bưộc và tái cân bằng, như thế tránh những té ngã. Vậy hiệu quả nhất là phát hiện những dấu hiệu của tình trạng yếu ớt để can thiệp trên thượng nguồn. Nhưng khó biến đổi chế độ ăn uống hay hoạt động vật lý ở người rất già. Những bổ sung dinh dưỡng (compléments nutritionnels) có thể giúp trong trường hợp mất dinh dưỡng nặng. Trong tương lai, những điều trị nhằm kềm hãm sự tan cơ, như những anti-myostatique, có thể ra đời. Trong lúc chờ đợi, một chế độ ăn uống phong phú và cân bằng vẫn là một công cụ được lựa chọn. ” Đừng quên rằng, Catherine Féart nhấn mạnh, chế độ ăn uống địa trung hải đó không chỉ là dĩa ăn (assiette) mà cũng là những bữa ăn chia sẻ và sự nhiệt tình…”
(LE FIGARO 28/10/2019)

4. Ở BÀN ĂN, SỰ VUI THÍCH LUÔN LUÔN VANG LÊN HAI LẦN
Các nhà nghiên cứu Đức đã ghi hai đỉnh nhọn rất phân biệt của sự phóng thích dopamine : vào lúc ăn vào rồi khi đến trong dạ dày.Nhắm nháp một Milk-Shake ngon trong một máy chụp hình ảnh IRM, co là thí nghiệm ly kỳ mà những nhà nghiên cứu của viện Max Planck (Cologne) (Đức) đã thực hiện ở một tá những gourmand. Mục tiêu ? Quan sát một cách chính xác hoạt động não khi ta ăn, để hiểu rõ hơn vai trò của plaisir trong nhung hành vi ăn uống của chúng ta. ta biết rằng cảm giác này trực tiếp là do sự phóng thích của chất dẫn truyền thần kinh quan trọng nhất của circuit de la récompense, dopamine. Một cách điển hình, chất này được phóng thích và kích hoạt hệ não này khi một mục tiêu đạt được, hay khi một ham muốn nhục dục được thỏa mãn. Nhưng khi nào, làm sao và với những tác động nào lên cách ăn uống ? Đó là điều mà các nhà nghiên cứu đã làm ro bằng thí nghiệm trong công trình nghiên cứu được công bố bởi tạp chí Cell Metabolism. Họ đã xác lập rằng não “cám ơn” luôn luôn hai lần người ăn trong một bữa ăn.
MỘT VAI TRÒ TRONG NHỮNG HÀNH VI ĂN UỐNG XẤU
Thật vậy các nhà khoa học Đức đã ghi hai đỉnh nhọn rất phân biệt của sự phóng thích của dopamine nhờ những dữ kiện của IRM và một kỹ thuật phân tích PET (tomographie par émission de positrons) đặc biệt được phát triển để đo hoạt động chuyển hóa của não. Như thế là hai liều vui thú : liều thứ nhất, vào chính lúc thức ăn được đưa vào miệng. Liều thứ hai, “15 đến 20 phút sau, hoặc gần như thế khi thức ăn đến dạ dày”, Heiko Backes, người điều khiển những công trình này, đã xác nhận với chúng tôi như vậy. Khiến ngạc nhiên hơn, tác dụng của hai liều dopamine này được thấy trong những vùng khác nhau của não bộ.” Khi liều đầu tiên được phát ra trong những tế bào liên kết với perception sensorielle và với circuit de récompense, liều thứ hai xuất hiện trong những vùng liên kết với những chức năng nhận thức cao cấp (fonctions cognitives supérieures)”, Heiko Backes nói tiếp. Đỉnh nhọn đầu tiên là một đáp ứng với vị của thức ăn, kích hoạt một réseau orosensoriel (đối với vị giác) trong khi đỉnh nhọn thứ hai khiến ruột can thiệp, dopamine lên đến tận não.
Plaisir à double détente này có thể đóng một vai trò quan trọng trong những hành vi ăn uống xấu khả dĩ dẫn đến những vấn đề tăng thể trọng hay béo phì, theo những tác giả của công trình nghiên cứu. Họ đã bắt đầu đào sâu hướng nghiên cứu này bằng cách yêu cầu các cobaye của họ “đánh giá sự mong muốn chủ quan uống một milk-shake”, nhà nghiên cứu nói tiếp. Không ngạc nhiên, sự thèm muốn càng lớn, liều đầu tiên của dopamine càng quan trọng. Ở những người thèm ăn nhất, ” chúng tôi đã cho thấy rằng liều thứ hai bị chậm lại và yếu hơn”. Nói một cách khác, một sự thèm muốn lớn hơn sẽ ức chế sự sản xuất dopamine bởi ruột ” và tiềm năng tín hiệu no nê, dẫn đến ăn nhiều hơn cần thiết và do đó, tạo điều kiện cho trạng thái mập”, Heiko Backes đã kết luận như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2019)

5. 10 LỜI KHUYÊN CHỐNG UNG THƯ
1. Duy trì poids de forme
Mối liên hệ giữa béo phì và ung thư từ nay được xác lập rõ đối với khoảng 12 định vị của cơ thể (miệng, hầu, thanh quản, thực quản, tụy tạng, gan, đại-trực tràng, vú sau mãn kinh, tử cung, thận, buồng trứng)
2. Hoạt động về mặt vật lý
Hoạt động vật lý, không chỉ thể thao mà còn tất cả những hoạt động của đời sống hằng ngày (bước nhanh, hoạt động nội trợ, vélo, bơi lội…), là hữu ích trước một ung thư, nhưng cũng trong và ngay cả sau một ung thư
3. Ưu tiên một chế độ ăn uống đa dạng hơn
Làm phong phú các đĩa ăn với ngũ cốc hoàn toàn, rau khô, trái cây và rau xanh. Vì hàm lượng sợi, vitamine, các antioxydant và những tác dụng phối hợp của chúng.
