Thời sự y học số 516 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SỰ KHÁM PHÁ THÂN THỂ CON NGƯỜIỞ Tây phương, đó là một sự tìm kiếm gian khổ, bị cấm đoán lâu dài. Sự việc mở một thân thể làm sợ hãi. Há ta không có nguy cơ thấy linh hồn hay sao ? Vào năm 1300, giáo hoàng Boniface VIII đã xác nhận một cách rõ ràng lập trường của Giáo hội : ” Phải bằng lòng với những tử thi động vật, chúng không có linh hồn. Những người muốn vi pháp luật lệ này làm điều đó nguy hại đến tính mạng mình.” Vậy những phẫu tích vẫn là những trường hợp ngoại lệ. Vì không thể khảo sát, cơ thể học được tưởng tượng, được tổ điểm bởi nhiều quan niệm tôn giáo (thí dụ người đàn ông có một xương sườn ít hơn, xương sườn này Thượng đế đã lấy ở Adam để tạo ra Eve) và dĩ nhiên hoàn toàn sai.
Ngọn gió của thời kỳ Phục Hưng tạo thuận cho một phương pháp mới. Sinh năm 1514 ở Bruxelles, André Vésale, được phú cho một đầu óc tỉ mỉ và bền bỉ, tự định cho mình mục đích là tiết lộ cho thế giới một cơ thể học thật sự của con người. Chính với sự nguy hiểm cho tính mạng của mình mà người con trai của người dược sĩ đã bắt đầu những công trình của mình, bằng cách vào ban đêm thăm viếng các nghĩa trang để lấy cắp các tử thi và phẫu tích chúng dưới ánh sáng của những ngọn đuốc. Ông trở thành thầy thuốc của Charles Quint và xuất bản, vào năm 1543, điều là tác phẩm y học lớn nhất của thế kỷ XVI : “De humani corporis fabrica”. Tác phẩm này sửa chữa phần lớn những sai lầm cơ thể học của quá khứ, bác bỏ những niềm tin sai lạc (như xương sườn thiếu) và, phần lớn, gần chính xác. Bị ganh tị bởi những thầy thuốc của thời đại ông, bị chỉ trích vì đã tranh cãi những lý thuyết của thời đại ông và Giáo hội, ông bị buộc tội đã “cơ thể học” một người sống và bị kết án tử hình, một hình phạt mà Charles Quint, vì tình bạn, đã chuyển thành lưu đày.
Phải còn gần một thế kỷ để không khí trí tuệ trên lục địa được lành mạnh hóa. Những đại học đói kiến thức. Cơ thể học theo Vésale xuất hiện, dầu người ta muốn hay không, như một kiến thức thật sự. Sau 1650, những phẫu tích được thực hiện thường xuyên và đều đặn hơn. Đó là thời kỳ của những bài học cơ thể học. Những buổi học này được tổ chức vào mùa đông để tránh những dịch bệnh. Những điều cấm kỵ tan biến đi và khuynh hướng là hướng về những điều thái quá ngược lại. Cơ thể học làm say mê, kích thích sự tò mò. Vào năm 1659, ở trường y Pari, đối với một bài học trên cơ thể của một phụ nữ, đã có nhiều thinh gia đến độ giảng đường và sân trường đầy người !
Ở khắp nơi trên châu Âu, các nhà cơ thể học trở thành thời thượng. Vài trong số họ mơ ước có thể nhuộm màu những huyết quản để theo tốt hơn tính liên tục của chúng và làm dễ sự xác định vị trí của chúng.Người đầu tiên tiêm một chất dịch có màu vào những tử thi là người Hòa Lan Reinier De Graaf. Nhưng ông ta vấp phải một khó khăn : chất nhuộm thâm nhiễm trong các mô và bay hơi.
Chính khi đó mà Jan Swammerdam, một người flamand khác, có ý định sử dụng một chất có màu nhưng nóng, chất này khi lạnh có thể đông đặc lại. Ông không khai thác ý tưởng này nhưng may mắn thay người bạn tốt nhất của ông Frederic Ruysch am tường phương pháp.
