Thời sự y học số 526 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CUỘC SỐNG SAU MỘT UNG THƯ, KHÔNG ĐƠN GIẢN LẮM.
Một khi những điều trị chấm dứt, vài bệnh nhân cảm thấy bị bỏ rơi một cách hơi nhanh chóng bởi équipes médicales.(Après un cancer, certaines patientes choisissent de se faire tatouer, une façon de marquer la victoire contre la maladie)PATIENTS. ” Trong khoa của chúng tôi, giai đoạn sau ung thư (après-cancer) được xem xét ngay khi chẩn đoán được xác lập đối với tất cả các bệnh nhân, mà đối với họ có một dự kiến chữa lành “, GS François Goldwasser, trưởng khoa ung thư học của bệnh viện Cochin, Paris, đã giải thích như vậy. ” Như thế họ có thể dự kiến sau 4 đến 6 tháng khó khăn bắt đầu.”
Tuy nhiên chiến lược mà tính hiếu quả được xây dựng theo tư liệu (đồng thời trên chính điều trị, trên chất lượng sống của bệnh nhân trong và sau điều trị, cũng như trên nguy cơ tái phát) vẫn là một ngoại lệ ở Pháp, mặc dầu những lời thề nguyền không thể thực hiện được của plan cancer mới đây, loan báo sự thiết đặt chương trình cá thể hoá sau ung thư (PPAC : programme personalisé de l’après-cancer). ” Sự xác định và phổ biến của chương trình này đã bị chậm trễ và mặc dầu tham vọng của plan cancer 2014-2019, chúng đã thật sự chưa cho kết quả cho đến nay “, Observatoire societal du cancer đã nhận xét như vậy, trong một báo cáo tuần qua bởi Inca.
Năm vừa qua cơ quan này đã vạch rõ cảm giác bị bỏ rơi mà nhiều bệnh nhân còn cảm thấy vào cuối những điều trị. ” Họ có thể cảm thấy bị ruồng bỏ, bị tống khu bởi một hệ thống đáng lẽ phải mang lại cho họ sự tiếp xúc và hỗ trợ mà họ cần “, Sylvie Dolbeault, trưởng pole psycho-oncologie et social của Viện Curie đã nhấn mạnh như vậy. ” Sự thay đổi giai đoạn là rất to lớn và phải tìm những cho dua mới cho công việc còn phải được thực hiện.” Những giai đoạn sau điều trị thường được gợi ra một cách nhanh chóng vào buổi điều trị cuối cùng, ngay trước khi trở về thành phố. Những hiệp hội bệnh nhân, hoạt động ở Pháp, có thể mang lại một hỗ trợ cần thiết cho giai đoạn này.
TÌNH TRẠNG SẴN SÀNG CỦA ÉQUIPE MÉDICALE
Đối với vài loai ung thư, đặc biệt ung thư vú phụ thuộc kích thích tố (hormono-dépendant) hay ung thư tiền liệt tuyến, những điều trị sẽ được áp dụng lâu dài, sau những điều trị ban đầu, đơn độc hay phối hợp ngoại khoa, hóa trị và xạ trị. Trong phần lớn những trường hợp, khi đó một hệ thống ít nhiều hiệu quả cho phép đảm bảo một sự liên tục giữa thành phố và bệnh viện.
Đối với những ung thư khác, tình huống tùy thuộc sự nhiệt tình và sự sẵn sàng cửa của équipe médicale : ít chuyên gia chấp nhận trả lời vài câu hỏi cho bài bao này về giai đoạn sau điều trị (après-traitement), trong khi đó họ tự nguyện hơn khi ta gợi lên những điều trị, ” bất hạnh thay hôm nay có một sự phát triển quá mức của hướng thuốc trong điều trị ung thư “, GS Goldwasser lấy làm tiếc như vậy. Thí dụ : mặc dầu tan cơ (fonte musculaire) được liên kết với một tiên lượng xấu và một đời sống có chất lượng sống xấu trong tương lai đối với những bệnh nhân, nhưng nó chỉ hiếm khi được điều trị bởi vì không có sẵn một loại thuốc nào và bởi vì các thầy thuốc chuyên ung thư không được dào tạo để kê đơn kinésithérapie, mặc dầu thường đủ để loại bỏ nó.
Tổ chức được thiết đạt từ hơn 10 năm nay trong khoa của GS Goldwasser dường như đáp ứng đúng toàn bộ những mục tiêu của các plan cancer khác nhau Trước mọi điều trị, các bệnh nhân được tiếp đón trong hopital de jour và nhận những thăm khám kế tiếp nhau của các chuyên gia : psychologue, diététicienne, pharmacienne, thầy thuốc phụ trách liên lạc thành phố/bệnh viện và, tùy theo lúc tuổi của họ, gériatre, diabétologue hay cardiologue. Họ cho những lời khuyên tức thời và cắm ý tưởng rằng bệnh nhân sẽ gặp lại về sau trông chặng đường điều trị của họ. ” Nhất là những lần thăm khám này dẫn đến một buổi họp nhất trí nhiều chuyên khoa (réunion de concertation pluridisciplinaire) về những nhu cầu và những nguy cơ của mỗi bệnh nhân”, GS Goldwasser đã nhấn mạnh như vậy. ” Rất là thỏa mãn đối với mọi équipe mà những quan sát dẫn đến những đo lường thật sự cá thể hóa trên suốt chặng đường của bệnh nhân, điều này cũng cho phép tránh những thăm khám ở khoa cấp cứu và những nhập viện không được lên chương trình.”