4. Ăn ít thức ăn “công nghiệp” hơn
Tốt nhất là giảm sự tiêu thụ những thức ăn chế biến công nghiệp (aliments transformés industriels), tất cả quá giàu acides gras trans, những đường hấp thụ nhanh, muối.
5. Giảm sự tiêu thụ thịt
Trong sự phòng ngừa của ung thư đại trực tràng, tốt hơn là hạn chế sự tiêu thụ thịt dưới 500 g mỗi tuần, hoặc một tối đa 70 g mỗi ngày.
6. Hạn chế sự tiêu thụ nước đường (boissons sucrés)
Rất calorique, những nước uống này (sodas, nước ép trái cây…) có một giá trị dinh dưỡng thấp và không cho cùng cảm giác no nê như những thức ăn rắn. Do đó một sự lên cân nhanh và dễ dàng, dẫn đến chứng béo phì, yếu tố nguy cơ được xác nhận của ung thư.
7. Hạn chế rượu
Rượu, dầu loại gì, về mặt phòng ngừa ung thư không nên tiêu thụ. Những mốc của các khuyến nghị là : không hơn hai ly rượu mỗi ngày đối với phụ nữ, không hơn 3 ly đối với đàn ông.
8. Không compléments alimentaires
Thật vậy sự tiêu thụ chúng có thể có nhiều nguy cơ hơn là lợi ích và những quá liều có thể tỏ ra nguy hiểm, nhất là ở những người hút thuốc. Chú ý automédication.
9. Tạo điều kiện cho sự cho bú sữa mẹ
Những lợi ích của sự cho bú sửa mê lâu dài (hơn 6 tháng), ngoài những lợi ich đối với đứa trẻ, cũng được thể hiện ở người mẹ bằng cách làm giảm nguy cơ phát triển một ung thư vú.
10. Những khuyến nghị cũng cần theo sau một chẩn đoán ung thư
Những khuyến nghị trước cũng góp phần vào sự phòng ngừa những bệnh mãn tính khác (béo phì, đái đường, cao huyết áp…)
(SCIENCES ET AVENIR 2/2019)

6. DINH DƯỠNG VÀ UNG THƯ.
1. TRÁI CÂY VÀ RAU XANH
a. Phải tiêu thụ bao nhiêu sợi mỗi ngày ?
Các sợi là những bã của những thực vật mà cơ thể không thể tiêu hóa. Những khuyến nghị chủ trương tiêu thụ 25 đến 30 mỗi ngày. Mặc dầu chúng không cung cấp năng lượng cho cơ thể, nhưng các sợi gia tăng thể tích của phân, điều này gia tốc nhu động ruột. Bằng cách ngốn nước, các sợi mang lại nhanh hơn một cảm giác no nê cần thiết để hạn chế những nhấm nháp và sự lên cân. Các sợi cũng làm giảm nguy cơ ung thư đại tràng. Ta nhận thấy chúng với số lượng lớn trong trái cây và rau xanh, trong vỏ (cám) của céréales complètes (bột, gạo, semoule de blé…), những cây bộ đậu (légumineuses) (đậu lăng : lentilles ; đậu mỏ : pois chiches, những hạt đậu xanh khô…) và những cây cho dầu (oléagineux).
b. Có cần phải cho màu các dĩa ăn ?
Lục, vàng, cam hay đỏ…, những trái cây và rau xanh chứa những sắc tố cho chúng màu. Trong số những sắc tố chính, ta kể anthocyanes, từ màu hoa cà đến màu tía của họ polyphénols và những caroténoides (beta-carotène, lycopène, lutéine), đặc biệt hiện diện hơn trong những thực vật đỏ, cam hay vàng (quả bí ngô, ớt ngọt, cà rốt, cà chua…). Những sắc tố này bắt giữ những gốc tự do ; những hợp chất này, bằng oxydation, làm biến thái các tế bào (những bất thường tế bào, những biến đổi của các nhánh ADN…) và như thế ngăn ngừa sự phát triển của một khối u. Nhất là trường hợp của lycopène và những caroténoides, làm giảm nguy cơ bị ung thư lưỡi và vú. Song song, trái cây và rau xanh chứa những chất khác (glucosinolates, stérols thực vật, allicine…), một cách riêng rẻ hay cộng lực, cũng có thể đóng một vai trò bảo vệ. Trong khi chờ đợi để biết nhiều hơn, điều lý tưởng là thay đổi các họ thực vật để nhận một phổ rộng những phân tử có lợi.
c. Ăn bio có bảo vệ chống ung thư ?