Frederic Ruysch hoàn thiện nó và có được những bộ phận có chất lượng tốt. Ông ta làm cho thấy được những huyết quản vượt trên tất cả điều mà ta đã quan sát trước đây. Ở Amsterdam ông thành lập viện bảo tàng cơ thể học đầu tiên. ” Những thân thể vẫn giữ sắc, nước bóng, vẻ tươi tắn của tuổi xuân. Ta xem chúng là những người sống đắm chìm trong một giấc ngủ say “, theo một người thăm viếng. Tốt hơn những momie, theo Fontenelle, con người dường như tiếp tục sự sống trong những người này và chết trong những người khác.”Vào năm 1698, xa hoàng Pierre de Russie, khi ghé qua Hòa Lan, bị ấn tượng khi trở ra từ bảo tàng viện. Kinh ngạc vì vẻ đẹp của một đứa bé cười với ông và dường như sống hơn là chết, ông đã ôm hôn nó…Bị xúc động mạnh, ông đã quyết định mua bộ sưu tập rùng rợn, hoặc tổng công 1300 mẫu. Nhưng khi các bộ phận đến Peterbourg bằng tàu thủy, chúng bị thối hỏng. Các thủy thủy trên tàu đã uống hoàn toàn rượu trắng cần thiết để bảo tồn chúng. Khi đó, mặc dầu đã 80 tuổi, Ruysch, đã có quá nhiều danh vọng đến độ đã kế nghiệp Newton ở Viện hàn lâm khoa học Paris, lại bắt đầu công việc. Nhưng ông đã qua đời ít lâu sau đó.
Nghệ thuật của các chế phẩm cơ thể học còn sống một thế kỷ sau khi ông qua đời nhưng có một dạng vẻ mới : dạng vẻ của những thân thể bị lột da được làm đông lại trong xi, trong đó có những bậc thầy là người Ý. Những bậc thầy nổi tiếng nhất sống ở Florence và có tên là Fontana, Mascagni. Bộ sưu tập đẹp của châu Âu đã đạt tới chúng ta gần như nguyên vẹn. Ta có thể thấy nó ở Académie de Vienne. Viện này được thành lập năm 1785 bởi hoàng đế Áo Joseph II để cho những nhà phẫu thuật quân đội được dạy cơ thể học. Ngày nay, một người duy nhất lưu truyền nghệ thuật này : Gunther von Hagens, giáo sư cơ thể học người Đức.Tính lâu dài của những người bị lột da của ông được đảm bảo bởi một kỹ thuật đồ ông phát minh, plastination.Cũng như Ruysch, ông đạo diễn những nhân vật của mình. Những triển lãm vừa nghệ thuật vừa giáo dục đi khắp thế giới. Chúng được xem bởi hơn 47 triệu người, khi thì bị mê hồn khi thì thấy bực mình. Được xem là sỗ sàng, chúng bị cấm ở Pháp. Đúng hay sai, tùy mỗi người phán xét
(PARIS MATCH 1/8-7/8/2019)
Ghi Chú
– Reinier de Graaf (1641-1673) : thầy thuốc và nhà sinh lý học Hòa Lan. Ông thực hiện những công trình khoa học đầu tiên trên tụy tạng và đã khám nhung follicule của buồng trứng
– Jan Swammerdam (1637-1680) : entomologiste Hòa Lan. ông chuyên tâm nghiên cứu cơ thể học và sự biến thái của các côn trùng
https://www.youtube.com/watch?v=7WRcxZzO_co (André Vésale)

2/ LENTILLE, ĐỒ HÓA TRANG, ĐỒ NỮ TRANG…NHỮNG NGUY HIỂM CỦA NHỮNG KHUYNH HƯỚNG MỚI.
Những accessoires de beauté mới không phải là không có nguy cơ đối với da.COSMETOLOGIE. Vài ngày có thể đủ để những vấn đề bộc phát. Khi Mardi gras sắp đến, vài người có lẽ muốn mang những lentille kiểu lạ để có đôi mắt mèo hay zombie.” Được mua trên internet hay trong các boutique de farces et attrapes, mà không khám mắt trước, những lentille thường bị quy gây nên những áp xe của giác mạc. Những người mua chúng phần lớn đã không bao giờ học đặt và lấy lentille ra. Nếu họ hóa trang với waterproof, những hạt cũng có thể qua dưới lentille và làm thương tổn giác mạc của họ. Nếu họ không thấy chúng, nguy cơ nhiễm trừng gia tăng. Điều đó có thể dẫn đến mất thị giác và đôi khi cần ghép giác mạc.
” Vấn đề lớn, dĩ nhiên đó là sự vắng mặt hoàn toàn thông tin về tầm quan trọng của vệ sinh”, BS René Mély, chủ tịch của European Lens Society of Ophthalmologists ở Munich, đã xác nhận như vậy, ” Vì các thiếu niên không có một ý thức nào về nguy cơ, đôi khi chúng bảo quản những lentille này trong nước của robinet, gần như luôn luôn bị ô nhiễm bởi các amibe hay bởi những vi khuẩn phát xuất từ các ngón tay của chúng. Những contactologue như thế phải xử trí những trường hợp bi thảm mất thị giác. Từ nhiều năm nay hiệp hội của chúng tôi đấu tranh bên cạnh Union européenne des médecins spécialistes, những hiệp hội các opticien và của những nhà chế tạo lentille (Euromcontact) để chúng được xếp loại như là những dispositif médical (trường hợp của những lentille correctrice) và do đó được chế tạo và phân bố một cách an toàn.
