Thời sự y học số 515 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BỆNH ƯA CHẢY MÁU : GÉNOMIQUE HÉ NỞ HY VỌNG CỦA MỘT SỰ CHỮA LÀNH
6000 người bị bệnh ưa chảy máu (hémophilie) ở Pháp
Những điều trị mới đã cải thiện sự thoải mái của các bệnh nhân, bằng cách cho phép cách quảng và đơn giản hóa những mũi tiêm.HEMATOLOGIE. Vào năm 2017, những điều trị của bệnh ưa chảy máu đã chuyển qua một bước ngoặt quan trọng với sự thương mãi hóa của một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) bắt chước hoạt tính của một yếu tố đông máu (yếu tố VIII), chỉ bằng một mũi tiêm dưới da. Về liệu pháp gène (thérapie génique), rất được trông chờ bởi các bệnh nhân, nó dường như bắt đầu lại một phát triển mới sau những kết quả chưa hoàn hảo đối với vài thử nghiệm. Những bệnh nhân, vào năm 2011 sau khi đã nhận những mũi tiêm thérapie génique đầu tiên chống lại bệnh ưa chảy máu loại B hôm nay tiếp tục chế tạo yếu tố IX từ 3 đến 4% “, GS Claude Négrier, trưởng khoa hématologie biologique và hémostase clinique của Hospices civils de Lyon, đã lấy làm phấn khởi như vậy. Được phát động vào năm 2016 trên những bệnh nhân bị bệnh ưa chảy máu loại A, những thử nghiệm khác đã cho phép 85% trong số họ ngừng điều trị trong những tuần lễ sau khi tiêm. Những kết quả đáng phấn khởi, mặc dầu rất sơ bộ.
Là bệnh di truyền hiếm gây những rối loạn đông máu, bệnh ưa chảy máu được điều trị rất tốt đối với 6000 người bị bệnh này ở Pháp.Những điều trị dự phòng được sử dụng rộng rãi ở Pháp từ những năm 2000, từ nay an toàn : chúng bù (ít nhất một phần) những thiếu sót đông máu này.” Từ nay những điều trị được thiết đặt ngay từ thời thơ ấu và cho phép tránh những xuất huyết kéo dài và lập lại “, GS Hervé Chambost, hématopédiatre coordinateur của Centre de l’hémophilie của bệnh viện la Timone, Marseille, đã giải thích như vậy.
Nhưng những điều trị này đôi khi còn đòi hỏi những mũi tiêm tĩnh mạch quá thường xuyên. Và nhất là chúng không cho phép chữa lành bệnh ưa chảy máu, cũng không cho phép quên những hậu quả trong đời sống hàng ngày ngay nhưng tuần lễ đầu tiên của cuộc sống : mặc dầu điều mà ta không ngừng lập lại cho các bệnh nhân, chúng thật sự không cho phép có một cuộc sống “gần bình thường”.Thérapie génique là điều trị đầu tiên có khả năng điều chỉnh dài lâu, trong chỉ một lần, những rối loạn của đông máu. Điều trị này nhằm đưa vào trong những tế bào đặc thù, qua trung gian của một virus không sinh bệnh, biến thể không biến dị của gène bị thương tổn. Được đưa vào trong chính génome của những tế bào được nhắm đến, khi đó séquence génétique cho phép chúng chế tạo yếu tố thiếu, đảm bảo tức thời những chức năng đông máu của nó. Những kết quả đầy hứa hẹn này, được công bố trong NEJM năm 2017, được xác nhận năm 2018, đã khuyến khích nhiều kíp nghiên cứu tiếp tục những công trình của họ trong nhiều hướng khác nhau, từ nay được hỗ trợ bởi những nhà công nghiệp.
Những công trình đầu tiên này chưa loan báo sự cáo chung tức thời của bệnh ưa chảy máu, cũng như con đường khả dĩ đối với thérapie génique : lượng yếu tố được sản xuất không luôn luôn đủ để loại bỏ mối nguy cơ xuất huyết và hiệu quả của nó không luôn luôn thường trực, bởi vì cơ thể có thể nhận diện séquence mới như là “lạ”. Sau cùng, virus được chọn cho hai thérapie này là một virus rất thông thường mà nhiều bệnh nhân được tạo miễn dịch, vì lẽ nó thường được liên kết với virus viêm gan, mà bất hạnh thay những bệnh nhân bị bệnh ưa chảy máu đã thường gặp qua truyền máu. Những lentivirus dường như là những vecteur hứa hẹn nhất để tránh những khó khăn này, và cũng có thể được dùng để cho những loại thérapie génique khác như ARN interférent cản trở sự chế tạo những chất chống đông bình thường được sản xuất bởi cơ thể để làm cân bằng tác dụng của những yếu tố đông máu.