(LE FIGARO 25/11/2019)

2/ VÚ, NGƯỜI HỌC TRÒ MODÈLE CHO MỘT SUIVI THÀNH CÔNG…TRÊN LÝ THUYẾT
Hơn 70% những ung thư vú nhạy cảm với kích thích tố (hormono-sensible), nghĩa là vài kích thích tố phụ nữ làm dễ sự tăng trưởng của chúng.Thường nhất, sự điều trị các ung thư vú cần dùng một thuốc phong bế tác dụng của những kích thích tố này lên những tế bào ung thư, cho đến 10 năm sau chẩn đoán ban đầu. Đối với những bệnh nhân này, ta biết ngay lúc đầu điều trị rằng những điều trị này sẽ được theo đuổi sau những can thiệp cổ điển hơn : ngoại khoa và/hay hóa trị và/hay xạ trị.
Phần lớn các khoa điều trị loại ung thư này đã có một hệ thống theo dõi thành phố-bệnh viện (système de suivi ville-hôpital), và đã có thể thiết đặt PPAC (programme personalisé de l’après-cancer), được dự kiến bởi plan cancer mới nhất (2014-2019). ” 15 ngày trước khi chấm dứt điều trị, chúng tôi dự kiến một buổi nói chuyện để thiết đặt PPAC với những người đại diện thành phố cho 5 năm đến, tùy theo điều trị được thực hiện”, Sophie Simandoux, trưởng phòng hành chánh của đơn vị theo dõi thành phố-bệnh viện (unité de surveillance ville-hopital) mà bà đã có sáng kiến thành lập ở Viện Curie, đã giải thích như vậy. ” Nếu bệnh nhân yêu cầu, ta có thể tổ chức một consultation với một y tá theo dõi (infirmière de suivi), sẽ làm một phân tích rộng rãi nếu cần.”
Viện đề nghị nhiều service de soutien cho các bệnh nhân trong lúc điều trị họ, và hy vọng càng ngày càng làm họ dễ dàng tiếp cận một khi họ không còn trong khung cảnh chật hẹp của các điều trị ban đầu. ” Chúng tôi khuyến khích các thầy thuốc gợi lên những nhu cầu tương lai này, ngay cả trong vài phút, ngay trong những buổi nói chuyện đầu tiên, BS Sylvie Dolbeault, thầy thuốc tâm thần và trưởng khoa tâm lý-ung thư học và xã hội của Viện Curie. Đó là bào chữa cho những nhu cầu của họ để họ không do dự yêu cầu sự giúp đỡ sau đó.”
NHỮNG HỘI THẢO HÀNG THÁNG.
Những tác dụng phụ của những điều trị chống kích thích tố (traitement anti-hormonal) được biết rõ và đôi khi rất gây khó chịu. Chúng thêm vào những di chứng của những điều trị khác và 6 tháng đầu trở lại đời sống “bình thường” đôi khi được trải nghiệm như một thời kỳ khó khăn hơn hóa trị hay xạ trị. ” Mệt, đau khớp, khô âm đạo và những khó khăn tình dục là những tác dụng phụ chính, BS Florence Coussy, thầy thuốc ung thư phụ khoa (gynéco-oncologue) ở Viện Curie đã nhấn mạnh như vậy. Nguy cơ, đó là các bệnh nhân bỏ điều trị, vốn là sự bảo vệ chính của họ chống lại một tái phát.” Vậy giáo dục điều trị là một công cụ chủ yếu đối với những ung thư “mãn tính hóa” này.
Viện đề nghị những consultation spécialisée và những hội thảo hàng tháng (conférence mensuelle) để thông báo cho bệnh nhân những tác dụng phụ này, và muốn thiết đặt một système de livret, trong đó bệnh nhân và những interlocuteur có thể cocher những tác dụng phụ cần một sự giúp đỡ. Những buổi thể thao thích ứng cũng được đề nghị, bởi vì hoạt động vật lý đã chứng minh những tác dụng có lợi của nó chống lại ung thư và những yếu tố nguy cơ. Ngoài ra, tất cả những hoạt động này cho phép gặp những bệnh nhân khác trong một khung cảnh khác với những buổi điều trị.
Tuy nhien, sự điều trị lý tưởng này không đến với tất cả các bệnh nhân, kể cả trong loại những service ultraspécialisé này. Rất thường các phụ nữ còn đòi hỏi chúng, điều này thể hiện một cố gắng mới trong chặng dương điều trị, thường giống với một đoạn đường chiến binh. Sự thiếu nhân viên, sự thiếu quan tâm của các thầy thuốc và sự tự kiểm duyệt (autocensure) của các bệnh nhân (không muốn đòi hỏi thêm thời gian ở những y tá đã quá tải), điều này đôi khi ngăn cản họ tiếp cận với điều đó, ngay cả khi chúng được dự kiến và khí chất lượng sống của họ cũng như tiên lượng dài lâu của họ sẽ được cái thiện. Ngay cả đối với người học trò modèle là ung thư vú, vẫn còn con đường phải qua để sau cùng thay đổi cục diện.
(LE FIGARO 25/11/2019)

3/ NHỮNG ĐỘC CHẤT HÀNG NGÀY NÀY CÓ THỂ KÉO DÀI LÂU
+ MỆT, TROUBLES COGNITIFS
Hóa trị và hormonothérapie thường được liên kết với cảm giác rằng não hoạt động ít tốt hơn. Ta tìm kiếm những chữ, ta đi ít nhanh hơn, ta quên những điều mà trước đây ta đã không bao giờ quên. Effet de “brouillard” này cuối cùng tan biến đi, nhất là khi bệnh nhân học làm chủ những yếu tố bên ngoài làm gia tăng nó : stress, lo âu, trầm cảm, thiếu ngủ. Các chuyên gia quan sát một sự cải thiện rõ rệt khi các bệnh nhân thực hành một hoạt động vật lý rất đều đặn. Sau cùng, nếu cảm thấy cần, một nhà tâm lý chuyên về liệu pháp hành vi (psychologie en thérapies comportementales) sẽ giúp thiết đặt một rééducation cognitive để chữa tạm những thiếu sót được cảm thấy
+ MÓNG TAY, DA, TÓC
Hóa trị đặc biệt agressive đối với các móng tay móng chân, tóc và da. Thế mà nếu như các bệnh nhân (đặc biệt những bệnh nhân nữ) đã ít chịu đựng tốt ít hay nhiều sự biến đổi của này lên hình ảnh cơ thể của họ, họ có thể khó chấp nhận sự kéo dài của các điều trị, nhất là khi một điều trị kích thích tố được cho. Những crème ultrahydratante đối với da khô và nhạy cảm cho phép kiểm soát tại chỗ sự khó chịu cũng như những masques đối với tóc. Những móng bị hỏng sẽ mọc lại dần dần, được cải thiện bởi những crème hydratant. Không cần che dấu chúng với những vernis doux trong lúc chờ đợi chúng lấy lại một dạng vẻ có thể chấp nhận được.