Những công trình nghiên cứu nối tiếp nhau để cố mang lại bằng cớ. Vào năm 2014, một công trình nghiên cứu của Anh, được thực hiện trên 623.080 phụ nữ đã cho thấy một sự giảm 21% nguy cơ phát triển một lymphome non hodgkinien (một ung thư máu) ở những người tiêu thụ những sản phẩm bio. Mới gần đây, một công trình nghiên cứu của Pháp, được thực hiện trên gần 70.000 người (78% phụ nữ) đã cho thấy một sự giảm 25% nguy cơ ung thư ở những người tiêu thụ đều đặn. Sự liên kết này là quan trọng đối với những lymphome (-76%) và những ung thư vú ở những phụ nữ mãn kinh (-34%) nhưng không có một liên hệ nhân quả nào đã có thể được xác lập. Những biais là khó tránh vì những người ăn bio thường chú ý hơn vệ sinh đời sống của họ, do đó sức khỏe của họ nói chung. Vai trò bảo vệ của bio có thể được giải thích bởi dung lượng các thuốc trừ sâu của nó thấp hơn. Nhưng giả thuyết này cần phải được xác nhận.
d. Compléments alimntaires có thể thay thế trái cây và rau xanh ?
Sự tiêu thụ những complément alimentaire có thể có nhiều nguy cơ hơn là lợi ích, và những quá liều có thể tỏ ra nguy hiểm. Thí dụ, những vitamine A và E không được loại bỏ trong nước tiểu và có thể trở nên độc đối với gan và thận. Tệ hại hơn, với liều mạnh, các antioxydant có tác dụng ngược lại với tác dụng được tìm kiếm : một tác dụng pro-oxydant ngăn cản sự chết của những tế bào ung thư (apoptose). Một sự cho bổ sung beta-carotène, tiền chất của vitamine A, với những liều mạnh (30 mg/ngày) được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ bị những ung thư tiêu hóa và phổi ở những người tiếp xúc với thuốc lá hay amiante. Những kết quả này đã được xác nhận năm 2008 bởi một métaanalyse và những công trình khác đã kết luận một nguy cơ tử vong cao hơn ở những người sử dụng đều đặn những complément en betacarotène và vitamine E (với những liều vượt quá những cung cấp dinh dưỡng được khuyến nghị hoặc 10 mg đối với vitamine E và 750 mcg đối với vitamine A mỗi ngày). Kết luận : không được automédication và còn ít supplément hơn trong trường hợp có những yếu tố nguy cơ ung thư.
2. THỊT
a. Thịt đỏ, một lần mỗi ngày, có quá nhiều không ?
Người ta khuyến nghị hạn chế tiêu thụ thịt đỏ dưới 500 g mỗi tuần hay một khẩu phần 70 g mỗi ngày. CIRC (Centre international de recherche sur le cancer) thật vậy đã xếp loại nó là “cancérogène probable”, chủ yếu đối với ung thư đại trực tràng vào năm 2015. Những nguy cơ này có thể mở rộng cho những khối u khác. Bằng cớ với một công trình nghiên cứu của Pháp và những dữ kiện của cohorte SU.VI.MAX : những người tiêu thụ trung bình 100 g mỗi ngày thịt đỏ thấy nguy cơ phát triển một ung thư gia tăng 30% so với những người ăn 40 g mỗi ngày. Những cơ chế vẫn còn phải được định rõ nhưng thủ phạm có thể do fer hématique được chứa trong thịt, chất này kích thích sự tạo thành những hợp chất N-nitrosés gây ung thư. Như thế, để bổ sung những cung cấp protéine động vật, nguồn của kẽm và vitamine B12, cần thiết cho sự tạo thành những hồng cầu, khuyên nên luân phiên với thịt trắng (gà, dinde, thỏ…), ít sắt hơn, với cá và trứng.
b. Tại sao phải nói không với saucisson ?Sự tiêu thụ thịt được chế biến (saucisse, jambon sec, bacon…) bởi muối (salage, salaison), sự lên men (fermentation) hay fumage, được xếp loại “gây ung thư cho người” bởi Circ từ năm 2015. Mỗi phần bổ sung hằng ngày 50 g charcuterie gia tăng 18% nguy cơ ung thư đại trực tràng. Sự hiện diện của nitrite, được sử dụng để bảo quản, có thể là nguyên nhân. Những chất phụ thêm (additif) này phản ứng trong dạ dày với những sản phẩm thoái biến của acide aminé để tạo những hợp chất N-nitrosés (nitrosamines hay nitrosamides) tiềm năng gây ung thư. PNNS (Programme national nutrition santé) khuyến nghị không được vượt quá 25 g mỗi ngày charcuterie, hoặc tương đương 2 tranche de salami hay 4 đến 5 tranche de saucisson khô hay một portion nhỏ pate de campagne hay rillette de porc
c. Tại sao cách nấu nướng cũng quan trọng như thế ?
