Thời sự y học số 523 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1. RADON LÀ MỘT CHẤT GÂY Ô NHIỄM NỘI THẤT GIẾT NGƯỜI
Ngày xưa ung thư phổi do khí này ảnh hưởng những thợ mỏ. Hôm nay, nó có thể giết những người dân không được đả thông.RADIOACTIVITE. Khoảng 10% ung thư phổi xảy đến ở những người không hút thuốc. Trong số họ, có những nạn nhân của radon, một khí phóng xạ (gaz radioactif) nguồn gốc tự nhiên, phát xuất từ sự tan rã của uranium và của radium hiện diện trong vỏ trái đất. Ung thư này ảnh hưởng 1200 đến 2900 người mỗi năm, làm radon là nguyên nhân thứ hai của ung thư phổi sau thuốc lá. Vài người Pháp rõ rệt tiếp xúc với radon nhiều hơn những người khác, nhất là trong những vùng đá hoa cương (granit) và núi lửa như Massif central, Bretagne, les Vosges, les Pyrénées, les Alpes và Corse. Institut de radioprotection et de sureté nucléaire (IRSN) đã lập một bảng đo chính xác của những vùng nguy cơ mà mỗi người phải tham khảo để biết có bị liên hệ hay không.
” Ở những mineur de fond tiếp xúc với radon trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của họ, người ta đã chứng minh rằng ngay cả những liều nhỏ radon gia tăng nguy cơ ung thư phổi. Ngoài ra, một mối liên hệ với ung thư dạ dày không được loại trừ (nhưng không được chứng tỏ) bởi vì radon hiện diện trong nước”, GS Boris Melloni, trưởng khoa phổi của bệnh viện Limoges đã nhận xét như vậy. Mặt khác, ” sự liên kết thuốc lá và radon gia tăng 20 lần nguy cơ ung thư phổi so với population générale, bởi vì nguy cơ thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính và multiplicateur. Đối với những người vừa tiếp xúc với radon, vừa tiếp xúc với thuốc lá, vậy sự ngừng thuốc lá là chủ yếu “, BS Didier Debieuve, trưởng khoa phổi của bệnh viện Emile-Muller ở Mulhouse đã nhấn mạnh như vậy. Những chất gây ô nhiễm quan trọng khác khả dĩ gia tăng những nguy cơ của ung thư phổi là sự tiếp xúc với những hạt mạnh hay cực mạnh (phát xuất từ xe hơi, từ công nghiệp, từ chauffage au charbon hay au bois,..)
KHÍ PHÓNG XẠ
Những triệu chứng của một ung thư phổi do radon không có tính đặc thù. Trừ phi bệnh nhân không hút thuốc và không có yếu tố nguy cơ đặc biệt nào khác ngoài radon. Vậy khó xác nhận rằng tumeur bronchique được tìm thấy đúng là liên kết với sự hiện diện của khí phóng xạ này.” Cũng như mọi ung thư phổi, những signe d’appel là ho, khó thở, mất cảm giác ăn ngon và mất cân, ho ra máu, mệt và đau ngực là một dấu hiệu muộn. Khi có chút ít nghi ngờ, phải nói điều đó với thầy thuốc gia đình của mình, BS Debleuvre nhắc lại như vậy. Vấn đề là ung thư phổi tiến triển lâu và im lặng, vì vậy nó thường được khám phá ở giai đoạn tiến triển. Vào lúc chẩn đoán, 60% những ung thư phổi ở một giai đoạn tại chỗ tiến triển và di căn. Ở những người có nguy cơ cao, như những người hút thuốc tiếp xúc với radon, vấn đề của một điều tra phát hiện hàng năm hay mỗi hai năm bằng một scanner “low dose” phải được đặt ra. Thật vậy, được khám phá ở một giai đoạn sớm, một ung thư phế quản có khả năng chữa lành rất tốt. Những di căn thường gặp nhất, như đối với một ung thư do thuốc lá, ở não, gan, xương, thượng thận và phổi.”