(LE FIGARO 5/2/2018)

2/ KHI QUẦN ÁO TRỞ THÀNH NHỮNG DỊ ỨNG NGUYÊN
Quá chật, các quần dài có thể cản trở sự lưu thông tĩnh mạch. Tổng hợp, quá dính (collant) hay quá nhỏ (string), những quần áo lót có thể đóng một vai trò trong sự xuất hiện những nhiễm trùng âm đạo và đường tiểu ở những phụ nữ dễ bị điều đó. Nhưng cũng như đối với những mỹ phẩm, vấn đề lớn nhất vẫn là vấn đề dị ứng tiếp xúc (allergie de contact).
Nhiều dị ứng nguyên có thể bị buộc tội trong những vải dệt : para-phénylènediamine (PPD), đã bị cáo buộc trong những dị ứng với màu nhuộm sẫm và đôi khi trong những quần áo đen, có thể là nguyên nhân, cũng như những chất nhuộm được sử dụng để pha màu những sợi kỵ nước.
” Khi một dị ứng với PPD đã phát ra, mọi tiếp xúc mới với một sản phẩm chứa nó ngay cả ở những nồng độ được cho phép sẽ dẫn đến một phản ứng càng ngày càng rõ rệt. Khi đó bắt đầu một con đường thập tự giá dài để tránh sự tiếp xúc với caoutchouc (poignée de vélo, botte), những tuyaux de pompe à essence, nhiều vải dệt (như những quần jean), những chất xi (cirage), plastique, mực in,…, có thể chứa PPD. Dị ứng với PPD có thể ngay cả là đối tượng của một dị ứng chéo với những dẫn xuất PABA (những dẫn xuất của acide para-aminobenzoique) của các crème solaire “, BS Catherine Quequet, allergologue (Hauts-de-France) đã nhấn mạnh như vậy. Để giới hạn những nguy cơ, những quần áo đủ loại, thường nhất có màu nhạt, chứa ít sắc tố màu, đã được phát triển, như DermaSilk, Dooderm hay Cool-Lite
TESTS CUTANES
Về phía giày, ” những chất nhuộm, chrome, keo, nhựa thông của các vải dính và các chất xi, những tác nhân để chế tạo caoutchouc… cũng có thể gây eczéma de contact, chủ yếu trên lưng của các bàn chân, BS Quequet nói tiếp.Khi đó mảng đỏ, ngứa và đôi khi những mụn nước sẽ tồn tại chừng nào sự tiếp xúc với dị ứng nguyên kéo dài. Thầy thuốc chuyên về dị ứng (allergologue) phải tiến hành điều tra cho đến khi nhận diện thủ phạm nhờ những trắc nghiệm da “.
Con về các vật phụ tùng (accessoires), tất cả tùy thuộc nguồn gốc của chúng : nếu những dị ứng của những bijou fantaisie hôm nay được quy định hơn để tránh những phản ứng với nickel, những môn đồ của bijou vintage, được tìm thấy trên thị trường hạ giá, không được bảo vệ. Cũng bị liên hệ là những quần áo cũ với một boucle de ceinture hay nút bằng nickel và/hoặc một fermeture éclair bằng kim loại.
” Điều gay go là tìm ra thủ phạm, vì danh sách của điều có thể gây một allergie de contact là dài, BS Catherine Quequet đã chỉ rõ như vậy. Nhưng không có lựa chọn nào khác bởi vì sự loại bỏ buộc phải dứt điểm. Thật vậy, mọi tiếp xúc mới với một dị ứng nguyên, trong quá khứ, kể cả 20-30 năm trước đó, đã gây một allergie de contact, sẽ gây nên không sớm thì muộn một eczéma mới : ta không đánh lừa những tế bào của chúng ta liên hệ trong đáp ứng dị ứng.
(LE FIGARO 5/2/2018)

3/ 3 KHÁM PHÁ VỀ TESTOSTERONE.
Được sản xuất ngay tuần lễ thứ mười hai của đời sống trong các tinh hoàn và với lượng ít hơn trong các buồng trứng, testostérone có những tác dụng mạnh lên sự phát triển sinh dục của các cháu trai. Nhưng không chỉ có vậy…3 công trình nghiên cứu chứng minh rằng những tác dụng của kích thích tố này không giới hạn ở sự biệt hóa của các bộ máy sinh dục.