Nấu ở nhiệt độ cao (400 độ C) (grill, barbecue) phóng thích những chất hóa học gây ung thư : những amine hétérocycle (AH) được sinh ra dưới tác dụng của nhiệt, bởi những hợp chất hiện diện tự nhiên trong thịt (créatine, một chất được chứa trong cơ, acides aminés…). Và những hydrocarbures aromatiques polycycliques, được tạo thành do sự phân hủy của các mỡ động vật rơi trên những ngọn lửa của barbecue. Những độc chất bay hơi này bay cao lên với khói rồi đọng trên thức ăn. Để hạn chế sự nuốt những độc chất này vào, hãy chọn cuisson douce (vapeur, nhiệt độ thấp…), hay cho ướp muối thịt (gia vị, tỏi, chanh…) trước khi nấu ở barbecue. Ta có thể sử dụng một máy điện với thu hồi những exsudat trong một lèchefrite đầy nước, hãy chọn một cuisson à la broche, theo cách thẳng đứng.
d. Cá có tốt hơn không ?
Các chuyên gia của Quỹ nghiên cứu ung thư quốc tế (WCRF : World Cancer Research Fund) gợi ý một mối liên hệ giữa sự tiêu thụ cá và một sự giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng và của gan. Tác dụng bảo vệ này, vẫn còn chưa được xác nhận ; có thể liên quan với sự hiện diện của vitamine D và sélénium cũng như của những acide gras polyinsatutés (oméga 3), như acide eicosapentaénoique (EPA) và acide docosahexaénoique (DHA). Những chất này có thể điều biến sự sản xuất eicosanoides inflammatoires (những dẫn xuất oméga 6), giảm bớt stress oxydatif và làm giảm sự tăng trưởng của những tế bào ung thư. Cá phải được tiêu thụ ít nhất hai lần mỗi tuần, xen kẽ với những cá gầy (cabillaud, julienne, merlan, lieu noir) và những cá dung lượng cao EPA và DHA (sardines, maquereau, hareng,…). Tốt nhất là ưu tiên những sản phẩm phát xuất từ sự câu cá để gìn giữ biodiversité và tránh những sản phẩm có thể bị ô nhiễm bởi dioxine và PCB (anguille, silure, carpe) hay bởi méthyl-mercure (lotte, bar, raie, thon, dorade, sabre)
3. ALCOOLa. Tại sao rượu sinh ung thư ?
Từ hơn 30 năm rượu được xếp loại như tác nhân gây ung thư nhóm 1 (“chắc chắn”) đối với người bởi Circ. Một khi đuoc uống vào, éthanol hiện diện trong những nước uống có pha rượu, được làm thoái biến bởi các tế bào gan và được biến hóa thành acétaldéhyde roi thành acétate. Thế mà những công trình của nhóm nghiên cứu của nhà sinh học Ketan Patel của đại học Cambridge, đã cho thấy rằng những chất này có thể làm tổn hại ADN tế bào. Nhưng những cơ chế khác như sự sản xuất những gốc tự do (radicaux libres), rất phản ứng, chịu trách nhiệm những phản ứng viêm (tiềm năng gây ung thư) và những biến đổi của những nồng độ kích thích tố sinh dục : sự gia tăng của nồng độ oestrogène như thế trở nên một yếu tố nguy cơ của ung thư vú. Rất mới đây, một công trình nghiên cứu được thực hiện ở chuột, được công bố trong tạp chí Nature bởi cùng équipe của laboratoire de biologie moléculaire, vừa cho thấy rằng rượu cũng tác động lên những tế bào gốc của máu bằng cách biến đổi ADN của chúng và như thế ngăn cản sự sửa chữa của nó.
b. Tất cả rượu đều ngang nhau ?
Dầu cho loại cồn được tiêu thụ trong một ly “chuẩn” (verre standard) là gì, dầu đó là một demi de bière (25cl), một ly whisky (3cl), một cốc hình cầu rượu vang hay một cốc sâm banh (10cl), tất cả đều chứa cùng lượng cồn thuần chất, hoặc khoảng 10 g (một đơn vị cồn). Vậy nguy cơ hoàn toàn như nhau. Điều chỉ dẫn về độ (hay bách phân) mà ta tìm thấy trên các chai tương ứng với lượng còn thuần chất được chứa trong 100 ml. Như thế, trong 100 ml whisky, một boisson chỉ 40 độ, ta tìm thấy 40 ml cồn thuần chất. Độ của một boisson càng cao, boisson này càng đậm đặc cồn. Những người theo chủ nghĩa thuần túy có thể tính liều lượng cồn bằng cách nhân thể tích (centilitre) của ly với độ cồn, rồi nhân 8 tổng số này và chia 1000. Như thế một chai bia 10 độ C (50 cl) biểu hiện 4 đơn vị cồn, hoặc 4 ly chuẩn. Nhưng chú ý, những nhãn hiệu đôi khi dễ đánh lừa ! Một công trình nghiên cứu của đại học Californie (Hoa Kỳ), được thực hiện năm 2015 trên 127.000 chai được sản xuất khắp thế giới, gợi ý rằng độ cồn được chứa trong rượu vang thường trên độ cồn được chỉ trên nhãn : trung bình + 0,42% đối với 60% những chai được phân tích, với một décalage đôi khi quan trọng (+1,5%). Ngoài ra những verre “maison” nói chung được phục vụ hào phóng hơn những ly “chuẩn”.
c. Có thật là ta có thể uống một ly rượu mỗi ngày ?