Điều trị đầu tiên của ung thư phổi do radon, khi có thể, vẫn là ngoại khoa. Nếu không, xạ trị và/hoặc hóa trị hay miễn dịch liệu pháp được chủ trương. Tiên lượng giống với tiên lượng đối với ung thư phổi do nghiện thuốc lá và sự điều trị cũng hướng được những tiến bộ của ung thư phổi. ” Những công trình nghiên cứu được thực hiện ở Espagne, ở Galicie, ở những phụ nữ sống suốt cuộc đời ở cùng nơi trong những ngôi nhà bằng đá hoa cương (granit), đã tìm thấy những biến dị phân tử đáng kể ở những gène của những tế bào ung thư, đặc biệt những biến dị liên quan đến protéine EGFR (thụ thể cho yếu tố tăng trưởng của những tế bào biểu bì : récepteur au facteur de croissance des cellules épidermiques).Thế mà EGFR là một protéine rất hoạt động, thiết yếu cho sự sống còn và sự tăng trưởng của những tế bào ung thư. Vậy liệu pháp nhắm đích chống EGFR gây nên sự chết của những tế bào ung thư. Đôi khi, những tế bào ung thư của chúng có một bất thường di truyền khác dẫn đến sự hoạt hóa bất thường của một protéine được gọi là ALK và những liệu pháp nhắm đích chống ALK có thể được đề nghị. Những điều trị thường kéo dài, với một sự theo dõi sát. Ngược lại, chưa được tìm thấy chữ ký sinh học (signature biologique) của ung thư khi nó do radon “, GS Melloni đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 11/2/2019)
Đọc thêm :
– TSYH số 414 : bài số 1 (cancers professionnels)

2. TRONG NHỮNG VÙNG CÓ NGUY CƠ, COI CHỪNG SỰ TÙ HÃM
” Trong không khí, radon hòa loãng một cách nhanh chóng, vì vậy tính phóng xạ của nó không nguy hiểm : nồng độ của nó trong không khí thường thấp hơn một chục Bq/m3 (Bq hay becquerel là đơn vị đo lường của tính phóng xạ). Nhưng trong những tòa nhà tù hãm, những nồng độ có thể vượt quá nhiều ngàn Bq/m3. Ở Limoges, là một vùng có nguy cơ (zone à risque), những nồng độ 7000 Bq/m3 trong các phòng (ngay cả 35.000 trong vài tầng hầm) đã được tìm thấy trước mọi can thiệp ở những nơi công cộng”, GS Boris Melboni, trưởng khoa phổi của bệnh viện Limoges, đã kể lại như vậy.Mặc dầu không đặt những nồng độ cao này, nhưng nhiều tòa nhà nghề nghiệp hay tư nhân vượt những định mức được áp dụng ở Pháp và đã trên những định mức được khuyến nghị ở OMS (dưới 100 Bq/m3). Nồng độ trung bình của radon trong những nhà ở là 90 Bq/m3 đối với toàn thể nước Pháp, nhưng những khác nhau là rất quan trọng từ tỉnh này đến tỉnh khác và, trong một commune, từ tòa nhà này đến nhà khác. Như thế, những người sống trong một vùng có nguy cơ không nhất thiết có một nơi ở bị ô nhiễm, bởi vì những yếu tố khác được tính đến, như tính kín giữa đất và tòa nhà, sự hiện diện của một tầng hầm hay một vide sanitaire (được thông khí hay không), tỷ lệ đổi mới không khí nội thất theo những thông gió (bị bít hay không), những cửa sổ, sự hiện diện của một thông khí cơ học,..
NHỮNG ĐỊNH MỨC MỚI
Với một trung bình chỉ 24 Bq/m3, những người đàn Paris không sợ gì hết. Điều đó khác với những người dân của các vùng đá hoa cương (zones granitiques), ở họ không hiếm tìm thấy nhiều trăm becquerels mỗi mètre cube. Thế mà chỉ thị mới của châu Âu, có hiệu lực năm 2018, từ nay buộc một sự hạ của ngưỡng radon từ 400 Bq/m3 xuống 300 Bq/m3. Những tòa nhà, cho đến nay không liên quan bởi những biện pháp phải thực thi để phòng ngừa nguy cơ radon, phải tuân thủ những định mức mới. Ngoài ra, không những phải có một bổn phận theo dõi những tòa nhà có một hoạt động dưới đất (hầm, tầng hầm), mà còn những tòa nhà nghề nghiệp nằm trong những vùng có nguy cơ. Thế mà những công trình được chủ trương trong khi những định mức bị vượt quá.