+ KHÔ ÂM ĐẠO VÀ GIẢM DỤC TÍNH
5 năm sau khi bị bệnh, 57% những bệnh nhân gợi ra một sự giảm ham muốn nhục dục, và 65% có ít giao hợp hơn, một cuộc điều tra của INCA vào năm 2018 đã chỉ như vậy. Gần một nửa những phụ nữ bị một ung thư vú hay ung thư tử cung cảm thấy “ít vọng dục” hơn trước. Nếu sự giảm dục tính (libido) liên hệ trực tiếp với điều trị, với một sự lo âu hay với một sự nhận thức về cơ thể bị biến đổi, một psycho-oncologue là một giai đoạn cần thiết. Ở người đàn ông, vài điều trị có thể gây nên nhưng rối loạn cương, nhưng những yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng. Ở phụ nữ, có thể có một inconfort trong quan hệ tình dục vì khô âm đạo. Có nhiều chất bôi trơn mà một sự sử dụng “ludique” có thể làm dễ sử trở lại của ham muốn nhục dục.
+ SỢ TÁI PHÁT, MỘT THANH GƯƠM DAMOCLÈS NẶNG
Đó là một trong ấn tượng bền vững và thường gặp nhất, và khó chia sẻ với những người thân cận nhất. Hay biết rằng ta có một ung thư luôn luôn có tác dụng của một zoom đột ngột lên trên tỷ lệ tử vong của chinh mình : nó dường như thình lình hiện thực hơn nhiều, và, một khi những điều trị chấm dứt, sự sợ thấy bệnh trở lại cho cuộc sống một nhận thức rất khác. Cảm giác này, hoàn toàn chính đáng, có thể dần dần nhường chỗ cho những ưu tiên của công việc hàng ngày khi đời sống bình thường trở lại. Tuy nhiên, cần thiết khám một psycho-oncologue ngay khi sự sợ hãi về tương lai này thắng thế và khi những rối loạn lo âu ngăn cản hoạt động bình thường.
(LE FIGARO 25/11/2019)

4/ UNG THƯ HỌC, MỸ HỌC VÀ PHẪU THUẬT : 3 CÁI ĐƯỢC TRONG UNG THƯ HỌC.
Ung thư vú là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ. Ở Bỉ, năm 2016, người ta thống kê 10.846 trường hợp mới ung thư vú, trong đó 111 xảy ra ở đàn ông. Hầu hết những ung thư này xảy ra sau 50 tuổi. Ở CHR de la Citadelle (Liège), năm 2018, clinique du sein đã điều trị 148 trường hợp mới.
Chẩn đoán ung thư vú được thực hiện ở những giai đoạn ngày càng sớm. Trong những điều kiện này, bệnh nhân phần lớn được đề nghị một điều trị bảo tồn. Tuy nhiên, kết quả thẩm mỹ sẽ tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước của khối u so với kích thước của vú, định vị của khối u, sự xâm nhập đã hay không hay plaque aréolo-mamelonnaire.
Những yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng âm tính kết quả thẩm mỹ như radiothérapie adjuvante và chứng nghiện thuốc lá. Tất cả những dữ kiện này phải được đưa vào để chọn tốt nhất loại can thiệp cần đề nghị cho bệnh nhân, mục tiêu là có một sự cắt bỏ hoàn toàn khối u liên kết với một kết quả thẩm mỹ tối ưu.
Để đạt mục tiêu này, ta có thể sử dụng, trong cùng lúc cắt bỏ khối u (tumorectomie), những kỹ thuật chirurgie plastique để remodeler vú. Ta gọi là chirurgie oncoplastique. Những kỹ thuật này đòi hỏi si làm việc đồng bộ của 2 équipe ngoại khoa : ngoại khoa ung thư (chirurgie oncologique) và ngoại khoa thẩm mỹ (chirurgie plastique).
Những bệnh nhân khác sẽ được đề nghị một mastectomie. Hiện nay, các bệnh nhân ngày càng đòi hỏi nếu có thể tái tạo vú. Khi đó sẽ đặt ra vấn đề của một tái tạo vú tức thời hay trì hoãn (mastectomie immédiate ou différée).
Ta không còn có thể thực hiện ngoại khoa ung thư vú (chirurgie oncologique sénologique) mà không nói với bệnh nhân về thẩm mỹ (esthétique). Dĩ nhiên ta không thể đạt một kết quả tối ưu tức thời nhưng phải luôn luôn xét đến khía cạnh này và nói về điều đó với bệnh nhân.
Có những tái tạo vú tức thời (RMI : reconstruction mammaire immédiate) khác nhau. Được biết nhất và đơn giản nhất là tái tạo bằng prothèse. Sự tái tạo này thường nhất được thực hiện thành hai thì, với trong thì đầu, đặt sau cơ (mise en place en rétro-musculaire) một expanseur rồi trong thì hài, thay thế expanseur bằng một prothèse en silicone. Loại tái tạo này cho một kết quả thẩm mỹ đẹp tức thời nhưng thường cần một động tác lên vú đối diện để làm cân đối. Trái lại, trong thời gian dài hạn, kết quả thẩm mỹ có thể xuống cấp do sự phát triển của một vỏ quanh prothèse (coque péri-prothétique). Đó là lý do tại sao, ta không đề nghị tái tạo bằng prothèse ở những bệnh nhân sẽ phải nhận một radiothérapie adjuvante.