Trong một tương lai gần hơn, một số lượng bệnh nhân lớn hơn sẽ đã có thể hưởng một tiến bộ khác mới đây được mở ra bởi génomique : những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal). Phân tử đầu tiên thuộc loại này, émicizumab, bắt chước hoạt tính của yếu tố VIII, đã có trên thị trường Pháp để điều trị những bệnh nhân bị hémophilie A nặng có những chất ức chế chống những điều trị hiện có. Chỉ định của nó sẽ được mở rộng cho những bệnh nhân không có chất ức chế ở bước ngoặt của năm 2019-2020. ” Điều trị này đã được sử dụng ở hơn 1000 bệnh nhân ở Hoa Kỳ từ 3 năm nay, không có những tác dụng phụ khiến đôi khi phải xét lại loại điều trị này “, GS Claude-Négrier đã chỉ rõ như vậy. Mặc dầu nó không chữa lành hémophilie, nhưng các bệnh nhân đã đánh giá cao những mũi tiêm này, ít thường xuyên hơn (một lần mỗi tuần hay mỗi hai tuần) và dễ thực hiện hơn nhiều vì lẽ chúng chỉ cần tiêm dưới da, chứ không còn tiêm vào trong tĩnh mạch nữa.
Những tiến bộ mang hy vọng, với những mũi tiêm được đơn giản hóa và được tiêm cách quảng cho tất cả những bệnh nhân hémophilie và, trong thời gian dài hạn đối với vài trong số những bệnh nhân này, sự hứa hẹn quyến rũ của một mũi tiêm duy nhất cho suốt cuộc đời. Điều đó có vẻ như một sự chữa lành.
(LE FIGARO 24/6/2019)
Đọc thêm : TSYH số 463 : bài số 9

2/ BỆNH ƯA CHẢY MÁU : MỘT KHUYẾT TẬT DI TRUYỀN ẢNH HƯỞNG LÊN SỰ ĐÔNG MÁU
Do một sự biến dị trên nhiễm sắc thể X, ảnh hưởng đến sự sản xuất của yếu tố đông máu VIII đối với những hémophile A (một trên 5000) và của yếu tố IX đối với những hémophile B (một người trên 25.000), bệnh ưa chảy máu luôn luôn gây bệnh cho đàn ông thường hơn đàn bà : họ chỉ có một phiên bản của nhiễm sắc thể X này, vậy của gène bị biến dị. Như thế bệnh ưa chảy máu hé thường ẩn ở những phụ nữ, có thể truyền cho các con mình nhiễm sắc thể X bị bệnh mà không biết.
Queen Victoria passed haemophilia on to
many of her descendants
Trong 1/3 những trường hợp, sự biến dị xuất hiện một cách ngẫu nhiên, không có những tiền sử gia đình. Khi đó chính những tai biến xuất huyết đầu tiên hay những vết bầm tím liên tiếp (bleus à répétition) dẫn đến chẩn đoán, ngay những tháng đầu của đứa bé. ” Điều quan trọng là làm xác nhận chẩn đoán bởi một trong những trung tâm được phân bố trong toàn nước Pháp, GS Hervé Chambost, hémotopédiatre coordinateur của Centre de l’hémophilie của bệnh viện La Timone, Marseille, đã nhắc lại như vậy. Thật vậy phải theo kèm tức thời chẩn đoán bằng một dự kiến điều trị chính xác bởi équipe multidisciplinaire.”
Trong hơn 1/3 những trường hợp, bệnh ưa chảy máu là nhẹ : máu chứa từ 5-10% nồng độ bình thường của yếu tố đông máu và chỉ những chấn thương quan trọng mới gây quan ngại. Nhưng ở một nửa những bệnh nhân, bệnh ưa chảy máu là nặng : máu chứa dưới 1% yếu tố đông máu bị ảnh hưởng. ” Không điều trị, hy vọng sống khi đó trung bình 12 năm “, GS Claude Négrier, trưởng khoa hématologie biologique et hémostase clinique của Hospices civils de Lyon, đã chỉ rõ như vậy. Điều đó lại còn thật hơn trong những nước mà điều trị không có sẵn “. Tất cả những va chạm nhẹ của đời sống hàng ngày khi dó gây xuất huyết và những bầm tím to lớn, đôi khi trong những vùng nguy hiểm như sọ. Những xuất huyết ngẫu nhiên xảy ra trong những khớp, ở đây màng hoạt dịch dễ vỡ : những tràn máu khớp (hémarthrose) này gây đau và làm thoái hóa nhanh sụn và xương bao quanh.
CẤY TẾ BÀO.
Từ khi những truyền máu hiện hữu, khi một tai biến xuất huyết xảy ra, bệnh nhân nhận máu của một người hiến (chứa yếu tố đông máu thiếu). Được phân lập và cô đặc trong những năm 1960, những yếu tố đông máu này được sử dụng, từ những năm 1980, bằng những mũi tiêm dự phòng một đến hai lần mỗi tuần. ” Chính một bước tiến quan trọng đã cho phép cả một thế hệ thoát khỏi một prothèse de genou ngay 20 hay 30 tuổi “, GS Négrier đã nhắc lại như vậy.