Bởi vì nồng độ radon trong một ngôi nhà dao động trong một ngày, nên điều quan trọng là phải đo, ít nhất trong 10 ngày, và tốt hơn vào mùa đông hay mùa thu, khi ta có khuynh hướng ít thông gió hơn. ” Vả lại, đó là một ý tưởng rất sai, bởi vì, để nồng độ này thấp chừng nào có thể được, điều thiết yếu là thông khí tốt hàng ngày và đừng bít một lỗ thông gió nào nào “, GS Melloni đã nhắc lại như vậy. Ý kiến này được chia sẻ bởi BS Didier Debieuvre, trưởng khoa phổi (GHRMSA de Mulhouse) : ” Một trong những sai lầm thường gặp là giam hãm các ngôi nhà trong hy vọng vọng tiết kiệm năng lượng. Trái lại, để làm tốt, phải thông gió tất cả các gian phòng, mặc dầu để vào những dòng khí ! ”
(LE FIGARO 11/2/2019)

3. ” CHÚNG TA BẮT ĐẦU BẰNG NHỮNG HÀNH ĐỘNG ĐƠN GIẢN NHẤT “
Nhiều agence régionale de santé (ARS) của những vùng đá hoa cương (région granitique) chuyen tam vào những chiến dịch thông tin, và agence régionale de santé nouvelle aquitaine duoc xem nhu là thí dụ. ” Từ năm 2000, chúng tôi đã bắt đầu làm việc với những tập thể địa phương về radon vì lẽ một sự bắt buộc phải do radon trong các trường học, những cơ sở y khoa-xã hội, những cơ sở y tế, nhiệt và trong những nhà tù, Yves Duchez, ingénieur en génie sanitaire đã xác nhận như vậy. Những sự đo radon được thực hiện khi đo trong département de Creuse đã cho thấy rằng khoảng 40% những trường học có những nồng độ trên những định mức của thời kỳ đó (hoặc 400 Bq/m3), trong đó 10% trên 1000 Bq/m3 và ngay cả 10.000 Bq/m3 ở nhà một tư nhân có một nguồn đi qua dưới tầng hầm. Khi đó nhiều hành động đã được thực hiện tùy theo từng trường hợp : cải thiện độ kín giữa những tầng hầm và những nhà có người ở, thay đổi các sàn nhà cổ cũ kỹ không kín, tối ưu hóa sự thông gió của các tòa nhà… Chúng tôi luôn luôn bắt đầu bằng những hành động đơn giản nhất và ít tốn kém nhất bởi vì, trong nhiều trường hợp, chúng cũng đủ. Ngoài sự kiểm soát cần thiết sau những công trình, những kiểm tra mới phải được làm lại mỗi 10 năm. Từ năm 2015, chúng tôi cũng đã thực hiện những chiến dịch làm nhạy cảm đại chúng, bởi vì trung bình chúng ta trải qua 7000 giờ mỗi năm trong chỗ ở của chúng ta. Để được điều đó, chúng tôi đã đề nghị một chiến dịch đo miễn phí trong 108 commune của la Creuse và của haute Corrèze với phân phát 1500 dosimètre cho các tư nhân và chúng tôi đã tìm thấy những kết quả tương tự với những kết quả của các tập thể, hoặc 40% nhà ở có những nồng độ radon trên mức quy chiếu. Tôi đã ngạc nhiên bởi sự kiện là những tư nhân thật sự không lo ngại những nồng độ radon được tìm thấy. Trong số những tư nhân liên hệ, nhiều người đã xác nhận với chúng tôi đã thiết đặt những hành động mới (như thông gió nhiều hơn), nhưng rất ít người đi đến mức dấn thân vào những công trình tốn kém hơn, nhất là khi họ vừa thực hiện những trùng tu.”
(LE FIGARO 11/2/2019)

4. CÉSARIENNE CÓ HẠI CHO MICROBIOTE.
Flore intestinale của các em bé sinh ra bằng césarienne nghèo vi khuẩn có lợi cho sức khỏe hơn.
OBSTETRIQUE. Ta nghi ngờ điều đó từ nhiều năm : cách sinh của một em bé ảnh hưởng mạnh lên lượng và chất lượng của các vi khuẩn được cho trú bởi cơ thể của trẻ sơ sinh. Một công trình nghiên cứu, thuộc loại lớn nhất, đã được thực hiện về chủ đề này ở Vương Quốc Anh. Công trình nghiên cứu đã đưa vào gần 600 trẻ em, 314 trẻ sinh tự nhiên và 282 bởi césarienne. Những vi khuẩn ruột đã được kiểm kê ba lần : 4, 7 và 21 ngày sau khi sinh. Những kết quả vừa được công bố trong Nature và những khác nhau giữa hai nhóm nhũ nhi đã làm ngạc nhiên bởi tầm quan trọng của chúng Trevor Lawlay, nhà vi trùng học chịu trách nhiệm công trình nghiên cứu.
Microbiote của các em bé sinh bằng césarienne có ít vi khuẩn hồi sinh hơn nhiều (lợi cho sức khỏe). Ngược lại, nó được xâm thực bởi những vi khuẩn bệnh viện, truyền những maladies nosocomiales. Mặc dầu những khác nhau giữa hai nhóm có khuynh hướng mờ nhạt với thời gian, nhưng chúng đã kéo dài nhiều lần. Điều đó có thể giải thích tại sao vài công trình nghiên cứu dịch tễ học gợi ý rằng những trẻ em sinh bằng césarienne có nhiều nguy cơ bị bệnh béo phì và hen phế quản hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2019)

5/ NHỮNG CHẤT GÂY RỐI LOẠN NỘI TIẾT PHẢI CHĂNG LÀ NHỮNG ĐỘC CHẤT NHƯ NHỮNG ĐỘC CHẤT KHÁC ?

Professeur Philippe Bouchard
Membre de l’Académie nationale de médecine

Hoa Kỳ, những năm 1950 : một nhà sinh học biển (biologiste marine), Rachel Carson, lần đầu tiên mô tả hậu quả của những thuốc trừ sâu (pesticide) ở những công nhân làm bông (coton) tiếp xúc với DDT.Vào năm 1962, best-seller của bà, Silent Spring, tiết lộ với thế giới rằng hành tinh của chúng ta có thể buộc phải im tiếng, vì các con chim chết vì độc tính của các thuốc trừ sâu.