Lựa chọn thứ hai của RMI là technique par lambeau. Lambeau du muscle grand dorsal là một kỹ thuật được sử dụng đã lâu trong sự tái tạo vú. Đó là một kỹ thuật phức tạp, không cần microchirurgie bởi vì đó là một lambeau vẫn được phân bố mạch bởi cuống mạch máu (pédicule vasculaire) của nó. Ta gọi nó là lambeau pédiculé. Kết quả tức thời sẽ khác với kết quả vài tháng sau bởi vì ta luôn luôn chứng kiến một tan cơ và do đó một sự giảm thể tích của lambeau. Để cải thiện dạng của nó và trả lại thể tích, ta liên kết nó với lipomodelage. Lipomodelage nhằm tiêm graisse autologue trong những vùng bị mỏng. RMI này cũng cho phép tái tạo tức thời của plaque aréolo-mamelonnaire.Sau cùng, kỹ thuật thứ ba được đề nghị cho bệnh nhân là lambeau libre abdominal (DIEP). Điệp có ưu điểm liên kết một abdominoplastie. Thật vậy, ta sử dụng da-mỡ thặng dư ở thành bung. Ta chuyển mỡ được phân bố mạch bởi một cuống mạch máu gồm một động mạch và tĩnh mạch đến nơi mastectomie. Sau đó các mạch máu được nối kết trên pédicule mammaire interne sau xuống ức qua một đoạn cắt bỏ ngắn của xương sườn. Kết quả thẩm mỹ tức thời là vĩnh viễn. Kỹ thuật này cũng được liên kết trong thì hai với một lipomodelage để hoàng thiện dạng của vú.
Năm 2019, ở CHR de la Citadelle, trong 9 tháng đầu năm đã thực hiện 21 tumorectomie với oncoplastie và 30 mastectomie với một RMI. Trong số này, có 10 RMI với sự thiết đặt một expanseur, 9 với kỹ thuật lambeau du grand dorsal và 11 tái tạo với DIEP.
(CITA.DOC 11/2019)

4/ UNG THƯ : MỘT CHẤN THƯƠNG TÂM THẦN THẬT SỰ, VÀ KÉO DÀI
Sự loan báo một ung thư đôi khi dẫn đến một trouble du stress post-traumatique (TSPT).CANCER. Những mối liên hệ rõ ràng giữa stress và ung thư làm cho bối rối. Về mặt thống kê, thường tìm thấy những biến cố gây chấn thương tâm thần (événement traumatisant) trong những tuần hay tháng trước khi khám phá một ung thư. Những thực tế thống kê này không phải là một thực tế sinh học, bởi vì phải cần nhiều năm để một ung thư phát triển đến độ gây nên những biến chứng. Trên thực hành, điều đó có nghĩa rằng mỗi người hay gần như có thể tìm thấy một yếu tố chịu trách nhiệm chấn thương tâm thần (responsable psychotraumatisme) trong quá khứ của mình. Nhưng không phải vì vậy mà điều đó là nguyên nhân trong sự xuất hiện của căn bệnh.”
Nhưng nhiều lang băm được lợi trong việc giải thích sai lệch tâm lý của ung thư. Bởi vì, trên bình diện cá nhân, dễ rơi vào cạm bẫy. ” Nhiều bệnh nhân làm cho stress trở thành thủ phạm duy nhất của ung thư của họ”, Guillaume Lionet, bệnh nhân và người sáng lập hiệp hội Fight Club Cancer, đã nhận xét như vậy.
Ngược lại, nếu stress không gây ung thư, nó lại nhanh chóng trở thành khách mời thường trực. ” Stress là một gánh nặng bổ sung trong căn bệnh, GS Bruno Millet, thầy thuốc tâm thần của bệnh viện La Pitié -Salpetrière (Assistance publique-Hopitaux de Paris) đã giải thích như vậy.Thế mà mặc dầu những tiến bộ được thực hiện ở Pháp với sự thiết đặt một dispositif d’annonce, sự hỗ trợ tâm lý có thể được cải thiện.
” Sự loan báo ung thư dĩ nhiên là lúc gây căng thẳng nhất của chặng đường điều trị, và sự xúc động choáng váng khá tỷ lệ với tác dụng của ngạc nhiên. Những stress cũng có thể hiện diện sau thuyên giảm, và mỗi lần kiểm tra ta càng vướng vít “, Guillaume Lionet đã giải thích như vậy. ” Chắc chắn ta sẽ dành một chỗ quan trọng hơn cho sự quản lý stress trong điều trị hỗ trợ “, ông đã gợi ý như vậy.
” Sự loan báo một ung thư có thể được gắn vào lãnh vực của trouble du stress post-traumatique mà đôi khi ta quan sát ở những người lính”, về phần mình BS Marion Trousselard, trưởng khoa neurosciences et sciences cognitives ở Institut de recherche biomédicale des armées, đã nhận xét như vậy. Dĩ nhiên TSPT thường gặp ở những người lính (15% đến 25%) hơn là ở population générale.
PENSÉES INTRUSIVES.
Nhưng ” ngoài những xem xét thống kê này, không có những khác nhau thật sự về lâm sàng “, BS Yann Andruétan, psychiatre, thầy thuốc trưởng của service de santé des armées đã nhắc lại như vậy trong một livre de référence, Les Blessures psychiatriques en 10 questions.
