Thời sự y học số 511 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ KHI NHỮNG BỆNH MẠCH MÁU DẪN ĐẾN SA SÚT TRÍ TUỆ
Cao huyết áp, đái đường hay ngừng thở ngắn lúc ngủ làm hỏng não một cách thầm lặng, lót đường cho những rối loạn nhận thức sớm.CARDIOLOGIE. Với hy vọng sống tăng thêm, nguy cơ sa sút trí tuệ trở nên một mối quan tâm tăng dần. Khi mức độ nghiêm trọng của nó ngăn cản những động tác của đời sống thường ngày (ta nói trouble cognitif majeur, mà ngày xưa ta gọi là démence), đó là một nguyên nhân quan trọng của handicap và dépendance. Theo OMS, 50 triệu người bị sa sút trí tuệ trên thế giới. Từ nay đến 2050 chúng sẽ 3 lần nhiều hơn.
Thế mà Alzheimer, một mình, không phải là nguyên nhân của sa sút trí tuệ : những yếu tố nguy cơ mạch máu chính (cao huyết áp, đái đường, tăng thể trọng và béo phì, nhàn rổi không hoạt động, chứng nghiện thuốc lá…) ảnh hưởng lên toàn bộ cơ thể, và đặc biệt trên não. Như thế 30% những người bị tai biến mạch máu não sau đó sẽ có một déficit cognitif, registre de AVC được lập cách nay 35 năm bởi CHU de Dijon đã cho thấy như vậy. ” Nhưng điều đó cũng đúng ở những người bị một tai biến mạch máu não nhẹ, không được nhận biết bởi vì không có một triệu chứng nào, mà sau này ta sẽ khám phá dấu vết trên IRM não “, GS Didier Leys, thầy thuốc thần kinh ở CHU Lille, đã giải thích như vậy. Cũng đúng như vậy đối với những bệnh nhân nạn nhân của một nhồi máu cơ tim, hay bị rung nhĩ, hay viêm động mạch cẳng chân. ” Ngay cả không có bệnh thật sự, những yếu tố nguy cơ này mở đường cho sự sa sút trí tuệ. Những người từ 65-70 tuổi với chỉ một cao huyết áp mà không có bệnh lý nào được mở đường cho một trouble cognitif quan trọng.”
Nguồn gốc mạch máu của họ có thể được phát hiện bởi những trắc nghiệm thần kinh-tâm lý. Những test neuropsychologique nhận diện những chức năng nhận thức (fonctions cognitives) bị ảnh hưởng.Trong khi chính chủ yếu trí nhớ bị ảnh hưởng trong bệnh Alzheimer, những thiếu sót nhận thức (déficits cognitifs) được thể hiện hơn bởi những rối loạn của những chức năng chấp hành : những khó khăn trong sự chú ý, trong sự ra quyết định, sự kết hợp của các công việc, sự lập luận phức tạp.
Cao huyết áp đóng một vai trò quan trọng trong những rối loạn nhận thức (trouble cognitif) này. Ngay cả trước mọi biểu hiện của cao huyết áp, não có thể là nơi của những thương tổn mạch máu nhỏ “thầm lặng” mà sự xuất hiện dường như xảy ra dần dần : trước hết là những vi thương tổn (microlésions) của chất trắng, những nhồi máu nhỏ, những xuất huyết vi thể ở một giai đoạn tiến triển hơn…Sự tích tụ của chúng làm dễ sự lão hóa nhanh của não bộ. Chúng cũng có thể gây teo vỏ não trán-thái dương (cortex fronto-temporal), trung khu của những chức năng nhận thức. Những chức năng nhận thức (fonctions cognitives) này chỉ hoạt động tốt nếu nó được kích thích một cách đúng đắn bởi “câblage” của chất trắng.
” Điều này làm nghi ngờ một quá trình liên tục : những thương tổn sớm của chất trắng, lúc tích tụ, dần dần dẫn đến một sự mất nối kết với vỏ não, bị teo đi “, GS Leys đã giải thích như vậy. Đối với GS Régis Border, neurologue và pharmacologue ở CHU de Lille, tác dụng của cao huyết áp có lẽ chỉ là cơ học. ” Nó được kèm theo một tình trạng viêm huyết quản, một loạn năng của nội mạc phủ những huyết quản, điều này làm giảm bớt tính phản ứng của chúng và ảnh hưởng lên lưu lượng mạch máu.”