Dầu những người tin vào khả năng bảo vệ của ly rượu mỗi ngày thích hay không, phần lớn những công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh : sự tiêu thụ rượu, ngay cả vừa phải, được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị ung thư. Tuy nhiên cuộc tranh luận được duy trì đều đặn bởi sự công bố những công trình khác, khoan dung hơn. Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu rất rộng lớn mới đây, được công bố trong tạp chí The Lancet, enfonce le clou. Được tiến hành trong 195 nước và được hỗ trợ bởi Foundation Bill & Melinda Gates, nó đã cho phép các nhà dịch tễ học tính toán một cách chính xác tác động của một sự tiêu thụ hàng ngày : 918 người trên 100.000 người uống chỉ một ly rượu mỗi ngày sẽ bị một ung thư mỗi năm so với 914 ở những người không uống. Điều đó có thể có vẻ ít ỏi, nhưng con số lên đến 977 người khi uống 2 ly mỗi ngày, và lên đến 1252 khi uống 5 ly mỗi ngày. Ở Pháp, vào năm 2017, những khuyến nghị không hơn hai ly mỗi ngày đã được xét lại để hạ xuống. Nhắc lại, mỗi năm 15.000 người chết vì hậu quả của một ung thư liên quan với rượu, mà những định vị thay đổi (miệng, hầu, thanh quản, thực quản, gan, vú, đại tràng, tụy tạng).
4. HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ
a. Tại sao phải cử động nhiều hơn
Nếu hoạt động vật lý không chữa lành ung thư, nó có thể góp phần rất nhiều, và phòng ngừa những tái phát theo rất nhiều công trình nghiên cứu. Ta ước tính rằng, trung bình, sự giảm nguy cơ là 20%, và giảm nguy cơ tái phát 40%. Dĩ nhiên với điều kiện thực hành đều đặn sau chẩn đoán. Thế mà, theo một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, chỉ 3% dân chúng hay biết về những lợi ích này. Các nhà nghiên cứu cũng đã xác lập rằng hoạt động vật lý càng quan trọng, sự bảo vệ càng quan trọng. Hoạt động vật lý bổ sung 30 phút mỗi ngày giảm thêm 12% ung thư đại tràng và, với thêm một giờ mỗi tuần, giảm 6% nguy cơ bị ung thư vú đối với một phụ nữ mãn kinh. Những cách tác dụng là đối tượng của những nghiên cứu. Giảm khối lượng mỡ (masse grasse) và viêm mãn tính có liên quan. Cũng như sự giảm của nồng độ của vài hormone (oestrogène, insuline, IGF-1, có khuynh hướng làm dễ sự tăng sinh tế bào). Trong ung thư đại tràng, sự đẩy nhanh nhu động ruột (transit intestinal), gây nên bởi cố gắng vật lý cho phép làm giảm thời gian tiếp xúc của niêm mạc tiêu hóa với những chất gây ung thư nguồn gốc thức ăn. Đối với ung thư phổi, chính sự gia tăng chức năng hô hấp có thể làm giảm nồng độ của những chất gây ung thư phát xuất từ thuốc lá trong niêm mạc của các phế quản.
b. Những cơ quan liên hệ là những cơ quan nào ?
” Vận động” làm giảm nguy cơ phát triển ung thư, điều đó đã được chứng minh. Đó là những ung thư trong số thường gặp nhất (vú, đại tràng, phổi, tử cung…). Một cách ít chắc chắn hơn, những cơ quan khác (tiền liệt tuyến, buồng trứng, tuyến giáp, tụy tạng) cũng liên hệ. Nhưng nếu hoạt động vật lý, nghĩa là thể thao và tất cả những hoạt động vật lý của đời sống hằng ngày (làm vườn, vélo, những hoạt động nội trợ..) là hữu ích, nó cũng vậy trong (phòng ngừa thứ phát) và ngay cả sau một ung thư để tránh tái phát (phòng ngừa tam cấp). Trong trường hợp ung thư phổi, lợi ích của hoạt động vật lý liên quan ngay cả giai đoạn tien triển của bệnh, theo một công trình mới nhất, được trình bày vào tháng 10 năm 2018.
c. Bắt đầu năm 50 tuổi, phải chăng là quá muộn ?
Không một chút nào. Bằng cớ bởi một công trình nghiên cứu rộng lớn được thực hiện ở 60.000 phụ nữ mãn kinh, được theo dõi trong 10 năm. Nó đã cho thấy rằng, bước 4 giờ mỗi tuần, hoặc khoảng 30 phút mỗi ngày, làm giảm nguy cơ bị ung thư vú. Sự giảm này gia tăng 10% ở những phụ nữ đã bắt đầu thể thao 4 năm trước khi mãn kinh. Với tuổi già, hoạt động vật lý cũng cho những lợi ích đối với hệ tim mạch (cải thiện chức năng tim, endurance tốt hơn…), vận động (gia tăng khối và lực cơ, duy trì mật độ khoáng xương, giảm té ngã, sự cân bằng tốt hơn), và neurocognitif (tính dẻo não bộ tốt hơn, giảm sa sút trí tuệ, lo âu và trầm cảm).
d. Tại sao ít nhất 30 phút mỗi ngày ?