Những người bị chấn thương tâm thần (psychotraumatisme), dầu nguyên nhân là gì, thường chia xẻ sau khi trải nghiệm một nguy cơ sinh tử, những triệu chứng lập lại của cảnh tượng gây chấn thương tâm thần(scène traumatique) (pensées intrusives: những ý tưởng xâm nhập), kể cả trong những cơn ác mộng, những sự khó tập trung, tính tình cáu kỉnh, những hành vi lẩn tránh (conduite d’évitement) và một tình trạng cảnh giác gia tăng. Nhiều vùng của não liên quan trong psychotraumatisme giải thích những triệu chứng này, theo Marion Trousselard. ” Những amygdale não đóng một vai trò quan trọng trong những cảm xúc, nhất là sợ hãi : hippocampe đã ghi nhớ bối cảnh và vỏ não trước trán (cortex préfrontal) không còn làm việc đúng đắn và không nói ” không còn nguy hiểm nữa ” Do đó, ” réseau neuronal de saillance, vốn có nhiệm vụ hướng sự chú ý của chúng ta vào cái gì đó không bình thường trong môi trường của chúng ta, thế mà vẫn luôn luôn hoạt động, vẫn hiện hữu khắp nơi trong TSPT, Marion Trousselard đã giải thích như vậy, trong khi đúng ra nó phải được làm bất hoạt khi ta nghỉ ngơi “.
Các chuyên gia về TSPT yêu cầu thận trọng về việc sử dụng các thuốc hướng thần (psychotropes), vì lẽ thiếu những công trình nghiên cứu đặc hiệu trong khung cảnh TSPT liên kết với ung thư. Ngược lại, những kết quả đáng lưu ý được quan sát với những thérapie cognitivo-comportementale, méditation en pleine conscience và EMDR (liệu pháp dựa trên những cử động nhãn cầu).
(LE FIGARO 14/10/2019)

5/ UNG THƯ : NHỮNG NGUY CƠ CỦA SỰ THỰC HÀNH NHỊN ĐÓI

Paule Latino-Martel
Directrice de recherche Inra
Coordinateur du Réseau national alimentation cancer
recherche (NACRe)

Nhịn đói (le jeune) đang hợp thời trang. Ta gán cho nó những tính chất về mặt kiểm soát trọng lượng và phát triển cá nhân. Những tác dụng phòng ngừa và điều trị cũng được đưa ra, nhưng chúng không được chứng minh ở người. Trong trường hợp của ung thư, những tác dụng được gọi là có lợi của sự nhịn đói đã chỉ được quan sát trên những tế bào cấy hay những động vật thí nghiệm, và những kết quả này không thể được suy diễn cho những bệnh nhân bị ung thư.
Dầu cho động cơ là gì, khi ta trẻ và có sức khoẻ tốt, nhịn đói một ngày thoạt đầu không nguy hiểm, với điều kiện là chăm lo bù nước tốt và không có những gắng sức lớn. Nhưng khi ta bị một ung thư, tình hình khác hẳn.
Bệnh ung thư và những điều trị chống ung thư thường là nguồn gốc của một sự mất dinh dưỡng (dénutrition) được đặc trưng bởi một sự mất cân và cơ. Sự mất dinh dưỡng xảy đến cho 40% những bệnh nhân. Nó có thể dẫn đến một sự xuống cấp của tình trạng tổng quát và của chất lượng sống, một nguy cơ bị những biến chứng hậu phẫu và một thời gian nhập viện dài hơn ; nó cũng có thể cản trở, thậm chí ngăn cản những điều trị : sự mất khối lượng cơ làm giảm sự dung nạp những điều trị hóa trị, điều này buộc phải giảm liều. Đối với cùng một ung thư ở cùng một giai đoạn, một bệnh nhân mất dinh dưỡng có nguy cơ bị tỷ lệ tử vong quan trọng hơn một bệnh nhân không mat dinh dưỡng.
Chính vì vậy sự sự mất dinh dưỡng phải được phòng ngừa và điều trị. Từ năm 2012, những khuyến nghị nghề nghiệp, được élaboré bởi một nhóm những chuyện gia của SFNCM (Société française nutrition clinique et métabolisme) và của réseau NACRe (Réseau national alimentation cancer recherche), được đặt dưới quyền sử dụng của những người điều trị về ung thư học và những bệnh nhân trưởng thành. Những khuyến nghị này chỉ làm thế nào để phát hiện và điều trị sự mất dinh dưỡng và toàn bộ hơn làm sao đưa sự điều trị dinh dưỡng vào trong kế hoạch cá nhân hóa điều trị bệnh nhân.
Vài bệnh nhân, ước muốn chủ động trong sự chữa lành của họ, xin những professionnels của các khoa ung thư để thực hành sự nhịn đói trong lúc điều trị, với hy vọng điều đó sẽ làm giảm độc tính của các thuốc điều trị và sẽ cải thiện ung thư của họ. Những người khác từ thực hiện mà những người điều trị theo dõi họ không được thông báo.
Tuy vậy, tình hình kiến thức hiện nay khiến phải thận trọng. Vào năm 2017, réseau NACEe đã công bố một báo cáo giám định, điểm lại toàn bộ những công trình nghiên cứu được thực hiện cho đến nay về sự nhịn đói và ung thư.Những kết luận là hiện nay ở người không có bằng chứng của một tác dụng bảo vệ của sự nhịn đói trong phòng ngừa sơ cấp, nghĩa là trong mục đích tránh sự phát triển của một ung thư. Không có chứng cớ về một tác tác dụng điều trị đối với những bệnh nhân đã phát bệnh, dầu đó là một tác dụng trực tiếp hay một tác dụng lên tính hiệu quả của những thuốc điều trị được cho. Trái lại, trong quá trình điều trị, sự thực hành nhịn đói có một nguy cơ làm trầm trọng sự mất dinh dưỡng, yếu tố tiên lượng xấu.
Như thế, những viện dẫn được quảng bá rộng rãi về những tác dụng của sự nhịn đói chống lại ung thư không tương ứng với tình trạng của những tri thức khoa học. Để phòng ngừa, thực hành nhịn đói không được biện minh. Ngược lại, những mục đích ưu tiên của phòng ngừa bằng dinh dưỡng là giảm sự tiêu thụ rượu và có một chế độ ăn uống cân bằng và đa dạng, đồng thời thực hành một hoạt động vật lý đều đặn.