1. Testostérone bảo vệ các thai nhi nam.
Nhờ những tính chất chống viêm đã được biết, testostérone ngăn ngừa những sẩy thai gây nên bởi một sự bất ổn định di truyền. Những nhà nghiên cứu của đại học Cornell, ở Hoa Ky, đã nhận thức rằng trong một dòng chuột rất bất ổn định về mặt di truyền, sinh nhiều chuột con hơn là chuột cái. Công trình nghiên cứu đã thành công phát hiện vai trò bảo vệ của testostérone lên những thai nhi nam : nó tránh cho chúng khỏi bị thải bỏ bởi người mẹ trước khi đủ tháng. Ngược lại, những con cái, vì không được bảo vệ bởi testostérone, không sống sót thai nghén
2. Testostérone biến đổi sâu não bộ
Bằng cách tiêm vào các con chuột cái testostérone trong những ngày đầu của cuộc sống của chúng, một kíp nghiên cứu của đại học Maryland đã thành công làm cho chúng theo những lối chơi (comportement de jeux) tương tự với những lối chơi của các con chuột nam. Thật vậy, testostérone tương tác với hệ miễn dịch của não : microglie. Khi đó microglie này ngốn nhiều astrocyte (những tế bào điều hòa của các neurone) hơn. Kết quả : các neurone của các con chuột nam dễ bị kích thích hơn, điều này làm cho chúng ham thích chơi hơn.
3. Testostérone có những hậu quả lên đời sống của phụ nữ.
Những phụ nữ bị tiếp xúc với testostérone của trẻ sinh đôi trong bụng mẹ chịu những hậu quả suốt cuộc đời. Theo Norwegian School of Economics, những phụ nữ Na Uy đã có một trẻ sinh đôi nam, có ít cơ may hơn học hết đại học, cưới chồng hay có con. Những công trình nghiên cứu khác đã cho thấy rằng testostérone biến đổi những hành vi của các phụ nữ đã bị tiếp xúc với kích thích tố này. Tác dụng này gây nên một sự chênh lệch với những mong chờ của xã hội, cuối cùng khiến những thiếu nữ này bị thua kém.
(SCIENCE & VIE 6/2019)

4/ GIẤC NGỦ CHO PHÉP SỬA CHỮA CÁC TẾ BÀO THẦN KINH.
Lần đầu tiên người ta đã quan sát tác dụng của giấc ngủ ở bên trong những tế bào, lên ADN nhiễm sắc thể của các tế bào thần kinh. Sau khi đã cố định những protéine fluorescente lên những nhiễm sắc thể của cá, một kíp nghiên cứu Israel đã có thể khảo sát những chuyển động của chúng : ” Khi những con cá thức tỉnh, động thái của các nhiễm sắc thể của chúng bị giảm bớt bởi hoạt động não của chúng. Hoạt động này gây tổn hại ADN, đến độ có thể dẫn đến sự chết tế bào, David Zada, thành viên của kíp đã giải thích như vậy. Nhưng khi chúng ngủ, những cử động của các nhiễm sắc thể gia tăng trở lại, điều này cho phép chúng sửa chữa vài biến thái.” Một chức năng của giấc ngủ dường như được dành cho các tế bào thần kinh. ” Điều đó hợp lý : chúng tác động theo mạng và không thể đi vào trạng thái bảo trì mà không làm xáo trộn những luồng thần kinh “, nhà nghiên cứu đã chỉ như vậy. Sự xuất hiện của giấc ngủ phát xuất từ sự cần thiết sửa chữa một cách đồng thời những neurone của cùng một mạng.
(SCIENCE & VIE 6/2019)

5/ CẤP CỨU NHÃN KHOA : NHỮNG BIỆN PHÁP TỐT
Những yêu cầu điều trị cấp cứu đối với mắt rất thường gặp. GS Jean-Louis Bourges, phụ trách cấp cứu nhãn khoa ở bệnh viện Cochin, Paris, giải thích những khía cạnh khác nhau của điều trị này.
Hỏi : Ở Pháp, mỗi năm có bao nhiêu yêu cầu cấp cứu ?
GS Jean-Louis Bourges. Mọi vấn đề mắt, có thể ảnh hưởng tiên lượng liên kết với thị giác, thẩm mỹ hay sự thoải mái thị giác, là một cấp cứu tiềm năng (urgence potentielle). Có gần 10 triệu demande de soins hay avis urgents non programmée : 80% được xem trước tiên bởi các dược sĩ (5,5 triệu) hay những thầy thuốc đa khoa (3 triệu), 20% bởi những thầy thuốc nhãn khoa tự do hay những cơ sở cấp cứu (cliniques, hopital)
Hỏi : Những triệu chứng được quan sát là gì ?
GS Jean-Louis Bourges. 4 dấu hiệu, thường nhất riêng rẻ, động cơ của yêu cầu khám bệnh : một mắt bị đau (40% những trường hợp), một sự biến đổi thị giấc (20%), một mắt đỏ (20%), chảy nước mắt (5%). Trong 15% những trường hợp, những dấu hiệu thay đổi hơn, thậm chí rất khác nhau, làm cho chẩn đoán khó. Khi đó chúng đòi hỏi ý kiến của một chuyên gia. Cũng vậy khi hai dấu hiệu thường gặp liên kết, nhất là một mắt đau và một giảm thị lực.