Phần lớn những công trình nghiên cứu đã xác nhận lợi ích của hoạt động vật lý mức độ vừa phải ít nhất 2 giờ rưỡi mỗi tuần. Điều này được thể hiện bởi khuyến nghị ít nhất 30 phút mỗi ngày, 5 lần mỗi tuần. Thời gian này có thể được phân ra trong ngày nếu cần (2 x15 phút, 3 x10 phút…). Điều quan trọng là theo một cách đều đặn. Và nếu có thể phối hợp nhiều hoạt động được gọi là hiếu khí, những hoạt động tiêu thụ oxygène (jogging, vélo, marche nordique…) và những hoạt động làm duỗi cơ (gymnastique, gainage, stretching, yoga…) Trong trường hợp ung thư, dĩ nhiên hoạt động vật lý có thể được thích nghi. Sau cùng, mặc dầu điều đó có thể có vẻ nghịch lý, phương thức tốt nhất chống mệt… là cử động !
5. POIDS DE FORME
a. Tại sao vẫn phải mảnh khảnh ?
Sự tăng thể trọng và chứng béo phì dấn vào một nguy cơ gia tăng bị ung thư : dại trực-tràng, thực quản, tụy tạng, gan, nội mạc tử cung, vú (sau mãn kinh) và thận. Sự gia tăng mỡ trong thân thể gây một sự viêm mãn tính của cơ thể mà những cơ chế sinh học tất cả vẫn còn chưa được nhận diện rõ. Một trong những lý thuyết được gợi lên là sự sản xuất gia tăng của một protéine được gọi là cytokine pro-inflammatoire (TNF alpha) và sự biến đổi của những profil kích thích tố (sự gia tăng của nồng độ insuline, oestrogène…). Toàn bộ khả dĩ làm dễ sự tăng trưởng của những tế bào ung thư và ức chế sự chết được chương trình hóa của những tế bào (apoptose). Trên thực hành, điều đó đòi hỏi để ý kiểm soát IMC nhưng nhất là vòng thắt lưng (tour de taille) của mình. Thật vậy, vòng thắt lưng là một cái chỉ bảo tốt của dự trữ mỡ dưới da và trong bụng. Để được như vậy, nên thích ứng khẩu phần thức ăn với những nhu cầu năng lượng của mình (trung bình 2100 kcal mỗi ngày đối với một người đàn bà, 2600 đối với một người đàn ông, theo Anses (Agence nationale de sécurité sanitaire de l’alimentation)
b. Tại sao hạn chế sự tiêu thụ những sản phẩm công nghiệp ?
Vì ba lý do sinh tử. Lý do thứ nhất là những sản phẩm chế biến gia tăng nguy cơ tăng thể trọng và béo phì 26% và do đó cũng gia tăng nguy cơ ung thư, như một công trình nghiên cứu mới đây của Pháp đã chứng tỏ điều đó. Lý do thứ hai là để mang lại vị giác và độ đặc (consistance) với phí tổn thấp hơn, các nhà công nghiệp thêm vào những acide béo “trans”, điều này gia tăng nguy cơ ung thư và những bệnh lý tim. Sau cùng, họ thêm vào đó những chất phụ gia (additifs), mà một vài có tiềm năng gây ung thư (buthylhydroxyanisol, nitrites,…). Không quên muối và đường (sirop de glucose-fructose, dextrose,…), đôi khi được che dấu kỹ và với lượng quá quan trọng. Thí dụ :100 g petits pois và cà rốt đóng hộp mang lại 5,8 g đường và một portion 350 g lasagnes à bolognaise, 10,8 g, trong khi đó OMS chủ trương không đuoc vượt quá 25 g đường mỗi ngày. Sau cùng, những sản phẩm này, không kể những sản phẩm phát xuất từ “malbouffe” (hot dogs, hamburgers/frites, soda, snacking) làm tăng nhanh valeur colorique cửa khẩu phần thức ăn, nhưng không mang lại những chất dinh dưỡng có lợi (các chất khoang, vitamine, sợi…). Giải pháp ? Tiêu thụ chúng một cách dè sẻn, đọc các nhãn hiệu, tin vào logo Nutri-Score, một code giúp thấy rõ hơn trong thành phần dinh dưỡng của các sản phẩm.
c. Phải chăng có những loại mỡ tốt (bonnes graisses)
Mặc dầu valeur calorique cao, các lipide là thiết yếu cho cơ thể để fluidifier các màng tế bào, tạo một dự trữ năng lượng và đảm bảo sự vận hành chức năng của não và sự sản xuất những kích thích tố sinh dục. Vậy không có vấn đề loại bỏ chúng khỏi dĩa ăn của mình, đúng hơn là maitriser sự cung cấp. Như thế, những mô bảo hòa nguồn gốc động vật phải được hạn chế : không hơn 15 g beurre hay một phần (30g) fromage mỗi ngày. Trái lại, những loại mỡ khác phải được tiêu thụ mỗi ngày như oméga 3 (acide alphalinolénique, ALA), những acide gras polyinsaturés “thiết yếu” mà cơ thể không thể chế tạo. Hiện diện trong dầu thực vật (colza : cây cải dầu ; cameline : cây cải cúc dầu ; noix : quả hồ đào ; lin : cây lanh), avocat (quả lê tàu), những oliagineux (cây cho dầu), mache (rau mát) và những sản phẩm biển, chúng làm dễ fluidité của máu, tính đàn hồi của các huyết quản và có thể ức chế sự tăng sinh của khối u. Phải liên kết nó với dầu olive, cột trụ của chế độ địa trung hải và nguồn acide oléique (oméga 9), và trong một chừng mực ít hơn với những dầu olive của tournesol arachide và pépins de raisin, vì chúng giàu oméga 6 (acide linoléique).