Thực hành nhịn đói hay một chế độ ăn uống hạn chế trong một ung thư không phải là vô hại. Trong khi điều trị bệnh, không nên thực hành nhịn đói hay một chế độ ăn uống hạn chế. Nếu bệnh nhân vẫn mong muốn thực hiện điều đó, điều quan trọng là bệnh nhân này phải thông báo cho thầy thuốc điều trị và thầy thuốc chuyên khoa ung thư (oncologue). Khi đó thầy thuốc sẽ thiết đặt một sự đánh giá, đồng thời tính đến tuổi và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và đề nghị một sự theo dõi dinh dưỡng, cần thiết để phòng ngừa nguy cơ mất dinh dưỡng.
(LE FIGARO 24/6/2019)

6/ LÀM SAO CHỐNG LẠI NHỮNG RỐI LOẠN VỊ GIÁC LIÊN KẾT VỚI UNG THƯ
Ở Lyon, một trung tâm nghiên cứu về dinh dưỡng hiệu chính những cách nấu nướng thích ứng với những khó khăn ăn uống mà các bệnh nhân ung thư thường gặp phải.
CANCER. Đối với vài bệnh nhân, đó là một vị kim loại hay carton trong miệng. Đối với những bệnh nhân khác, đó là một tình trạng không cảm giác hoàn toàn, sự không có vị, dầu thức ăn ăn vào là gì. Đối với những bệnh nhân khác, vị ngọt, vị mặn, vị đắng làm khó chịu. ” Tôi có cảm giác nhai một boite de conserve”, Magali Pons, diététicienne ở trung tâm chống ung thư Gustave-Roussy (Villejuif) thường nghe nói như vậy.” Tôi có một vị xà phòng khi tôi ăn.” ” Tôi không cảm thấy gì hết”. Tất cả làm tôi tởm.”
Như những bệnh nhân này, nhiều bệnh nhân ung thư trải nghiệm những biến đổi của vị giác, khứu giác hay những cảm giác ở miệng. Không thể chịu được, những rối loạn này làm rối loạn cách ăn uống và có thể gây nên những mất cân có hại vào lúc cơ thể cần sức lực để chịu đựng những điều trị và chống lại căn bệnh.
” Những biến đổi này được nghiên cứu khá ít mặc dầu chúng ảnh hưởng một số lớn những bệnh nhân và tạo một vấn đề y tế công cộng quan trọng “, Agnès Giboreau, giám đốc của trung tâm nghiên cứu của Viện Paul-Bocuse đã nhận xét như vậy. Làm sao làm nhẹ bớt những hậu quả không được mong muốn này ? Đó là câu hỏi mà một dự án nghiên cứu được phát động ở Lyon, trong những cuisines, của Viện, đã hứa trả lời về mặt khoa học. Mục tiêu, Agnès Giboreau đã giải thích như vậy, là ” dự kiến những cách nấu nướng để điều chỉnh những biến đổi khác nhau của vị giác, rồi đề nghị chúng trong một sách nhỏ dành cho gia đình và những service de restauration tập thể của các bệnh viện.
Những rối loạn vị giác có thể được liên kết với ung thư hay với hóa trị (chimiothérapie) được cho để chống lại nó. ” Những cơ chế tác dụng vẫn còn không được giải thích rõ, Agnès Giboreau đã nhận xét như vậy. Chúng tôi nghĩ rằng những tế bào tiếp nhận vị giác (cellules réceptrices du gout) bị ảnh hưởng bởi điều trị. Cũng như những tế bào ung thư, chúng có khả năng tăng sinh rất nhanh. Đó là lý do tại sao ta tìm lại vị giác trong vài ngày sau khi bị bỏng lưỡi.”
Những rối loạn xuất hiện một cách nhanh chóng sau hóa trị và thường nhất có thể đảo ngược được. Chúng liên quan đến 45 và 85% những bệnh nhân, tùy theo loại ung thư. ” Đó là một tác dụng phụ nói chung không được biết đến bởi vì nó không ưu tiên đối với bệnh nhân cũng như thầy thuốc, Kenza Drareni, doctorante ở centre de recherche de neurosciences de Lyon, đã quan sát như vậy. Thế mà nó có thể là nguồn gốc của những ghê tởm thức ăn thật sự dẫn đến giảm cảm giác ăn ngon.”
Là pneumo-cancérologue ở Hospices civils de Lyon, GS Pierre-Jean Souquet chứng thực trong khoa của ông những hậu quả có hại của sự mất dinh dưỡng. ” Sự mất cân và sự tan cơ làm giảm những cơ may thành công của các điều trị, gia tăng nguy cơ nhiễm trùng và những bệnh liên kết, ông đã nói như vậy. Điều đó có một tác động lên thời gian nhập viện và tỷ lệ tử vong.” Thường, những rối loạn vị giác cuối cùng cách ly các bệnh nhân vì họ trốn những lúc ngồi vào bàn.