Yếu tố nguy cơ khác, bệnh đái đường. Một bệnh nhân đái đường có nguy cơ bị sa sút trí tuệ hơn bởi vì tác dụng có hại toàn bộ của bệnh lên tất cả vi tuần hoàn cũng tạo điều kiện cho những vi thương tổn của não. ” Trong sự đánh giá gần đây của một nhóm 200 bệnh nhân đái đường, chúng tôi đã tìm thấy ở 1/3 trong số họ những rối loạn của những chức năng chấp hành (altérations dysexécutives) hay những khó khăn trong sự chú ý (altérations dysattentionnelles), gợi những rối loạn nhận thức nguồn gốc huyết quản “, GS Bordet đã xác nhận như vậy. Những khó khăn trong việc cân bằng bệnh đái đường có thể một phần do những vấn đề nhận thức này, mà sự phát hiện cho phép theo dõi tốt hơn những bệnh nhân này. Bệnh đái đường cũng có một hiệu quả khác : insuline điều biến một phản ứng hóa học liên kết với protéine tau, thành phần quan trọng của plaque amyloide trong bệnh Alzheimer. Vậy sự đề kháng với insuline cũng tăng thêm nguy cơ bị bệnh Alzheimer.Đối với GS Maurice Giroud, neurologue ở CHU de Dijon, ” cũng phải phát hiện và điều trị sớm apnée du sommeil : những hypoxie ban đêm, lập lại, mãn tính, là nguồn gốc của những cao huyết áp nặng, những bệnh đái đường đề kháng với điều trị, chứng béo phì…”
Vì phần lớn những thiếu sót nhận thức (déficit cognitif) sau 60 tuổi kết hợp bệnh Alzheimer và những thương tổn nguồn gốc huyết quản, vì thiếu điều trị hiệu quả chống bệnh Alzheimer, sự phòng ngừa những thương tổn nguồn gốc huyết quản là phương tiện duy nhất làm giảm risque cognitif.” Nhưng phải hành động sớm : sự theo dõi bằng IRM não những bệnh nhân trên 65 tuổi cho thấy rằng số những thương tổn này hầu như không tiến triển nữa, như thế “charge lésionnelle” đã được tạo thành lâu trước đó “, GS Christophe Tzourio, neuro-épidémiologiste ở CHU de Bordeaux đã giải thích như vậy. Vậy chính ngay khi một cao huyết áp, một đái đường hay một chứng béo phì xuất hiện mà phải điều trị để bảo vệ capital cognitif.
(LE FIGARO 3/6/2019)

2/ ĐIỀU TRỊ NHỮNG ĐỘNG MẠCH ĐỂ BẢO VỆ NÃO
Một công trình nghiên cứu của Pháp, được công bố mới đây trong JAMA, đã cho thấy tác động của sự giảm những yếu tố nguy cơ mạch máu lên sự sa sút trí tuệ và nguy cơ démence, ngay cả ở lứa tuổi rất già. Công trình nghiên cứu dịch tễ học này, được chỉ đạo bởi GS Cecilia Samieri (Inserm, Bordeaux), đã đưa vào 6626 người 65 tuổi hoặc hơn, được theo dõi và trắc nghiệm đều đặn giữa1999 và 2016 trong 3 đô thị Bordeaux, Dijon, Montpellier. Nó đã cho phép đánh giá sự liên kết giữa một sức khỏe tim-mạch tối ưu, được đánh giá theo 7 tiêu chuẩn đơn giản (không hút thuốc, thể trọng bình thường, hoạt động vật lý đều đặn, chế độ ăn uống lành mạnh, đường huyết, huyết áp và cholestérol tối ưu) và nguy cơ démence hay sa sút trí tuệ.
Kết quả : một số những trường hợp démence được chia hai giữa những người có những tiêu chuẩn sức khỏe tim mạch tối ưu và những người chỉ hội đủ 2 tiêu chuẩn hoặc ít hơn. Về sa sút trí tuệ, đánh giá phức tạp hơn do sự biến thiên lớn giữa mỗi cá nhân và do sự lão hóa, công trình nghiên cứu cho thấy rằng khi một người với 0,1 hay 2 tiêu chuẩn sức khỏe tim-mạch tối ưu sẽ cần 6 năm để đạt một giai đoạn nào đó của sa sút trí tuệ, một người có thể giống ở tất cả mọi điểm nhưng hội đủ 7 tiêu chuẩn tối ưu của sức khỏe tim-mạch sẽ cần 12 năm. Nói một cách khác, tốc độ sa sút trí tuệ của nó được chia 2 !
” Từ nay chúng ta có cả một mớ những luận cứ để nghĩ rằng điều trị những yếu tố nguy cơ mạch máu một cách tối ưu (làm hạ huyết áp, kiểm soát đường huyết, giảm muối, có một hoạt động vật lý và một chế độ ăn uống lành mạnh…) có một tác động dương tính, có lẽ do một tác dụng làm chậm sự xuất hiện của nó “, GS Bordet đã kết luận như vậy.
THEO DÕI CHẶT CHẼ.