Những yếu tố đông máu từ nay phát xuất từ những canh cấy tế bào để tránh mọi nguy cơ y tế, điều này cũng đã cho phép cải thiện công thức để làm cách quãng những mũi tiêm tĩnh mạch, không luôn luôn dễ thực hiện. Nhưng cơ thể học, một cách nhanh chóng ít hay nhiều, nhận biết những tác nhân “lạ” này và sản xuất những chất ức chế (inhibiteur), bắt buộc phải thay đổi chiến lược hay thiết đặt một phương pháp giải mẫn cảm nặng nề.
(LE FIGARO 24/6/2019)

3/ BỆNH ƯA CHẢY MÁU : NHỮNG ENJEUX CỦA CHẨN ĐOÁN VÀ KHẢO SÁT DI TRUYỀN
” Sự nhận thức xã hỏi về những người bị bệnh ưa chảy máu đã hoàn toàn thay đổi, nhất là nhờ những điều trị cho họ một hy vọng sống tương đương với những người khác “, GS Claude Négrier, trưởng khoa hématologie biologique và hémostase clinique của Hospices civils de Lyon đã lấy làm vui sướng.
Được bảo vệ tốt hơn, những người bị bệnh ưa chảy máu bị cách ly ít hơn và từ nay sống cuộc sống của họ giữa những người khác. Như thế số những người bị bệnh ưa chảy máu gia tăng một cách cơ học và các laboratoire pharmaceutique ngày càng quan tâm đến bệnh hiếm này, với sự hứa hẹn những điều trị cách mạng. Tuy vậy, một thai nghén trong một gia đình có những người bị bệnh ưa chảy máu có thể gây nhiều lo ngại, đặc biệt nếu gia đã bị một cách trực tiếp sự tai tiếng của máu bị ô nhiễm (sang contaminé) hay khi gia đình đã phải sống chung quanh một đứa trẻ bị bệnh ưa chảy máu đầu tiên. Sự sinh ra đời một bé trai bị bệnh ưa chảy máu trong một gia đình không biết đến bệnh này cũng luôn luôn mang lại nhiều câu hỏi. Trong tất cả các trường hợp, và ngay cả nếu biến dị dẫn đến một bệnh ưa chảy máu nhẹ (hémophilie mineure), nó phải dẫn đến một điều tra di truyền gia đình bởi vì bệnh này không bao giờ chỉ xảy ra cho bệnh nhân.
Như thế những laboratoire de biologie et de génétique của những centre expert là một yếu tố chủ chốt của hành trình đối với những bệnh nhân này. Các phòng xét nghiệm này được trang bị một cách hoàn hảo để xác định chẩn đoán bệnh ưa chảy máu, định rõ loại, mức độ nghiêm trọng, nguy cơ phát triển những chất ức chế (inhibiteur). Khi đó chúng cũng đảm trách sự theo dõi huyết học của bệnh nhân, để đánh giá tính hiệu quả của điều trị và sự xuất hiện khả dĩ của những chất ức chế.
Những phòng xét nghiệm này cũng liên hệ trong điều tra di truyền gia đình (enquete génétique familiale). ” Nếu bệnh ưa chảy máu không được chờ đợi lúc sinh, ngay khi chẩn đoán đã được thiết đặt, chúng ta sẽ phải thực hiện một khảo sát gia đình để nhận diện những phụ nữ truyền biến dị “, GS Christine Vinciguerra, giám đốc của phân khoa dược Lyon đã nhấn mạnh như vậy.” Sự phân tích này phải được thực hiện càng nhanh càng tốt và, nếu sự lấy máu không thể thực hiện được trên một em bé đã mất máu trong tai biến xuất huyết đầu tiên, ta sẽ tìm kiếm ngay bất thường di truyền ở người mẹ.” Mục tiêu là có thể phòng ngừa một người cô (dì), một người chị (em), một người em họ khi những người này có thai hay muốn có thai. Những phụ nữ truyền bệnh được đề nghị một chẩn đoán tiền sinh hay trước khi thụ tinh (diagnostic pré-implantoire), và thai nghén có thể được gián đoạn nếu họ muốn.
Cung như đối với đàn ông, phân tích di truyền cũng hữu ích một cách trực tiếp cho những trường hợp hiếm phụ nữ bị bệnh ưa chảy máu. Ở những phụ nữ này những triệu chứng được biểu hiện nếu họ đã thừa hưởng hai nhiễm thể X khiếm khuyết. Thường nhất, những phụ nữ này có một bệnh ưa chảy máu diễn biến âm thầm (hémophilie de bas bruit), liên kết với một sự bất túc nhẹ của nhiễm sắc thể X thứ hai. Khi đó phân tích di truyền cho phép phát hiện và quản lý tốt hơn ở thượng nguồn một tai nạn hay một phẫu thuật. ” Đó là điều biện minh cho sự thực hiện một phân tích di truyền ở những cô gái nhỏ tuổi có gia đình bị bệnh ưa chảy máu, trước khi chúng đến tuổi trưởng thành “, GS Vinciguerra đã định rõ như vậy. Thật vậy quy luật ngoại lệ này cho phép phát hiện bệnh ưa chảy máu của những cô gái nhỏ tuổi trước khi cuộc sống thường khiến chúng chịu một nguy cơ xuất huyết, ngay cả thấp.