Ngay năm 1991, một người đàn bà khác, nhà động vật học Theodora Colborn, cùng với những nhà khoa học khác, đưa ra lời kêu gọi Wingspread, quy tắc hóa từ ngữ “perturbateur endocrinien” (những chất gây rối loạn nội tiết), mà bà hình thức hóa khái niệm năm 1996 trong cuốn sách có nhan đề Our Stolen Future.
Những thuốc trừ sâu bệnh, bisphénol A, phtalate, dioxine, những chất hãm ngọn lửa (retardateur de flamme), những chất dẻo hóa (plastifiant), những dung môi, nhưng cũng thuốc lá…danh sách của các chất gây rối loạn nội tiết, mà ta đã đếm hàng ngàn, chưa kết thúc…Vào năm 2012, OMS đã cho một định nghĩa chính thức : ” Một chất gây rối loạn nội tiết (perturbateur endocrinien) là một chất hay một hỗn hợp ngoại tại, có những tính chất khả dĩ gây nên một sự rối loạn nội tiết trong một cơ thể nguyên vẹn, ở những hậu duệ.” Tuy vậy, vào lúc này, chúng ta không có hệ thống nhận biết (système de reconnaissance), có thể nhận diện toàn bộ nhưng cơ chế phức tạp mà những chất gây rối loạn nội tiết sử dụng. Chúng ta chỉ biết rằng đó không phải là những hormone, nhưng là những sản phẩm tổng hợp, đôi khi cũng tự nhiên, có khả năng tương tác với những voies moléculaires de signalisation des hormones : những récepteur hormonal, enzymes….Chúng ta cũng biết rằng không những tất cả chúng ta đều tiếp xúc với chúng,trong suốt cuộc sống của chúng ta, qua tất cả các loại đường, không khí, da, miệng, nhưng rằng những tác dụng của chúng là tích lũy và khả dĩ được phát hiện sau nhiều năm, thậm chí trên những thế hệ tiếp theo !
Nhưng chúng ta chỉ mới biết một phần những cơ chế làm cho chúng thành bệnh lý. Trái với những định luật của độc chất học, vài chất gây rối loạn nội tiết tỏ ra có những tác dụng có hại ở những liều rất thấp. Ngoài ra, chúng gây nên điều mà ta gọi là những “effet coctail”. Ta cũng biết rằng, nhờ concept de Dohad (Developpemental Origin of Health and Diseases), một tác dụng có hại lên môi trường có thể được phát hiện nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ sau khi tiếp xúc. Sau cùng và nhất là tất cả chúng ta không bình đẳng đối với những chất gây rối loạn nội tiết.
Các chất gây rối loạn nội tiết chịu trách nhiệm, tiềm năng hay một cách chắc chắn, sự bùng nổ của những bệnh mãn tính (ung thư, chứng béo phì, bệnh đái đường loại 2, chứng sa sút trí tuệ…).
Từ lúc thụ thai đến 2 tuổi, đứa trẻ đặc biệt dễ bị thương tổn đối với môi trường bao quanh nó và, đôi khi, tấn công nó. Đó là một thời kỳ quan trọng ảnh hưởng sức khỏe lúc trường thành của nó. Sự tiếp xúc vào thời kỳ phôi thai hay vào giai đoạn của cuộc sống với những độc chất của môi trường, những kim loại nặng hay những sản phẩm hóa học, làm rối loạn hệ nội tiết với nguy cơ làm rối loạn chuyển hóa, hệ miễn dịch và thần kinh cũng như chức năng sinh sản. Mọi sự biến đổi của sự phát triển của não của thai nhi, nhất là vào lúc đầu thai nghén, có thể làm giảm QI của đứa bé, làm dễ bệnh tự kỷ (autisme) và những rối loạn của sự chú ý. Sự sản xuất hay tác dụng của các kích thích tố giáp trạng ở người mẹ đặc biệt nhạy cảm với các chất gây rối loạn nội tiết ; thế mà thai nhi, đặc biệt não bộ của nó, để phát triển, buộc sử dụng những kích thích tố này của người mẹ, vì lẽ tuyến giáp của nó không hoạt động trước 3 tháng thai nghén. Đó là lý do tại sao những bà mẹ với một sự thiếu hụt kích thích tố giáp trạng do một sự thiếu hụt iode, cần thiết cho sự tổng hợp các kích thích tố giáp trạng, ngày xưa vốn sinh ra những “crétin” (người đần độn)…Ngày nay, các phụ nữ được cho bổ sung iode, nếu cần thiết, nhưng điều quan trọng là ưu tiên nhận diện tất cả những chất gây rối loạn nội tiết cản trở sự tổng hợp hay tác dụng của các kích thích tố giáp trạng.