(SCIENCES ET AVENIR 2/2019)

7. ĐƯỜNG LÀ TỐT, TRỪ PHI TA LẠM DỤNG NÓ
Một điều chắc chắn : nhiều nhà khoa học lo sợ khi thấy đường được xem như một “petit plaisir” không hậu quả, trong khi những dữ kiện về độc tính của nó được tích lũy ! Trong một báo cáo tháng năm 2015, OMS nhắc lại rằng trên thế giới chứng béo phì đã tăng gấp đôi trong 35 năm, từ nay xảy ra ở 11% đàn ông và 15% đàn bà trưởng thành. Trong cùng thời kỳ, bệnh đái đường gần như tăng gấp đôi : nó liên quan 8,5% của population mondiale, trong đó 3,5 triệu người Pháp. Và những bệnh tim mạch cũng gia tăng với một tốc độ gây sững sốt trong những nước có lợi tức thấp và trung bình. Sau cùng, những rối loạn gan từng nơi có tỷ lệ lưu hành xấp xỉ 30%. Bấy nhiêu tai ương liên kết với chế độ ăn uống và, với đường được thêm vào thức ăn và thức uống, nhất là sodas.
Thế thì một ngày nào đó ta sẽ thấy những gói kẹo cảnh giác rằng ” sucrer tue ” ? Dầu sao ý tưởng cho rằng chế độ ăn uống của chúng ta phải chứa đựng ít đường thêm vào (sucres ajoutés) không phải bàn cãi. Ý kiến cho các nhà công nghiệp…Ngược lại, một vấn đề gây tranh cãi : đường có phải là một thức ăn calorique như những thức ăn khác hay là một sản phẩm độc nội tại, có khả năng làm hại sức khỏe ngay của những người không thặng dư calorie ? Ở đây, hai lý thuyết đối đầu nhau. Quan niệm đa số, được gọi là “caloricentrique”, xác nhận rằng những vấn đề sức khỏe hiện nay phát xuất từ sự kiện là chúng ta tích trữ nhiều calorie hơn là chúng ta tiêu xài. Do đó, đường chỉ là thủ phạm với tư cách là nguồn calories. Thế mà có một phương thuốc : thể dục. Chống lại sự thặng dư đường, chỉ cần vận động nhiều hơn nữa !
Cuộc tấn công quan trọng đầu tiên chống lại théorie caloricentrique đã xảy ra cách nay 6 năm. Trong một bài báo được công bố trong Nature, thầy thuốc nhi khoa và nội tiết Robert Lustig đã dành một quy chế đặc biệt cho đường thêm vào (sucre ajouté) và kêu gọi đặt quy chế cho nó cũng nghiêm khắc như đối với rượu hay thuốc lá.” Trên quan điểm thân thể, một calorie không phải là một calorie, Robert Lustig đã lý luận như vậy. Thí dụ, những calorie hiện diện trong các quả hạnh (amande) bị giam hãm trong nhiều sợi đến độ có thể phải đầu tư 20% năng lượng mà chúng chứa để phóng thích chúng. Nhưng có những thức ăn được hấp thụ gần như tức thời và không gắng sức, như đường tinh chế (sucres raffinés) và những đường khác được hấp thụ chậm hơn nhiều.”
CON NGƯỜI KHÔNG THÍCH ỨNG
Vấn đề lớn, đối với những nhà nghiên cứu này, đó là sự rối loạn của chuyển hóa kích thích tố, đặc biệt của insuline.” Ăn đường làm tăng cao sự sản xuất insuline, tác động như một phân bón đối với những adipocyte, những tế bào của mô mỡ, David Ludwig, giáo sư ở Havard, nhấn mạnh rằng mức insuline của những người Mỹ đã được nhân lên ba trong ba thập niên qua. Đồng thời xuất hiện một insulinorésistance, mà một trong những hậu quả là một cảm giác đói thường trực.”
Nhưng làm sao một thức ăn tầm thường như đường lại có thể độc ? Bởi vì, suốt trong 99% của sự tiến hóa của con người, đường chỉ có sẵn trong các trái cây. Vậy lượng đường mà cơ thể “học” quản lý rất thấp. Thế mà từ một nửa thế kỷ nay, công nghiệp sản xuất những khối lượng khổng lồ.
Một sự tranh luận khác lần này liên quan đến sự nghiện (addiction). Bởi vì theo một công trình nghiên cứu được thực hiện trên chuột, đường gây nghiện hơn …cocaine ! Tuy vậy sự đưa đường vào trong danh sách các chất gây nghiện dường như còn sớm. Tuy nhiên OMS khuyến nghị giảm cung cấp sucres ajoutés xuống dưới 50 g mỗi ngày. Một ngưỡng mà ở Pháp hơn một nửa trẻ em vượt quá.