(LE FIGARO 24/6/2019)

4/ CÀ PHÊ : TUỔI THỌ GIA TĂNG
Những tính năng có lợi của cà phê với những liều vừa phải (1-3 tách/ngày) được biết : nó kích thích những hoạt động não, kềm hãm nhịp tim lúc nghỉ ngơi, có một tác dụng phòng ngừa chống lại bệnh đái đường loại 2 và vài ung thư (nhất là tiêu hóa và gan). Nó cũng là chất dinh dưỡng giàu antioxydant nhất ! Một phân tích méta mới đây, đã tập hợp 40 công trình nghiên cứu (châu Âu, châu Á, Hoa Kỳ), đáng tin cậy về mặt thống kê, cho thấy rằng cà phê làm giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân (-15%) với 3,5 tách/ngày, tim mạch (-17%) với 2,5 tách và do ung thư (-4%) với 2 tách, và điều đó độc lập với tuổi tác, với sự tiêu thụ thuốc lá hay rượu, với trọng lượng và dung lượng caféine. Một công trình nghiên cứu khác (Nhật) cho chúng ta biết rằng vượt quá 5 tách/ngày cà phê không còn có lợi nữa.
(PARIS MATCH 25/7-31/7/2019)
Đọc thêm : TSYH số 447 : bài số 1, 2, 3, 4
TSYH số 360 : bài số 1, 2, 3, 4
TSYH số 312 : bài số 4

5/ 1809 : PHẪU THUẬT BỤNG ĐẦU TIÊN.
Vào đầu thế kỷ XIX, Hoa Kỳ, được điều khiển bởi James Madison, khi đó chỉ gồm có 17 tiểu bang. Được tập hợp về phía Đại Tây dương, những tiểu bang này chỉ tạo một phần của lãnh thổ mênh mông mà chúng ta biết hôm nay. Ngày 18 tháng 12 năm 1809, nơi những đồng bằng của Kentucky xen kẽ với những khu rừng, Ephraim McDowell đương đầu với một trận bão tuyết. Ông ta biết rõ vùng này, nơi ông đã sống từ tấm bé, một khu đất thù nghịch và được ở bởi dân da đỏ. Dân da đỏ đã giết ông nội ông, và khi ông càng tiến bước, kỹ niệm này càng trở lại ám ảnh ông. Đã 3 ngày rồi ông giã từ Danville để đến ngồi làng nhỏ Mottley Glenn, ở cách xa 25 dặm (khoảng 100 km). Nhân viên lâm trường của khu vực đã gởi đến ông một thư tín kêu cứu, khẩn khoản yêu cầu ông đến vì một trường hợp gây quan ngại liên quan đến một phụ nữ, Jane Todd Crawford. McDowell là thầy thuốc. Điều đó hẳn là nghiêm trọng, ông chắc như vậy, bởi vì những người dân của những vùng heo hút này, dè xẻn lời nói, nặng nhọc trong công việc, chỉ gọi cứu vào phút cuối. Từ khi khởi hành, ông đã chỉ biết lạnh và gió. Con ngựa ông mệt lử và ông cũng vậy. Chẳng bao lâu lán trại đầu tiên xuất hiện. Trước một trong những lán trại này, một người đàn ông chờ đợi, khoanh tay, đó là Tom Crawford, chồng của Jane. Lúc thấy viên thầy thuốc, ông nói : ” Cô ta ở bên trong, thưa bác sĩ, hãy vào.”
Trên một chiếc giường tồi tàn nằm nghỉ một người đàn bà đứng tuổi.
Gần bà ta, miss Baker, vạm vỡ hơn và lớn tuổi hơn, kêu lên : ” Thưa bác sĩ, đó là thai 11 tháng, tôi đã chưa bao giờ thấy, chưa bao giờ ! ” Khám bệnh nhân cho thấy một cái bụng to tướng, có thể cho bề ngoài của một thai đủ tháng, nhưng viên thầy thuốc nghĩ đến một u của bụng, có lẽ của buồng trứng. Trường hợp này vô vọng. Loại bệnh này không mổ được. Mở bụng và sự tiếp xúc của bụng với không khí dẫn đến tử vong. Trước loại u này, sự từ chối là quy tắc.
– Bà có một khối u, McDowell nói, và tôi không thể làm gì được.