Trước hết cần thận trọng, như tránh những loại thuốc không cần thiết trong thời kỳ thai nghén, tránh đun nóng các bình sữa bằng plastique để không gia tăng nguy cơ phóng thích những chất làm rối loạn nội tiết. Sau đó, và nhất là, phát triển sự nghiên cứu in vitro, nhưng cũng ở động vật. Những công trình nghiên cứu dịch tễ học là cần thiết với điều kiện liên kết những dụng cụ quan sát truyền thống với toxicologie và écotoxicologie, điều này tốn kém…Nhưng những hậu quả y tế liên kết với những độc chất của môi trường tốn khoảng 200 tỉ euros mỗi năm cho các nước của Liên Hiệp châu Âu.
Cũng như đối với sưởi nóng khí hậu, một cố gắng tập thể là bắt buộc, cũng như một ý chí chính trị thật sự, với sự thành lập, thí dụ một tổ chức châu Âu. Trong lúc chờ đợi, thông tin cho các bệnh nhân và các công nhân là chủ yếu, bắt đầu bằng đừng quy cho chất gây rối loạn nội tiết bất cứ ung thư nào để chối bỏ mọi trách nhiệm do hành vi cá nhân, nhưng cho mình nếu có thể những phương tiện để phòng ngừa tùy theo mức độ của sự nguy hiểm. Chính vì vậy nên xếp loại các PE, như Circ đã làm điều đó đối với các ung thư, thành PE avéré, PE présumés và PE possibles. Đó là điều khả thi.
(LE FIGARO 18/12/2017)

6/ PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ NHỮNG U PHỔI
Với hơn 46.000 trường hợp mới được ước tính năm 2018, ung thư phổi là một trong những ung thư thường gặp nhất, ở đàn ông cũng như ở đàn bà. Thường nhất nó phát triển từ những tế bào của các phế quản. Tùy theo nguồn gốc của những tế bào này, ta phân biệt những “cancers bronchiques non à petites cellules” (CBNPC), gần 85% những ung thư phổi, và những “cancers bronchiques à petites cellules”, ít gặp hơn nhiều nhưng thường ác tính hơn.
NHỮNG NGUY CƠ NÀO ?Chứng nghiện thuốc lá chủ động hay thụ động, là nguyên nhân đầu tiên của ung thư phổi. Thật vậy, nó có thể sinh ra những biến dị di truyền liên tiếp của tế bào của các phế quản. ” Những biến dị này là nguồn gốc của những bất thường phân tử, thoát khỏi sự kiểm soát của hệ miễn dịch, dẫn đến sự phát triển vô tổ chức của tế bào ung thư và sự tiến triển thành một ung thư phổi “, B Didier Debieuvre, thầy thuốc chuyên khoa phổi, chuyên gia về oncologie thoracique của Groupe hospitalier của vùng Mulhouse và nam Alsace, đã giải thích như vậy. Theo những nhà nghiên cứu của Unité 1018 Inserm/Université Paris Sud, thuốc lá cũng có thể biến đổi mức biểu hiện của các gène. Thế mà, cường độ của hiện tượng này tương quan với nguy cơ ung thư. ” Trong công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện, 89% các ung thư được liên kết với thuốc lá, vị thầy thuốc đã nhấn mạnh như vậy. Chúng ta cũng nhận xét rằng tất cả những người bị ung thư phổi trước tuổi 40 cũng hút cannabis : surrisque này sẽ được đánh giá trong một công trình nghiên cứu mới.”Đứng sau xa thuốc lá, ta nhận thấy một nguồn gốc nghề nghiệp trong 15% những ung thư phổi nam giới, ” chủ yếu ở những người đã làm việc với sự hiện diện của amiante, silice, nickel, chrome, cobalt, những hạt diesel hay vapeur hắc ín “, BS David Planchard, oncopneumologue ở viện Gustave-Roussy (Villejuif) đã quan say như vậy. ” Không nên quên nguy cơ môi trường liên kết với radon trong những khối núi đá hoa cương của Pháp (Bretagne, Massif central, Vosges) ; BS Debieuvre đã nói thêm như vậy. Cũng đừng đánh giá thấp nguy cơ di truyền : sự hiện hữu của một trường hợp trong gia đình là một yếu tố quan trọng.”
NHỮNG TRIỆU CHỨNG NÀO ?
Trái với một định kiến, ung thư này tiến triển một cách thầm lặng. Nó thường được biểu hiện bởi những dấu hiệu ít đặc thù (mệt, ho). Trong 70% những trường hợp, ung thư được khám phá muộn. Khi bệnh nhân đến khám vì khó thở, đau ngực, mất cân, ăn không ngon, ung thư đã ở một giai đoạn tiến triển, với những di căn.” Không một dépistage nào được tổ chức, BS Nicolas Girard, thầy thuốc chuyên khoa phổi ở Institut du thorax Curie-Montsouris (Paris) đã phàn nàn như vậy. Tuy vậy, những thử nghiệm đã cho thấy những lợi ích của một điều tra phát hiện bằng scanner ở những người trên 50 tuổi đã hút thuốc ít nhất 25 năm.”Vào năm 2016 Bộ Y tế đã đưa ra một ý kiến không thuận. Từ đó, Bộ đã bắt đầu một sự suy nghĩ đề tài đánh giá lập trường này.