Đối với équipe của centre de recherche, những bệnh nhân được trang bị tốt hơn nếu họ được làm cho nhạy cảm (sensibilisé) và biết nhận biết nhưng rối loạn. Do đó ý tưởng xếp loại họ thành những profil để đề nghị với mỗi bệnh nhân những cách nấu ăn thích đáng. Muối, đường hay chanh đối với sự mất vị (agueusie). Những hỗn hợp hương liệu, tỏi hay nghệ đối với sự mất khứu giác (anosmie), mà các bệnh nhân thường lẫn lộn với sự mất vị giác. Mỡ để bảo vệ niêm mạc khô hay bị kích thích. Những vị trung tính trong trường hợp tăng nhạy cảm (hypersensibilité)
(LE FIGARO 3/6/2019)

7/ UNG THƯ : LÀM SAO THỰC HIỆN CẤP CỨU MỘT HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ

AUDE-MARIE FOUCAUT
Responsable de la commission APA et cancer de
la Société française des professionnels en activité
physique adaptée
IVAN KRAKOWSKI
Président de l’Association francophone des soins
oncologiques de supports

Trong Hội nghị thế giới về ung thư (Asco) diễn ra sôi nổi ở Chicago, như mọi năm sẽ điểm lại tình hình những tiến bộ điều trị mới nhất, một thực hành có thể tiếp cận cho tất cả, thực hành hoạt động vật lý được khuyến nghị đối với những bệnh nhân bị ung thư, đang được viện dẫn như một phương tiện thực sự chống lại ung thư
Những bệnh nhân bị ung thư thấy năng lực tim-hô hấp và cơ của họ bị biến thái dần dần, điều này dẫn đến một désadaptation khi gắng sức với giảm autonomie và chất lượng sống. Sự thực hành một hoạt động vật lý bởi một bệnh nhân bị một ung thưng dẫn đến một sự cải thiện đáng kể của autonomie cũng như của chất lượng sống, nhất là bằng cách làm giảm sự mệt mỏi và bằng cách cải thiện tình trạng cảm xúc, cảm giác ăn ngon, giấc ngủ, sự tự tin…Điểm quan trọng, hoạt động vật lý dẫn đến một cách gián tiếp một sự tuân thủ tốt hơn những điều trị và do đó một sự kiểm soát bệnh tốt hơn, như điều đó đã được chứng minh trên bình diện khoa học ngay năm 2010.
Một phần quyết định lập pháp đã được thiết đặt bởi một sắc luật có thể áp dụng vào tháng ba năm 2017 “liên quan đến những điều kiện phân phát hoạt động vật lý, được kê đơn bởi thầy thuốc điều trị cho những bệnh nhân bị một bệnh kéo dài (ALD : affection để longue durée). Song song, plan cancer 2014-2019 cũng đã dự kiến phổ biến démarche de prévention sau chẩn đoán ung thư bằng cách đưa vào sự cổ xướng hoạt động vật lý.
CHỈ ĐƯỢC KÊ ĐƠN CHỈ BỞI 10% CÁC THẦY THUỐC.
Société française des professionnels en activité physique adaptée (SFP-APA) liên kết với Association francophone des soins oncologiques de support (Afsos) để khuyến khích những lợi ích của hoạt động vật lý, nhất là ở những professionnel de santé. Thật vậy những người này có một vai trò quan trọng chủ yếu để làm dễ sự dấn thân của những bệnh nhân trong sự thực hiện hoạt động vật lý.
Vẫn còn không được biết bởi tất cả (bệnh nhân và thầy thuốc), hoạt động vật lý thích ứng (APA : activité physique adaptée) tuy vậy là một trong những trục mạnh của những điều trị hỗ trợ. Nhiều sáng kiến đã ra đời suốt trong quá trình điều trị và xuất hiện dần dần trên lãnh vực, nhưng chúng phải được nhận diện và tổ chức tốt hơn. Ưu tiên của các thầy thuốc còn rất được tập trung vào những điều trí đặc thù ; bệnh nhân không biết những đóng góp của hoạt động vậy ly và/hay không dám đề cập vấn đề này khi khám bệnh, thường rất ngắn và nhiều chủ đề khác được đề cập. Mặc dầu những dispositif d’annonce được thiết đất bởi plan cancer làm dễ sự thông tin, nhưng những dispositif và những chương trình hoạt động vật lý, được thực thi tùy theo năng lực và ước muốn của bệnh nhân, vẫn không được duy trì đủ.
(LE FIGARO 4/6/2018)

8/ MỘT HY VỌNG BẤT NGỜ TRÊN MẶT TRẬN ALZHEIMER.
Sự tiếp tục lại những thử nghiệm lâm sàng về một ứng viên thuốc, aducanumab, lại đẩy mạnh nghiên cứu chống lại căn bệnh thoái hóa thần kinh.Coup de théâtre (chuyển biến bất ngờ) ! Cách nay vài tháng, laboratoire américain Biogen, liên kết với laboratoire japonais Eisai, đã loan báo ngừng thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III (trên người) của ứng viên thuốc chống bệnh Alzheimer. Lý do được nêu lên : những kết quả không đủ. Thế mà laboratoire này vừa loan báo, ngày 22 tháng 10, muốn cho đăng ký aducanumab ở Hoa Kỳ như điều trị bệnh Alzheimer ? Điều gì đã xảy ra ?
Giữa năm 2015 và 2018, Biogen đã tiến hành hai công trình nghiên cứu en double aveugle contre placebo (EMERGE và ENGAGE) ở trên 3000 bệnh nhân bị một bệnh Alzheimer trong giai đoạn đầu. Mục tiêu : đánh giá aducanumab, một kháng thể đơn dòng nhằm vào peptide beta-amyloide, có liên quan trong bệnh Alzheimer. Nhưng tháng 12 2018, Biogen thực hiện một công trình nghiên cứu trung gian, được gọi là étude de futilité, tiên đoán nhưng cơ may thành công của một thử nghiệm lâm sàng tùy theo những dữ kiện đã được thu thập. Nhưng những thử nghiệm này tỏ ra âm tính, dẫn đến sự ngừng đột ngột những thử nghiệm. Thế mà, theo Biogen, một phân tích thứ hai trên những dữ kiện từ tháng 12 đến tháng 3 đã cho những kết quả hứa hẹn hơn nhiều đối với những bệnh nhân đã nhận liều mạnh nhất của aducanumab : một sự chậm lại 23% của sa sút trí tuệ được quan sát trong thử nghiệm EMERGE.” Đó là lần đầu tiên mà một loại thuốc có tác dụng dương tính, một cách không phải là không đáng kể, đồng thời trên những thương tổn và trên những triệu chứng của Alzheimer “, Bruno Dubois, trưởng khoa của những maladies cognitives ở bệnh viện la Pitié-Salpêtrière ở Paris, đã lấy làm vui sướng. Biogen sẽ thông báo một cách chính thức 5 tháng 12 năm 2019.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2019)

9/ MỘT TRẮC NGHIỆM NƯỚC TIỂU ĐẦY HỨA HẸN ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Đơn giản và nhạy cảm, trắc nghiệm đổi sang màu xanh trong trường hợp ung thư đại tràng. Ý niệm nhằm khai thác những protéase. Ở chuột, trắc nghiệm tỏ ra đầy hứa hẹn.