Hỏi : Đó là những bệnh lý gì ?
GS Jean-Louis Bourges. Thường nhất đó là những viêm kết mạc (conjonctivite), những nhiễm trùng và phù của các mí mắt, và những nhiễm trùng của giác mạc (được gọi là kératite infectieuse), trong đó 4% được liên kết với những lentille de contact. Những chấn thương (đụng dập, những vật lạ trong giác mạc, những vết thương khác nhau…) chỉ chiếm 16% những trường hợp. Tổng cộng, 42% những cấp cứu là những trường hợp nghiêm trọng (sérieux) và 10% trong số chúng là những trường hợp nặng. Những trường hợp này (4% những bệnh nhân) được nhập viện (trung bình 3 ngày đến 3 ngày rưởi). Một thiểu số được mổ, nhất là vì bong võng mạc, đôi khi vì những vết thương của nhãn cầu, của mí mắt và/hoặc của đường lệ, hiếm hơn vì bỏng, hoặc tổng cộng dưới 1% tất cả những trường hợp cấp cứu.Hỏi : Làm gì trong trường hợp viêm kết mạc ?
GS Jean-Louis Bourges. 8 trường hợp trên 10 nguồn gốc virus (nhất là adénovirus), thường được liên kết với một nhiễm trùng ORL cùng loại và rất lây nhiễm. Những khuyến nghị là rửa mắt một hay hai lần mỗi ngày với huyết thanh sinh lý, cấm dùng kháng sinh và corticoides tại chỗ và tránh làm lây nhiễm những người thân cận (rửa tay, không siết tay những người khác cũng như không ôm hôn họ, dùng những khăn tay vứt đi sau khi dùng…). Nếu, ngày thứ 5, những dấu hiệu tồn tại với, thêm vào đó, sợ ánh sáng hay giảm thị lực, phải khám một thầy thuốc.Những viêm kết mạc khác là dị ứng ; phải rửa mặt và, nếu có thể tránh tiếp xúc dị ứng nguyên gây bệnh. Những viêm kết mạc cũng có thể là vi khuẩn (mạnh hơn viêm kết mạc siêu vi trùng, với những dịch tiết màu trắng) : khi đó ta điều trị chúng bằng kháng sinh tại chỗ.
Hỏi : Còn đối với những thương tổn mí mắt ?
GS Jean-Louis Bourges. Thường gặp nhất là :
1. Mụt lẹo (orgelet), một điểm trắng nhỏ ở đáy của một lông mi (nhiễm trùng do tụ cầu khuẩn vàng), không được gây chấn thương bằng cách sờ nó bởi vì nhiễm trùng khi đó có thể lan rộng.Mụt lẹo chữa lành trong ba hay bốn ngày với một kháng sinh tại chỗ có chất nền là acide fusidique.
2. Chalazion, một hòn nhỏ đau và viêm, mà ta sờ thấy trong bề dày của một mí mắt tiết một chất dịch (meibum).Để điều trị nó : compresses chaudes trên mí mắt, pommade corticoide và massage doux để thảo sạch tuyến. Chalazion chữa lành trong 2 hay 3 tuần. Đôi khi nó kết nang và ta lấy đi bằng ngoại khoa đơn giản.
(PARIS MATH 26/7-1/8/2019)

6/ CRÈME ANTIRADIOACTIVITE : CHẤT KHỬ NHIỄM HIỆU QUẢ
Lúc xảy ra những tai họa trong những nhà máy nguyên tử, như những nhà máy nguyên tử của Tchernobyl (1986) hay của Fukushima (2011), nhiều chất phóng xạ (plutonium, uranium, césium, strontium, thorium, cobalt) được phóng thích trong không khí bởi những lò phản ứng đang nóng chảy và làm ô nhiễm con người ở gần đó (10 km). 15 phút cũng đủ để chúng đi vào trong cơ thể và phát ra những bức xạ gây những biến dị di truyền có thể gây ung thư. Điều trị cấp cứu là rửa nhanh cơ thể bằng nước xà phòng. Nhưng nó chỉ loại bỏ 40% tính phóng xạ. Một phòng thí nghiệm Pháp (Cevidra) đã hiệu chính một crème chứa những những viên bi Calixarène, chất có khả năng bắt, sau khi làm ướt vùng được xử lý, 80% những chất cặn phóng xạ trên da. Một lần rửa lấy đi 40% tính phóng xạ da và 4 lần rửa, đến 95% !