CHẨN ĐOÁN NÀO ?
Khi một thầy thuốc nghi ngờ, ông ta cho thực hiện một X quang ngực và/hay một scanner ngực.Một fibroscopie được thực hiện với gây tê tại chỗ để thấy phía trong của khí quản và các phế quản và thực hiện những prélèvement (sinh thiết), duy nhất có khả năng xác nhận chẩn đoán. Sự phân tích của các tế bào và các mô cho phép xác lập profil moléculaire của khối u. Tùy theo những trường hợp, những xét nghiệm này sẽ được bổ sung bởi một sinh thiết các hạch để đánh giá sự hiện diện của các di căn, một PET Scan, một IRM của đầu và/hay một thăm dò chức năng hô hấp để khảo sát sự phân bố của chức năng phổi giữa hai lá phổi (nếu ta phải nhờ đến ngoại khoa).
ĐIỀU TRỊ NÀO ?
Điều trị tùy thuộc nơi mà ung thư định vị, loại tế bào gây ung thư và mức độ lan rộng (giai đoạn từ 0 đến 4). Điều trị được bàn bạc trong buổi họp nhất trí nhiều chuyên khoa (réunion de concertation pluridisciplinaire).Nếu khối u khu trú (30% những trường hợp) và kích thước nhỏ, nó được lấy đi bằng ngoại khoa vi xâm nhập (vidéothoracoscopie), cũng như những hạch bạch huyết lân cận để hạn chế nguy cơ tái phát. Nếu không bệnh nhân được mổ “à ciel ouvert”. Tùy theo những trường hợp, thầy thuốc ngoại khoa sẽ lấy đi một thùy phổi (lobectomie), một phần của thùy này (segmentectomie), thậm chí toàn bộ một lá phổi, luôn luôn được tiếp theo bởi một curage ganglionnaire. 3 đến 4 tháng hóa trị và/hay 6 đến 7 tuần xạ trị ngực có thể được liên kết với ngoại khoa này. Trong vài trường hợp, một hóa trị trước can thiệp cũng có thể được đề nghị để làm giảm kích thước của khối u.
Nếu có di căn hay trong cancer bronchique à petites cellules, ngoại khoa là ngoại lệ. Khi khối u không thể mổ được (vì kích thước, định vị, tình trạng của bệnh nhân…), một hóa trị, thường nhất được tiêm bằng đường tĩnh mạch mỗi hai hay ba tuần, trong 3 đến 6 tháng, được đề nghị. Nếu không có di căn, sự phối hợp với những buổi xạ trị ngực ngoài (radiothérapie thoracique externe) trong 6 đến 7 tuần sẽ được ưu tiên để cải thiện những cơ may sống còn.
AI SẼ HƯỞNG MỘT LIỆU PHÁP NHẮM ĐÍCH ?
Trong khoảng 1/3 những trường hợp, phân tích phân tử của ADN của những tế bào ung thư cho phép nhận diện một trong bốn bất thường chính chịu trách nhiệm sự phát triển của ung thư (EGFR, ALK, ROSI hay BRAF). Khi đó bệnh nhân có thể nhận một liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée). Được dung nạp tốt hơn hóa trị và nhất là hiệu quả hơn nhiều, những điều trị bằng đường miệng này cho khoảng 80% những kết quả tốt, với một hy vọng sống nhiều năm. Tuy nhiên, những tế bào ung thư cũng có thể phát triển những đề kháng. Chính vì vậy, cứ mỗi 8 tháng đến hai năm, phải thực hiện một sinh thiết mới để phân tích khối u và thích ứng điều trị.
KHI NÀO NHỜ ĐẾN MIỄN DỊCH LIỆU PHÁP ?
Đối với những bệnh nhân mà không một bất thường phân tử nào được nhận diện những hơn 1/2 những tế bào ung thư rất dương tính với thụ thể PD-1 và protéine PD-L1 (30% những trường hợp), các thầy thuốc đề nghị, từ ít lâu nay, một miễn dịch liệu pháp trước hóa trị. Đó là cuộc cách mạng thứ hai trong điều trị ung thư phổi. Được truyền tĩnh mạch ở bệnh viện, một giờ mỗi 2 đến 4 tuần, điều trị này tấn công sự “ngụy trang” của những tế bào ung thư, khi đó có thể bị tiêu diệt bởi hệ miễn dịch. ” Ta có được 50% đáp ứng và 50% sống sót lúc 3 năm, với dưới 10% những tác dụng phụ, GS Nicolas Girard đã nhấn mạnh như vậy. Các bệnh nhân tái tục hoạt động của mình và có một đời sống gần như bình thường.” Nếu sự hiện diện của PD-1 và PDL1 dưới 50%, bệnh nhân trước hết sẽ được hướng về hóa trị trước khi thực hiện miễn dịch liệu pháp. ” Trong hai trường hợp, ta sẽ tiếp tục miễn dịch liệu pháp chừng nào điều trị hiệu quả, để tránh những tái phát. Và vài bệnh nhân có khả năng được chữa lành ung thư “, BS David Planchard đã định rõ như vậy. Hiện nay 4 loại thuốc được cho phép đưa ra thị trường.