(SCIENCE ET VIE 6, 7, 8/2018)

8/ “MỠ TỐT” LÀM CHO THÔNG MINH HƠN ?
Vâng, bởi vì hơn một nửa trọng lượng khô của não đuoc cấu tạo bởi mỡ. Ta tìm thấy chúng không những trong các màng tế bào, các neurone, trong myéline (bao myéline gia tốc sự dẫn truyền của luồng thần kinh), mà còn trong những tế bào nuôi (cellules gliales) có nhiệm vụ chuyển các chất dinh dưỡng đến các neurone. Điều đó muốn nói rằng một chế độ ăn uống thiếu mỡ có hại cho hiệu năng nhận thức (performance cognitive) của chúng ta. Các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến oméga-3, những acide gras polyinsaturés mà cơ thể của chúng ta không thể chế tạo và do đó phải lấy trong thức ăn.
Một công trình nghiên cứu của Đại học Bethesda (Hoa Kỳ) đã cho thấy rằng những trẻ 8 tuổi có nguy cơ hơn bị một thương số thông minh (QI) thấp nếu sự tiêu thụ oméga-3 của người mẹ trong khi mang thai không đủ. Để thêm mỡ cho các neuron, nhảy xổ vào những complément alimentaire là điều vô ích. Hai oméga-3 có lợi nhất cho não bộ hiện diện trong những thức ăn thông thường : acide alpha-linolénique trong huile de colza, de noix và de lin, và acide cervonique trong những cá mỡ và những fruits de mer.
(SCIENCE ET VIE 1,2,3/2017)

9. THỂ THAO CÓ PHÁT TRIỂN NÃO ?
Hoạt động vật lý không những có lợi cho các cơ, mà còn cho trí nhớ. Hiện tượng này được biết rõ ở chuột từ những năm 1990. Các động vật gặm nhấm mà ta bắt hoạt động vật lý thấy hippocampe, vùng của não liên kết với sự ghi nhớ, bị biến đổi sâu sắc : nhịp chế tạo các tế bào thần kinh (neurogenèse) được nhân lên gấp hai, các dendrite (đầu của các neurone) dài ra và phân nhánh, angiogenèse, nghĩa là sự tạo các huyết quản mang năng lượng và oxygène đến các neurone, cũng được gia tăng, tỷ lệ BDNF (những yếu tố tăng trưởng của não) gia tăng. Tóm tắt, thông tin lưu thông tốt hơn và những ký ức được mã hóa tốt hơn. Kết quả, các động vật gặm nhấm có được những điểm số (score) tốt hơn lúc làm trắc nghiệm về sự chú ý và ghi nhớ (tests d’attention et de mémorisation). Để trắc nghiệm giả thuyết này ở người, các nhà nghiên cứu của University College de Londes đã theo dõi gần 2000 người trưởng thành 45 tuổi và cho thực hiện ở những người này những test de mémoire verbale và họ đã đánh giá mức hoạt động vật lý vào khoảng năm 35 tuổi. Kết quả : những người 30 tuổi thể thao nhất có, 10 năm sau, một trí nhớ tốt hơn những người khác. Hãy cử động, hãy ghi nhớ (Bouger, mémorisez !)
(SCIENCE ET VIE 1, 2, 3/2017)

10. KHÔNG, CHẾ ĐỘ ĂN CHAY KHÔNG XẤU CHO TIM
Tháng 9 năm vừa qua, British Medical Journal công bố một công trình nghiên cứu so sánh tình trạng sức khỏe của những người ăn chay với tình trạng sức khỏe của những người ăn thịt. Công trình nghiên cứu có một tiếng vang mạnh trên truyền thống và, trong khi những tác giả cho thấy một surrisque tai biến mạch máu não ở những người ăn chay, vài tác giả đã kết luận rằng chế độ ăn chay là xấu cho sức khỏe. Thật vậy, đó là quên một phần của những kết luận của những nhà nghiên cứu ! Mặc dầu, từ sự theo dõi của hơn 48.000 bệnh nhân người Anh trong 18 năm, thật vậy họ đã kết luận rằng những người ăn chay có một nguy cơ bị tai biến mạch máu não cao hơn 20%. Nhưng họ cũng đã cho thấy rằng những người ăn chay này có nguy cơ bị bệnh động mạch vành ít hơn 20%. Mặc dầu công trình nghiên cứu không cho phép giải thích nghịch lý này, các nhà nghiên cứu đưa ra vài giả thuyết. Trước hết giả thuyết cholestérol : một nồng độ tăng cao cholestérol ở những người ăn thịt giải thích surrisque tim mạch, nhưng ngược lại quá ít cholestérol có thể có hại cho não bộ. Những tai biến mạch máu não nhiều hơn ở những người ăn chay cũng có thể được giải thích bởi một sự thiếu hụt những chất dinh dưỡng, nhất là vitamine B12. Nếu lý thuyết nầy thắng thế, một sự cho bổ sung vitamine B12 (được khuyên cho ở những người ăn chay), có thể giảm nguy cơ tai biến mạch máu não và làm chế độ an chay thành bạn đồng minh của những động mạch của chúng ta.
(SCIENCE ET VIE 11/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(8/1/2020)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s