– Hãy cắt nó, bệnh nhân trả lời. Tôi chịu khổ được.
– Nếu tôi lấy nó, bà sẽ không sống sót sau khi mổ và tòa án sẽ kết án tôi
– Tôi có 5 đứa con, thưa bác sĩ, tôi không thể chết, ông sẽ thấy tôi sẽ chịu được.”
Vị thầy thuốc cảm thấy cái nhìn lo ngại của cả một gia đình. Ông xúc động bởi lòng tin và sự can đảm của bà mẹ. Khi đó ông lấy một quyết định điên rồ : ” Rất tốt, tôi sẽ thử làm điều đó.” Sau đó, đó là sự lên đường đi Danville, vĩnh biệt các con và người chồng.
Đoạn đường dài và vất vã. Miss Baker đi kèm theo người bạn gái của mình
Sự đi đến của đoàn người trong thành phố không phải là không ai để ý. Ý định mổ của viên thầy thuốc đã nhanh chóng được biết bởi tất cả mọi người. Những lời cảnh cáo cất lên và đã xem ông là kẻ sát sinh. McDowell tự giam mình ở nhà. Ông đọc lại cơ thể học và tất cả những tác phẩm ngoại khoa mà ông có. Càng ôn lại, ông thấy dường như sứ mạng không thể vượt qua. Nhưng Jane Crawford vẫn luôn luôn thúc giục ông hành động. Ông chọn ngày mổ : đó sẽ là hôm Noel, buổi sáng 25 tháng 12, trong lễ messe. Ông chèn tất cả các lối ra của ngôi nhà, cài chốt các cánh cửa, đặt bệnh nhân trên một chiếc bàn được phủ bởi drap trắng. Miss Baker buộc các chi của Jean với sự đồng ý của bệnh nhân trong khi thấy thuốc đặt vào miệng của bà một boule d’opium. Nhưng thời gian thúc bách, cần phải mổ. Trong khi ông xẻ hông trái trong vùng mà khối u nhô lên, bệnh nhân bắt đầu cầu nguyện. Vã mồ hôi, cắn môi, mắt lộn tròng, bệnh nhân đứng vững, siết chặt các bàn tay và tiếp tục lời cầu nguyện đáng sợ. Rồi tất cả nhanh lên. Những tạng và một khối u to tướng lòi ra ngoài. McDowell hoảng hốt một lát. Không thuốc gây mê, sự đè đáng kể lên bụng đẩy ra ngoài cơ thể tất cả các cơ quan, làm cho sự kiểm soát chúng khó khăn. Nhưng ông trấn tĩnh lại. Ông thấy cổ của khối u, nơi khối u này hẹp dần lại, ông đặt nhanh một mũi khâu phía trên và cắt. Khối u rơi xuống đất và mở ra một nửa. Về sau người ta cân nó : nặng 14 kg.
Vừa mới ra khỏi nhà thờ, đám đông tập hợp trước nhà của viên thầy thuốc.
Chung quanh một cành cây lớn, người ta đưa qua một dây thừng để treo cổ viên thầy thuốc. Người ta chuẩn bị những khúc củi để sau đó đốt nhà ông. Nhiều người hét lên : ” Hãy cứu Jane Carwford !”. Viên quận trưởng ở đó, trên ngưỡng cửa, chận lối vào, kềm chế một cách khó nhọc những công dân lồng lộn. Trong lúc đó, McDowell cố đóng bụng với một sợi chỉ chắc bằng những mũi khâu thô thiển, đẩy lùi chừng nào có thể được các tạng, được giúp bởi người cháu cũng là người trợ tá. Chính lúc đó mà cửa nhà đỗ, bị phá vỡ bởi đám đông. Viên quận trưởng đi vào. Bệnh nhân bất động. ” Ông đã giết bà ta !”, nhà thi hành pháp luật hét lên. Trên thực tế bà ta chỉ bất tỉnh.
Ephraim McDowell vừa thành công cuộc mổ bụng đầu tiên của tất cả các thời đại. Ông chăm chú theo dõi Jane Crawford trong 5 ngày. Bà ta sẽ trở lại Mottley Glenn 3 tuần sau. Tom Crawford, chồng bà, sẽ chết năm 1821. Bà sẽ qua đời vào năm 1842, 33 năm sau cuộc mổ, lúc 78 tuổi. McDowell sẽ lập lại chiến công này 8 lần (5 bệnh nhân sẽ sống sót). Hôm nay ở Hoa kỳ có nhiều trung tâm y khoa mang tên ông, trong đó một ở Danville, đặc biệt dành cho các bệnh của phụ nữ
(PARIS MATCH 8/8-13/8/2019)

6/ HƯỚNG VỀ MỘT VACCIN CHỐNG MỤN
DERMATOLOGIE. Mụn là một bệnh lý da rất thường gặp, tác hại đến những thiếu niên (75-95%) và những người trưởng thành trẻ của hai giới tính hơn.Bệnh không gây tử vong nhưng rất nặng nề về mặt tâm lý đối với những thể nặng. Trong số những yếu tố làm dễ và/hay làm nặng được viện dẫn một cách cổ điển, chỉ có vai trò của những yếu tố di truyền là dựa trên những bằng cớ thuyết phục.