(PARIS MATCH 4/7-10/7/2019)

8/ PHẢI CHĂNG LUÔN LUÔN CÓ MỐI LIÊN HỆ GIỮA SỨC KHOẺ VÀ MÔI TRƯỜNG ?

Pierre Benoit
Membre correspondant de
l’Académie nationale de pharmacie

Minimata, một thành phố ven biển nhỏ của Nhật Bản : 13.000 nạn nhân, trong đó 900 tử vong trong số những dân chài của cái vịnh bị ô nhiễm giữa năm 1932 và 1966 bởi 400 tấn thủy ngân được đổ vào bởi một nhà máy hóa dầu. Vào năm 2009, lần đầu tiên, bệnh Minimata tạo mối liên hệ giữa sức khỏe và sự ô nhiễm của môi trường theo ý nghĩa mà chúng ta quan niệm hôm nay.
Ngay thế kỷ thứ IV trước công nguyên, Hippocrate, người cha của y khoa, viết trong chuyên luận nhan đề Airs, eaux, lieux : ” để đào sâu y học, trước hết nhìn kỹ các mùa, biết chất lượng của nước, của gió, khảo sát những tình trạng khác nhau của đất và lối sống của những người dân.” Chính vào thế kỷ XIX mà người ta đã thiết đặt ở Pháp quy chế vệ sinh hiện đại, với sự thành lập một hội đồng vệ sinh (conseil de salubrité) vào năm 1802, tiếp theo bởi Comité supérieur de Santé vào năm 1822.
Như thế ra đời một lãnh vực mới của Y tế. Vào năm 1848, Rudolf Virchow phát hiện tác dụng phối hợp của nạn đói và bệnh tật nhân trận dịch lớn của typhus ở Haute Silésie ; ở Pháp, Louis-René Villermé tố cáo sự nghèo nàn là nguồn gốc của những bệnh nhiễm trùng và đòi biểu quyết vào năm 1850 một đạo luật chống những nhà ở hại sức khỏe, nhưng chính ở Anh mà John Snow, trái với những lý thuyết thống trị thời đó, và trước cả khi vibrion cholérique được nhận diện bởi Robert Koch vào năm 1883, rút ra từ những quan sát của mình lý thuyết theo đó nước là vecteur của dịch bệnh choléra ở Londres. Chúng ta ở năm 1855, dịch tễ học được sinh ra đời…Nhưng chúng ta chỉ nói vệ sinh (hygiène) nhân danh y tế công cộng (santé publique).
Trước những vaccin, đóng một vai trò quyết định trong sự cải thiện y tế công cộng, và trước những kháng sinh, vệ sinh công cộng (hygiène publique) đã cho phép làm hạ 3/4 tỷ lệ tử vong do những bệnh nhiễm trùng. Nhưng cuộc cách mạng công nghiệp làm di chuyển vô khối dân vùng nông thôn lên thành thị, ở đây họ chịu những tác hại của môi trường vệ sinh mới. Những mỏ than sinh sôi nẩy nở nhiều, như những mặt tiền cũ bằng gạch bị bôi đen chứng tỏ điều đó. Dickens và Zola tố cáo những điều kiện sống của các công nhân, nhưng, ngay cả ở thôn quê, hóa học là dấu hiệu của sự hiện đại, như trong hiệu thuốc của M.Homaic, ở đây người ta hoàn toàn tin vào những tính năng của arsenic. Emma Bovary đã không sống sót điều đó..Rồi, lúc chiến tranh cũng như lúc chiến tranh…Những cuộc chiến nối tiếp nhau và cũng hành hạ môi trường. Cuộc chiến 14-18 không do dự sử dụng dồi dào những chất gây ô nhiễm : thủy ngân của các mồi lửa, những dẫn xuất nitré của các thuốc nổ, arsenic của khí chiến đấu…Chiến tuyến khi đó vẫn còn mang những di chứng. Những mỏ than hoạt động toàn công suất, xăng chiến tranh Đức được sản xuất bằng tổng hợp và DDTnổi tiếng. DDT được sử dụng ở châu Âu lần đầu tiên vào tháng giêng 1944 để ngăn chặn một trận dịch typhus ở Naples và nhanh chóng được sử dụng như là thuốc trừ sâu số 1 trước khi trở thành kẻ thù số 1 của những người bảo vệ môi trường. Để thoát ra khỏi đống gạch của thời hậu chiến, một khẩu lệnh : năng suất. Kế hoạch khai thác mỏ than lại đẩy mạnh bộ máy kinh tế với cái giá của sự thêm vào silicose. Trong các cánh đồng người ta không do dự sử dụng dồi dào phân bón để gia tăng sự sản xuất, mặc dầu những hậu quả của sự dùng tích cực các thuốc trừ sâu ở những nông gia, nhất là trong các ruộng nho, bắt đầu được cảm thấy. Thật vậy, tất cả những phân bón azote không được sử dụng bởi cây cối, và các di hại di chuyển vào trong lớp nước giếng (nappe phréatique). Nhưng, Trente Glorieuses trước hết ca tụng sự tôn thờ cái mới và tốc độ, dù phải đóng các nhà máy, gia tăng những vị trí địa hình bị ô nhiễm bởi cadmium, kẽm và chì…Chì, do phát ra một trận dich nhiễm độc chì (saturnisme) trong số những con bò gặm cỏ ở bên bờ xa lộ, sẽ là nguồn gốc, trong những năm 90, của một trong những biện pháp sinh thái đầu tiên : essence sans plomb ở các bơm xăng.