Như đó là trường hợp đối với nhiều căn bệnh, ung thư đại trực tràng càng được phát hiện sớm, những cơ may về chất lượng sống và sống còn càng quan trọng. Do đó lợi ích hiệu chính một test de dépistage có thể tiếp cận được đối với số lượng lớn các bệnh nhân, vừa túi tiền trên bình diện tài chánh, nhanh, và dễ sử dụng. Trắc nghiệm mà những nhà nghiên cứu của MIT và của Imperial College de Londres vừa phát triển dường như có thể đáp ứng với bấy nhiêu tiêu chuẩn.
Các nhà khoa học đã tập trung vào 28 con chuột (14 con có sức khoẻ tốt, 14 con đã phát triển một ung thư), ở chúng họ đã tiêm vào những nanocapteur. Trong trường hợp ung thư, những nanocapteur này sau đó bị “cắt” bởi các enzyme, những MMP9 được phóng thích bởi khối u. Phải biết rằng những enzyme được biết dưới tên MMP (métalloprotéase matricielle) cho phần vào sự tăng trưởng và sự lan tràn của các khối u và rằng nhiều loại ung thư, trong đó ung thư đại tràng, sản xuất nhưng nồng độ cao của nhiều enzyme MMP, trong đó một được gọi là MMP9.
Trở lại những nanocapteur, chúng được nối kết với một protéine support (AuNC) bằng những liên kết, những enzyme MMP9 làm vỡ nhưng liên kết này. Và khi những nanocapteur bị phân tích bởi những protéase, những AuNC đi xuyên qua thận và khi đó có thể thấy bằng mắt trận với trắc nghiệm nước tiểu, chuyển qua màu xanh.
Thật vậy, khi chúng được xử lý với một substrat chimique và peroxyde d’hydrogène, những AuNC này gây nên sự chuyển qua màu xanh. Trái lại, trong trường hợp không có sự hiện diện của khối u, những nanocapteur không bị phân tích và những AuNC không thể đi xuyên qua thận.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 25/10/2019)

10/ NHỮNG THUỐC CHỐNG CAO ÁP : CẦN SỬ DỤNG VÀO BUỔI CHIỀU
CARDIOLOGIE. Một công trình nghiên cứu quy mô lớn với một sự theo dõi dài lâu xác nhận rằng chính buổi chiều là lúc tốt nhất để sử dụng những thuốc cao huyết áp chứ không phải buổi sáng.Cả một loạt những công trình nghiên cứu đã đi theo chiều hướng này : sử dụng các thuốc cao huyết áp vào buổi chiều cho tiên lượng tim mạch tốt nhất. Nhưng một phần lớn những công trình nghiên cứu này không nhằm trực tiếp vào một so sánh với sự sử dụng những thước chống cao áp vào buổi sáng.
Một công trình nghiên cứu mới, được công bố trong European Heart Journal, quan tâm vấn đề của tuyến đầu. 40 pratique de médecine générale đã tham gia vào công trình nghiên cứu này. Population totale gồm khoảng 19.000 bệnh nhân (10.500 đàn ông và 8.500 đàn bà), với một tuổi trung bình 60. Một nửa dùng thuốc lúc đi ngủ , một nửa kia lúc thức dậy. Các bệnh nhân được theo dõi trong một thời kỳ dài, trung bình 6 năm. Hơn 1700 bệnh nhân đã phát triển một trong những sự cố tim mạch. So với những bệnh nhân dùng thuốc điều trị vào buổi sáng, những bệnh nhân dùng thuốc vào buổi chiều có một nguy cơ thấp hơn một cách đáng kể.
Những trị số huyết áp trung bình trong ngày không khác nhau, nhưng trong giấc ngủ, chúng thấp hơn một cách đáng kể trong nhóm dùng thuốc vào buổi chiều so với những bệnh nhân dùng thuốc vào buổi sáng.
Huyết áp thu tâm trung bình được đo trong 48 giờ cũng thấp. Sử dụng thuốc vào buổi chiều cho một sự giảm tỷ lệ bách phân của huyết áp thu tâm nhiều hơn một cách đáng kể. Có ít “non-dipping” hơn nhiều (không giảm HA ở những người lành mạnh trong giấc ngủ.
Vào cuối công trình nghiên cứu, những bệnh nhân dùng thuốc chống cao áp vào buổi chiều dùng thuốc hơi ít hơn, không có tác dụng phụ. Một sự giảm dần dần của HA thu tâm trong giấc ngủ là yếu tố tiên đoán tốt nhất của một tiên luongt tim mạch thuận lợi. Những bệnh nhân dùng thuốc chống cao áp vào buổi chiều nhiên hậu có một chức năng thận tốt hơn. Họ cũng có một profil lipidique lành mạnh hơn, với một cholestérol LDL thấp hơn và một cholestérol LDL cao hơn. Sử dụng thuốc vào buổi chiều ít nhất tỏ ra an toàn hơn khi dùng vào buổi sáng. Tác dụng quan trọng hơn của các thuốc chống cao áp dùng vào buổi chiều lên tiên lượng tim mạch được giải thích bởi hoạt tính của hệ rénine-angiotensine-aldostérone (SRAA) cao nhất trong đêm, điều này khiến các thuốc tạo một sự khác nhau lớn hơn. Sự xuất hiện thường hơn của nhồi máu cơ tim vào sáng sớm chủ yếu được quy cho một sự gia tăng huyết áp vào lúc này. Những bệnh nhân dùng thuốc chống cao áp lúc thức dậy có lẽ chưa hoạt động khi những trị số gia tăng.
(LE JOURNAL DU MÉDECIN 29/11/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(8/12/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 526 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 531 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s