Mụn là một chứng bệnh của các tuyến tiết quá nhiều bã nhờn ở chân lông (follicules pilosébacés). Điều đó gây nên một sự tắc nghẽn của các lỗ chân lông của da và sự xuất hiện của những thương tổn và mụn khác nhau.Một vi khuẩn liên quan trong mụn viêm (acné inflammatoire), Propionobacterium acnes. Nó vốn sẵn hiện diện trên da nhưng trở nên gây khó chịu trong trường hợp mụn bởi vì nó tăng sinh một cách bất thường, dẫn đến viêm. Những điều trị kháng sinh và rétinoides nói chung ít hiệu quả và có những tác dụng phụ.
Một kíp những nhà nghiên cứu của département de dermatologie của đại học Californie ở San Diego lần đầu tiên vừa cho thấy rằng những kháng thể chống lại một độc tố được tiết ra bởi vi khuẩn, yếu tố CAMP, làm giảm viêm trong những thương tổn mụn ở người (công trình được công bố trong Journal of investigative Dermatology). Những công trình của họ được thực hiện ở chuột và trên những canh cấy phát xuất sinh thiết những thương tổn mụn.
Đối với Emmanuel Contassot, thuộc đại học Zurich, ” kíp của Wang đã chứng minh rằng hướng miễn dịch liệu pháp là một hướng nghiên cứu rất đáng thăm dò “. Tuy nhiên nhà nghiên cứu Thụy Sĩ nhấn mạnh rằng những nghiên cứu bổ sung sẽ phải được thực hiện. ” Một miễn dịch liệu pháp chống mụn nhằm những yếu tố được sản xuất bởi vi khuẩn P. acnes phải được chọn lựa tốt để tránh làm rối loạn sự điều bình (homéostasie) của da “, ông đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 10/9/2019)
Đọc thêm : TSYH số 512 : bài số 10
TSYH số 342 : bài số 1, 2, 3

7/ UNG THƯ TINH HOÀN : TIÊN LƯỢNG NÓI CHUNG LÀ TỐT
Ung thư tinh hoàn thường gặp nhất ở đàn ông từ 15 đến 35 tuổi. Hiện tỷ lệ chữa lành tăng cao. GS Karim Fizazi, oncologue médical, viện Gustave-Roussy, Villejuif, bình luận chủ đề này.
Hỏi : Những đặc điểm của loại ung thư này ?
GS Karim Fizazi. Đại đa số những ung thư của tinh hoàn là những tumeur germinale, phát sinh từ những tế bào sẽ trở thành những tinh trùng. Có nhiều loại : những séminome thuần túy (khoảng 50% những trường hợp) và những tumeur non seminomateuse (50% còn lại) : carcinome embryonaire, choriocarcinome hay tumeur vitelline, thưởng liên kết với nhau.
Hỏi : Nó có thường gặp không ? Những yếu tố nguy cơ có hiện hữu ?
GS Karim Fizazi. Đó là ung thư thường gặp nhất của người trưởng thành trẻ tuổi với hơn 2000 trường hợp mỗi năm ở Pháp. Tuổi sống sót trung bình của séminome là 35 tuổi, của non-séminome là 28 tuổi. Hai yếu tố nguy cơ được nhận diện : tinh hoàn lạc chỗ (tinh hoàn không xuống trong bìu dái trong tử cung hay sau khi sinh) và trisomie 21. Sự tiêu thụ đều đặn cannabis cũng gia tăng nguy cơ.
Hỏi : Những yếu tố của chẩn đoán và của bilan là gì ?
GS Karim Fizazi. Cách khám phá thường gặp nhất là ấn chẩn bởi bệnh nhân một cục u trong một tinh hoàn. Hiếm hơn, đó là đau bụng hay đau thắt lưng do những di căn hạch trong bụng. Siêu âm, được thực hiện nhân một khám bệnh vì vô sinh, cũng có thể phát hiện một khối u. Cấm sinh thiết cục u bằng kim vì nguy cơ làm khuếch tán những tế bào ác tính. Trong tất cả các trường hợp, chẩn đoán cần cắt bỏ hoàn toàn tinh hoàn bị ung thư, với khám thương tổn dưới kính hiển vi để định rõ loại tế bào. Song song, một bilan để tìm kiếm một di căn sẽ gồm có một scanner của toàn thân (ngực, bụng, khung chậu ) và định lượng máu những chỉ dấu ung thư (alphafoetoprotéine, LDH, hCG). Sau cùng ta phân biệt 3 mức độ trầm trọng : giai đoạn 1 tập hợp những dạng khu trú không di căn (50% những trường hợp), giai đoạn 2 những dạng với những thương tổn hạch ở thân (35%), giai đoạn 3 những dạng với một sự lan rộng quan trọng hơn (15%).