THEO DÕI NHƯ THẾ NÀO ?
Bệnh nhân thực hiện một scanner mỗi 6 đến 12 tuần để đảm bảo rằng điều trị hiệu quả. Nếu các thầy thuốc chứng thực rằng bệnh tiến triển, khi đó họ đề nghị một điều trị mới. Về những bệnh nhân thuyên giảm, họ nhận một consultation và một scanner mỗi 2 đến 3 tháng để phát hiện một tái phát.
(LE FIGARO ENQUETES. CANCER L’ESPOIR)
Đọc thêm : TSYH số 508 : bài số 6
TSYH số 497 : bài số 4
TSYH số 396 : bài số 9

7/ CÁC TRẺ NHỎ VÀ ÉCRAN : COI CHỪNG TÌNH TRẠNG CÔ ĐỘC.
58% những trẻ từ 0 đến 5 tuổi sử dụng một écran numérique, và 70% từ 3 đến 5 tuổi ! Cha mẹ ý thức về những nguy cơ cô độc(isolement) và nghiện mà điều đó có thể sinh ra, nhưng không lo ngại về nguy cơ thiếu sót tương tác trực tiếp giữa họ và các con mình. Những écran làm rối loạn những trao đổi của cha mẹ và các con, nền của sự phát triển vận động, tâm thần xã hội và tình cảm. Những cái nhìn, những hoạt động chơi trong gia đình, sự đối thoại được thích ứng tùy theo tuổi, đảm bảo sự an toàn cảm xúc và sự thức tỉnh. Chúng cho phép các trẻ nhỏ bắt chước những biểu lộ của gương mặt, tạo lại những tiếng và chữ…Những bố mẹ chính họ trung bình trải qua 18 giờ mỗi tuần trên tablette và portable, thế thì còn gì để cho những tương tác trực tiếp ? Tin rằng đứa trẻ lớn lên tốt hơn với những application numérique là sai. ” Application tốt nhất, đó là anh “, Hiệp hội nhi khoa ngoại trú và Fondation pour l’enfant đã xác nhận như vậy.
(PARIS MATCH 17-23/10/2019)

8/ TIẾNG Ù TAI : ĐIỀU TRỊ TÙY THEO TỪNG TRƯỜNG HỢPBS Gérald Fain, TMH ở Paris, hội viên của hiệp hội Coopacou (coopération acouphènes) giải thích tại sao những tiến bộ trong sự phát hiện tinh tế các acouphène cho phép điều trị tốt hơn những bệnh nhân.
Hỏi : Một tiếng ù tai (acouphène) là gì ?
BS Gérald Fain. Đó là một tiếng động ngẫu nhiên, được cảm thấy trong tai hay trong đầu, một bên hay hai bên, xuất hiện đột ngột hay từ từ, có hay không có tính nhận cảm quá mức với âm thanh (hyperacousie), thường trực hay từng hồi. Nó có thể gây nên những rối loạn giấc ngủ và/hay của tình trạng xúc cảm. Tiếng ồn đủ mọi loại : tiếng rít, tiếng xuýt, tiếng thác nước, tiếng động cơ, nồi cao áp, tiếng ve kêu, tiếng ù tai, tiếng lách tách…Nó có thể được liên kết với một bệnh thính giác hay xảy ra không do bệnh lý nào. Nó luôn luôn là hậu quả của một mất thính giác, đôi khi được che dấu, nhẹ hoặc nặng ít hay nhiều. Sự thiếu hụt này gây nên một sự tăng kích hoạt điện (hyperactivité électrique) của những vùng thính giác, khi đó sinh ra một tiếng ù tai, tương đương với một sự đau đớn và có cơ chế tương tự.
Hỏi : Có những yếu tố nguy cơ không ?
BS Gérald Fain. Những tiếng ù tai xảy ra ở 25% dân chúng, ở tất cả lứa tuổi, không nổi trội giới tính, trong đó 10% phải được điều trị.Những yếu tố nguy cơ là những chấn thương âm thanh (hòa nhạc, musique au casque…) cũng như vài tố bẩm di truyền và gia đình.Hỏi : ORL đánh giá thính giác như thế nào ?
BS Gérald Fain. Bằng hai trắc nghiệm standard.