8.1.1971 : tiếp theo sau làn sóng đổi mới của sinh thái học, nước Pháp lần đầu tiên có một bộ Môi Trường. Nhưng phải đợi năm 2004 để một hiến chương về môi trường được ban bố, trong đó có ghi ” quyền của mỗi người sống trong một môi trường tôn trọng sức khỏe “. Giữa lúc đó, dưới áp lực của những tai tiếng y tế, như bệnh bò điên (maladie de là vache folle), rồi để đáp ứng với những thách thức hành tinh mới như khí hậu, những kỹ thuật đo lường được cải thiện. Spectrométrie de masse, chromatographie gazeuse ou liquide haute pression từ nay cho phép định lượng rất tinh tế những độc chất.
(LE FIGARO 19/11/2018)
Đọc thêm : TSYH số 491

9/ BỆNH LYME : CHO MỘT CHẨN ĐOÁN TỐT HƠN.
Rất đáng sợ, bệnh Lyme tuy vậy có thể chữa lành nếu nó được điều trị kịp thời. GS Eric Caumes, trưởng khoa những bệnh nhiễm trùng và nhiệt đới, bệnh viện Pitié-Salpêtrière, Paris, cho những lời giải thích và những lời khuyên :
Hỏi : Bệnh nhiễm trùng này là do gì ?
GS Eric Caumes : Do vi khuẩn Borrelia burgdorferi, ở Pháp được truyền do bị chích bởi Ixodes ricnus, một loại tique.Những vùng dịch mạnh là Alsace, Lorraine và Massif central. Ta thường bị nhiễm trong rừng hay trong những cỏ cao, ở thôn quê. Những ổ chứa động vật (rongeur, cervidés…) vận chuyển các tique. Chỉ những tique được tách trong thiên nhiên, hiện diện trên một lá cây hay trên cỏ, mới có thể bám vào quần áo hay da của người đụng chúng, chích họ để được nuôi sống bằng máu của họ và chích cho họ vi khuẩn.
Hỏi : Bệnh tiến triển như thế nào ?
GS Eric Caumes : Một giai đoạn tiềm phục im lặng từ 3 đến 30 ngày sau khi bị chích, có thể không được nhận biết. Sau đó xuất hiện một érythème migrant : đó là một vết da đỏ lan ra về phía ngoại biên (đạt đến 5 cm đường kính và có thể có dạng một quầng đỏ : halo rouge).
Nó không ngứa, không kèm theo sốt và nằm ở nửa dưới của thân thể (bụng, các cẳng chân). Nó biến mất trong vài tuần. Nhiều tuần hay nhiều tháng sau, những biểu hiện thần kinh hay phong thấp (hiếm khi da, tim hay cổ) phát triển và tiến triển nhanh ít hay nhiều. Một viêm khớp đầu gối thường gặp (50% những trường hợp), cũng như viêm của một rễ thần kinh của tủy sống (radiculite) ở một bên, nguồn gốc của một đau giống với đau của zona. Đôi khi hiện hữu một liệt mặt (nhất là ở trẻ em), những dấu hiệu màng não, ngoại lệ những dấu hiệu não. Tình trạng tổng quát thường được bảo tồn.
Hỏi : Những dấu hiệu lâm sàng có đủ để xác lập chẩn đoán ?
GS Eric Caumes : Không ! Tôi có bằng cớ về điều đó một công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện trên 300 bệnh nhân đã đến khám trong khoa của chúng tôi : 90% trong số họ không có nó ! Cùng quan sát ở những đồng nghiệp của chúng tôi ở Nancy và Besançon. Khi ta tập hợp những người đến khám của 3 trung tâm của chúng tôi, hoặc khoảng 1000 bệnh nhân, chúng tôi nhận xét rằng 20% những bệnh nhân này bị một bệnh thần kinh (thí dụ Parkinson..), 20% bị một bệnh thấp khớp, 30% bị đau khổ tinh thần, 20% bị những bệnh đủ loại và khoảng 10% bị bệnh Lyme ! Sự đa dạng của những biểu hiện lâm sàng giải thích tần số cuả những sai lầm chẩn đoán và, do đó, điều trị.