Hỏi : Điều trị những dạng khu trú như thế nào ?
GS Karim Fizazi. Phẫu thuật bằng một đường xẻ ở bẹn lấy đi tinh hoàn bị ung thư, có thể được thay thế nếu bệnh nhân mong muốn bằng một prothèse en silicone. Toàn bộ những thể khu trú này chữa lành, ngay cả trong trường hợp tái phát, xảy ra trong 15% những séminome và 30% những non-séminome và biện minh một hóa trị : hóa trị này, với cái giá của những tác dụng phụ tạm thời, đảm bảo sự chữa lành. Đôi khi hóa trị được đề nghị và bàn bạc với bệnh nhân ngay sau mổ, để phòng ngừa một tái phát.
Hỏi : Thế điều trị những thể tiến triển với di căn như thế nào ?
GS Karim Fizazi. Đối với những séminome với những thương tổn hạch dưới 2 cm, một radiothérapie ciblée cũng đủ. Trong trường hợp lan rộng quan trọng hơn, một hóa trị là cần thiết. Tỷ lệ chữa lành tăng cao (hơn 90%). Đối với những non-séminome, một hóa trị với 3 loại thuốc là quy tắc. Phần lớn những trường hợp này cũng chữa lành (hơn 80%). Nếu sau chu kỳ đầu những chất chỉ dấu không hạ một cách nhanh chóng (trong 21 ngày), khi đó ta liên kết 6 loại thuốc : chúng gia tăng những cơ may chữa lành của những thể nặng này (chữa lành hơn 2/3)
Hỏi : Thông điệp phòng ngừa của ông là gì ?
GS Karim Fizazi. Phải mổ sớm những trẻ em có một tinh hoàn lạc chỗ. Ở tuổi trưởng thành, người đàn ông phải đều đặn sờ những tinh hoàn của mình và nếu có chút ít nghi ngờ, hãy khám một thầy thuốc. Ông ta sẽ khám và cho thực hiện một siêu âm phát hiện (échographie de dépistage).
(PARIS MATCH 25/7-31/7/2019)

https://sante.journaldesfemmes.fr/maladies/2513987-cancer-du-testicule-age-symptome-traitement/

8/ GHÉP TIM : PREMIÈRE Ở PHÁP
Thường chính một trái tim ngừng đập được ghép, nhưng hai bệnh nhân người Pháp đã nhận một trái tim đã không bao giờ ngừng đập giữa lúc lấy và lúc ghép. Kỹ thuật này, được gọi là Organ Care System, xuất phát từ Hoa Kỳ và phát triển trong những nước anglo-saxon. Kỹ thuật dựa trên phương pháp được gọi là ” procédé du coeur perfusé “, ngay sau khi lấy, nối trái tim ngừng đập với một circuit automatique, cho phép tưới nó với máu oxygéné, điều này duy trì chức năng và những đập tim ở faible régime. Sự bảo tồn tim được cải thiện về chất lượng và thời gian (hơn 6 giờ, thay vì 4 giờ trong nước đá), số những trường hợp ghép thành công và số ghép được thực hiện gia tăng ( >30% ở Anh). Cái hãm duy nhất : phí tổn của nó (26.000 euros, không được bồi hoàn ở Pháp)
(PARIS MATCH 20/6-26/6/2019)
Đọc thêm : TSYH số 487 : bài số 6

9/ TẠI SAO TA CÓ NHỮNG CƠN ÁC MỘNG
Bởi vì những cơn ác mộng là hữu ích ! Đó là điều mà modèle neuropsychologique đầu tiên về ác mộng cho chúng ta biết. Modèle này được xác lập bởi Tore Nielsen, buộc cộng đồng khoa học chấp nhận. Những ác mộng này có vai trò ghi lại những kịch bản về những nỗi sợ hãi của chúng ta, để cuối cùng, trung hòa chúng. Chúng không phải là biểu hiện của những nỗi khiếp sợ, mà là phương tiện để vứt bỏ chúng.
Bước một mình trong đêm trong một khu rừng, đi dự một kỳ thi nhưng đã không ôn lại bài : nếu những tình huống này, được nhận thức bởi não bộ là nguy hiểm lại xảy ra, não sẽ phản ứng lại một cách tự động bởi một cảm giác sợ hãi : có thể chuẩn bị cho cuộc chiến đấu hay một sự chạy trốn (tim nhịp nhanh, vã mồ hôi…) ngay khi một kích thích nguy hiểm xuất hiện. Cơ chế này cho phép những động vật có vú sống sót trong môi trường thù địch. Được trữ trong vùng của não được gọi là amygdale, những “ký ức về sợ hãi” được tạo ra lâu dài.