1. Audiométrie tonale, gởi (qua một casque trên một tai rồi trên tai kia) những tiếng đơn thuần được đo bằng hertz (số rung âm thanh mỗi giây), đi từ những tần số trầm (125, 250, 500Hz) đến cao (1000, 2000, 4000 và 8000 hz). Tai người bình thường nghe từ 20 Hz đến 20.000 Hz. Những rung âm càng nhanh, tiếng càng cao. Ngay khi bắt đầu nghe, bệnh nhân phải báo điều đó cho thầy thuốc.
2. Audiométrie vocale, được thực hiện trong im lặng và trong tiếng ồn, trên mỗi tai rồi cả hai tai. Trắc nghiệm nhằm bắt nhắc lại một danh sách các chữ mà ta gởi cho bệnh nhân ở những cường độ khác nhau, được đo bằng décibel (dB). Giọng nói thì thào (voix chuchotée) là 20 dB, voix parlée là 40 dB, đường phố là 70 dB, máy sấy tóc và máy hút giữa 80 và 90 dB, những công trình hay những tiếng còi trong đường phố 110 dB, một máy bay cất cánh 130 dB. Những mất thính giác được đo trên những tần số 500, 1000, 2000 và 4000 Hz tùy theo décibels. Bình thường ta nghe dưới 20 dB. Chung quy lại, ta sẽ nói thính giác bình thường hay không và mức độ mất thính giác.
Hỏi : Những tiến bộ được thực hiện trong cách phát hiện ?
BS Gérald Fain. Hiệp hội Coopacou (coopération acouphènes), groupe pluridisciplinaire de professionnels de santé, điều trị khắp nơi ở Pháp rối loạn này, đã công bố trong một tạp chí quốc tế lớn một công trình nghiên cứu trên 120 bệnh nhân. Công trình này lần đầu tiên đã cho thế giới thấy lợi ích thực hiện trong trường hợp acouphènes với audiogramme bình thường (10% những trường hợp) một audiométrie haute définition cho phép phát hiện những microperte auditive mà audiométrie standard không phát hiện. Chúng tôi đã khám phá rằng những trường hợp mất thính giác này thường bị che dấu giữa 4000 và 12.000 Hz. Với điều kiện có dụng cụ thích đáng, sự thăm dò dài và chán ngắt của vùng này, mà những audioprothésiste Coopacou thành thạo, cho phép định vị encoche fautive và điều chỉnh một cách chính xác appareillage bằng cách khuếch đại ngưỡng thính giác ở mức của nó. Kết quả : sự điều chỉnh của microperte auditive xóa tức thời tiếng ù tai ! Thêm vào những tiến bộ y khoa và những tiến bộ của những máy thính giác hiện nay, bước tiến này lấp một khoảng trống. Từ nay bình thường hóa tất cả các dạng acouphène là có thể.
(PARIS MATCH 17/10-23/10/2019)

9/ LOÉT VÀ UNG THƯ : ĐIỀU TRỊ KỊP THỜI BẢO VỆVi khuẩn Helicobacter pylori, chịu trách nhiệm phần lớn loét dạ dày-tá tràng và ung thư dạ dày, được loại bỏ trong vòng 15 ngày bởi sự phối hợp của một kháng sinh (amoxicilline) và một chất kháng toan (oméprazole). Một công trình nghiên cứu của Trung Quốc đã cho thấy, bằng soi dạ dày đều đặn từ 1995 đến 2007, ở hơn 3300 bệnh nhân, của một vùng ở đó ung thư dạ dày thường gặp, rằng điều trị được thực hiện kịp thời đảm bảo một sự bảo vệ ít nhất 22 năm !
(PARIS MATCH 24/10-30/10/2019)

10/ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THẦN KINH Ở NHÀ TRÊN MÀN ẢNH
8 triệu người ở Pháp liên hệ bởi loại phục hồi chức năng này : những nạn nhân của tai biến mạch máu não hay hay của thoái hóa thần kinh (Alzheimer, Parkinson, Xơ cứng rải rác) và những người già mất autonomie. Bị đầy ứ, hệ y tế của chúng ta không còn đáp ứng nữa với yêu cầu. Để cứu chữa điều đó, GS Gilles Kermoun, chuyên gia về y khoa vật lý, đã phát triển qua société Neuradom một service personnalisé de télé-rééducation tại gia, được điều khiển từ xa (AutonHome) : nó gồm một écran connecté, được trang bị bởi một capteur 3D, đề nghị bệnh nhân những bài tập vui chơi, được lên kế hoạch bởi kinésithérapeute và được điều chỉnh theo khả năng của bệnh nhân. Những hiệu năng được truyền cho thầy thuốc thực hành. Những công trình nghiên cứu đã cho thấy tính hiệu quả của phương pháp này, thỏa mãn 90% những bệnh nhân.
(PARIS MATCH 24/10-30/10/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/11/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s