Hỏi : Làm sao ta xác nhận chẩn đoán ?
GS Eric Caumes : Bằng phản ứng huyết thanh (nhận diện và định lượng các kháng thể chống Borrelia) : đó là công cụ duy nhất đáng tin cậy. Ta thực hiện, từ cùng một mẫu nghiệm lấy máu, một kiểm tra kép huyết thanh (Elisa và western blot). Cái bẫy là ở chỗ huyết thanh dương tính một tháng sau nhiễm trùng : trước đó, phản ứng âm tính làm an lòng giả tạo. Nếu phản ứng dương tính mà không có dấu hiệu lâm sàng, nó thể hiện một nhiễm trùng cũ. Một phản ứng huyết thanh của dịch não tủy được đòi hỏi trước những dấu hiệu thần kinh.
Hỏi : Điều trị như thế nào ?
GS Eric Caumes : 3 kháng sinh, khá được dung nạp tốt và hiệu quả đối với tất cả những giai đoạn của bệnh, được sử dụng trong một tháng hoặc hơn tùy theo những giai đoạn : amoxicilline hay doxycycline bằng đường miệng, ceftriaxone bằng đường tĩnh mạch. Sự lựa chọn tùy thuộc khung cảnh.
Hỏi : Phòng ngừa như thế nào ?
GS Eric Caumes : Ở vùng dịch, phải mặc quần áo tẩm thuốc trừ sâu, đưa quần vào trong tất, , không nằm trên cỏ không chăn, kiểm tra thân mình sau khi đi dạo và những ngày tiếp theo.
(FIGARO 20/6-26/6/2019)
Đọc thêm :
– TSYH số 477 : bài số 9
– TSYH số 376 : bài số 8

10/ MỘT THUỐC CHỐNG SỐT RÉT ĐƯỢC TÌM THẤY TRONG THUỐC ĐÁNH RĂNG
MALARIA. Một chất mà ta thường tìm thấy trong nhiều sản phẩm như những thuốc đánh răng đã tỏ ra có hiệu quả chống lại ký sinh trùng sốt rét. Hơn nữa chống lại những dạng đề kháng với thuốc. Kết quả sơ bộ này đã có được bởi một kíp nghiên cứu của đại học Cambridge (Anh), gồm 13 người và một robot-chercheur, một intelligence artificielle được mệnh danh là Eve (những công trình được công bố trong Scientific Reports).
Theo OMS, bệnh sốt rét gây khoảng 1 triệu nhân mỗi năm trên thế giới. Khoảng 40% dân số thế giới bị tiếp xúc với căn bệnh và 500 triệu trường hợp lâm sàng được quan sát mỗi năm. Không có vaccin và ngoài ra những ký sinh trùng gây bệnh trở nên không nhạy cảm với những thuốc chống sốt rét hiện có.
Khi một con muỗi cái (loại anophèle) mang Plasmodium chích một người nào đó, nó chích vào trong máu của nạn nhân, đồng thời hút ra từ đó ký sinh trùng. Ký sinh trùng này đi đến ở trong gan. Ở đó nó biến hóa và sinh sản, rồi lại đi vào trong máu, ở đây nó sẽ đến các hồng cầu và phá hủy chúng. Do đó những triệu chứng của bệnh lý, sốt, đau lan tỏa, nôn, ỉa chảy…Bệnh sốt rét dường như biến mất nhưng sẽ trở lại những tháng hay ngay cả những năm sau.
Những nhà nghiên cứu của Manchester và Cambridge đã hiệu chính một robot để trắc nghiệm tác dụng của những thuốc này trong những bệnh khác nhau. Nhưng trí thông minh nhân tạo Eve cũng có khả năng học dần dần tùy theo những kinh nghiệp kế tiếp nhau. Như thế, tùy theo những kết quả của một thí nghiệm, nó sẽ quyết định thí nghiệm mới nào có khả năng nhất mang lại thông tin được tìm kiếm.
Ta đã biết rằng triclosan, một phân tử có những tính chất chống nấm và chống vi khuẩn, nhưng được xếp loại trong số những chất làm rối loạn nội tiết (perturbateurs endocriniens), có một tác dụng lên Plasmodium khi nó ở trong gan. Eve đã chứng minh rằng nó tác dụng lên hai protéine của ký sinh trùng, ENR và DHFR. Protéine sau cùng là đích của thuốc chống sốt rét pyriméthamine. Thế mà triclosan phong bế DHFR, ngay cả ở những giống đề kháng với thuốc.
(LE FIGARO 22/1/2018)
Đọc thêm :
– TSYH số 467 : bài số 7, 8, 9
– TSYH số 377 : bài số 2

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(31/8/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s