Nhưng không phải tất cả những ký ức đều phải giữ lại, phải có một cơ chế chọn lựa. Bởi vì sống sót, đó là học nhưng cũng quên hết những điều đã học. Chính ở đó mà những ác mộng can thiệp vào. Chúng bịa ra một kịch bản giả bằng cách pha trộn những yếu tố gây lo âu được trữ trong ký ức sợ hãi với những ký ức khác, an tâm hơn, được lấy trong những ký ức khác.
Chính trong hippocampre mà kịch bản này được xây dựng. Nếu kịch bản này đáng sợ, nó thoát radar của logique, bởi vì vỏ não vùng trán, vùng phát hiện những điều khó tin, được bất hoạt trong khi ngủ. Trái với amygdale, ở đây là nơi của trí nhớ về sợ hãi (mémoire de peur) của chúng ta. Chính vì thế, trí nhớ này bị lừa, vì tin rằng sống lại một ký ức nguy hiểm, nó phát khởi những cảm xúc sợ hãi điển hình của các cơn ác mộng. Ngoại trừ những yếu tố nực cười được đưa vào trong kịch bản bởi hippocampe làm cho sự trải nghiệm ít gây lo âu hơn ký ức nguyên thủy : những ký ức về sợ hãi được trữ trong amydale yếu đi và được biến đổi thành mémoires atténuées, khi đó nằm trong vỏ não trước trán giữa (cortex frontal médian)
Lúc ngủ bị bóng đè, não biến đổi những nỗi khiếp sợ lớn của chúng ta thành những nỗi khiếp sợ nhỏ ban đêm. Thế mà điều đó có hiệu quả ! Nhiều đêm trôi qua, những nỗi sợ hãi thật sự của nạn nhân giảm bớt, người này làm chủ được chúng trong khi ngủ.
SỰ KIỆN NÓ ĐÁNH THỨC CHÚNG TA KHÔNG PHẢI LÀ TỐT
Tuy vậy, đôi khi, ác mộng thất bại. Cortex préfrontal médian không còn kìm nỗi sợ hãi nữa, khi đó trở thành ngoài sự kiểm soát. Những yếu tố nực cười không đủ, ký ức sợ hãi được khởi động. Và người ngủ thức dậy trong cơn hoảng sợ. Khi ác mộng làm thức dậy, đó là vì nó vừa thất bại trong việc vô hiệu hóa một k ức sợ hãi đã quá cắm chắc vào. Và sự trở lại thực tế được thực hiện với sự sợ hãi luôn luôn được đóng chốt vào trí nhớ.
Tại sao những người dường như đã không từng trải nghiệm một chấn thương tâm thần nào lại làm nhiều ác mộng hơn những người khác. Tại sao ác mộng đôi khi thất bại không làm tròn vai trò làm giảm bớt những sợ hãi của chúng ta ? Khoa học về những ác mộng chỉ mới ở bước đầu. Nhất là bên cạnh modèle de référence mới này, những công trình, dựa trên những phân tích thống kê và dịch tễ học, hé mở một chút cánh cửa sau đó rên rỉ điều sợ hãi trong chúng ta và chỉ tìm thấy ban đêm để giải bày tâm sự.
Đọc thêm :
– TSYH số 420 : bài số 10 (cauchemar)
– TSYH số 419 : bài số 9 và 10 (cauchemar)
(SCIENCE & VIE 9,10,11/2018)

10/ AI CÓ QUYỀN LÀM ĐÔNG LẠNH NHỮNG NOÃN BÀO ?
Hiện nay ở Pháp điều đó chỉ có thể trong trường hợp một can thiệp y khoa đe dọa khả năng sinh sản (thí dụ trong trường hợp ung thư). Hoặc khi một phụ nữ hiến các noãn của mình, với điều kiện số lượng noãn được lấy là đủ và rằng người hiến chưa có con. Những nước khác cho phép tự bảo quản tùy thích, đối với những phụ nữ dự kiến những khó khăn mà họ sẽ có lúc có thai khi những năm tháng trôi qua. Theo một công trình nghiên cứu được tiền hành ở Hoa Kỳ và ở Israel, 85% những phụ nữ nhờ đến cryoconservation bởi vì cuộc sống đôi lứa không ổn định. Vào năm 2012, Collège national des gynécologues et obstétriciens français tuyên bố ủng hộ autoconservation, viện lý rằng sự thiếu những người hiến khiến họ tiếp xúc với những trung tâm ngoại quốc. Thế mà sự thực hành này được cho phép đối với đàn ông…
(SCIENCE & VIE 9,10,11/2018)
Đọc thêm : TSYH số 513 : bài số 1, 2, 3, 4

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/8/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 515 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. nguyễn hoài nhân. nói:

    rất hay, cảm ơn bác sĩ!!
    cũng k ngờ là bs vẫn viết bài đều đặn như thế

  2. Pingback: Thời sự y học số 517 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s