Chứng minh trong một thử nghiệm hướng về tương lai (essai prospectif) tác dụng bảo vệ của sự điều chỉnh của những yếu tố nguy cơ này lên sự sa sút trí tuệ rất là khó, xét vì tính chất vô cùng đa dạng của những profil và của thời gian quan sát cần thiết để quan sát một kết quả. Những “công trình nghiên cứu châu Âu Syst+Eur đã chứng minh rằng bằng cách dùng thuốc làm hạ huyết áp của những người trên 60 tuổi cao huyết áp, ta giảm một nửa nguy cơ démence “, GS Leys đã nhắc lại như vậy. Và lợi ích dường như có giá trị ngay cả ở tuổi đã cao.
Tuy nhiên sự điều chỉnh những yếu tố nguy cơ này phải chặt chẽ. Điều này có nghĩa là một sự tuân thủ tốt những điều trị. Thật vậy, nếu tỷ lệ tử vong cấp tính sau một nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não đúng là đã giảm, nhưng nhiều trong số những bệnh nhân này, tái nhập viện vì những biến chứng, thường ra viện với những di chứng nghiêm trọng hơn.
” Do đó lợi ích của dự án DiVa của chúng tôi để xem ta có thể phát hiện ngay giai đoạn cấp tính của tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim profil của những bệnh nhân có nguy cơ nhất sa sút trí tuệ và làm giảm nguy cơ này bằng một theo dõi tăng cường mỗi 3 tháng trong năm đầu, mỗi 6 tháng sau đó “, GS Giroud đã chỉ rõ như vậy.
(LE FIGARO 3/6/2019)

3/ CẦN PHÁT HIỆN TỐT HƠN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CÓ NGUY CƠ SA SÚT TRÍ TUỆNếu sa sút trí tuệ bắt đầu biểu hiện sau 70-80 tuổi, trách nhiệm của những thương tổn huyết quản não lót đường đã được ấn định ở 60-65 tuổi và sau đó không tiến triển nhiều. Vậy những thương tổn này bắt đầu được tạo thành sớm hơn nhiều, và những yếu tố nguy cơ chính được biểu hiện thật sự bắt đầu từ 40-50 tuổi. Ngoài ra tính nhạy cảm của các cá nhân đối với những yếu tố nguy cơ khác nhau này, và ảnh hưởng mà chúng sẽ có trên não, là cực kỳ thay đổi từ người này đến người khác do di sản di truyền, môi trường sống, những tham số xã hội văn hóa…của mỗi người.
Lý tưởng là ít nhất có thể phát hiện những profil nào có nguy cơ nhất để có thể tăng cường phòng ngừa. ” Một trong những khó khăn, đó là chúng ta không biết một cách chính xác những thương tổn huyết quản não này xuất hiện như thế nào với thời gian, chúng ta không biết ở ai chúng sẽ được biểu hiện dưới dạng thiếu sót nhận thức (déficit cognitif), GS Christophe Tzourio đã chỉ rõ như vậy. Do đó lợi ích theo dõi, ở những người trẻ, sự xuất hiện và những hậu quả lâm sàng của chúng. Đó là một trong những mục tiêu của nhóm sinh viên mà chúng tôi đã theo dõi ở Bordeaux. Và điều mà người ta đã chứng thực, đó là lúc 21 tuổi, đã có 20 đến 30% trong số họ cho thấy những vết nhỏ, những tín hiệu nhỏ trên IRM não, mà chúng tôi chưa biết ý nghĩa của chúng là gì. Điều đó sẽ rất lý thú theo dõi họ trong một thời gian dài.
TÍNH THAY ĐỒI CỦA HUYẾT ÁP
Trong số những người có nguy cơ này, những người đái đường tạo một nhóm đặc biệt. ” Chúng tôi thật sự tin chắc rằng bệnh đái đường có một tác dụng trực tiếp lên sự nhận thức (cognition), GS Bordet đã nhấn mạnh như vậy. Chúng tôi thấy rất rõ, ở động vật, mối liên hệ giữa sự không dung nạp glucose và sự sa sút trí tuệ. Chúng tôi đã chứng minh rằng, những con chuột bị làm cho bị bệnh đái đường, những cơ chế sinh học-thần kinh, cơ sở của sự ghi nhớ, bị biến đổi một cách trực tiếp bởi căn bệnh và rằng tác dụng trực tiếp này được kèm theo bởi một tác dụng gián tiếp của bệnh đái đường, làm dễ sự viêm nội mạc và những thương tổn mạch máu não.”
Về cao huyết áp, những hậu quả của nó lên não là vô cùng đa dạng. Như GS Tzourio đã nhấn mạnh, ” cao huyết áp trở nên rất thường gặp bắt đầu từ một lứa tuổi nào đó, nhưng tất cả mọi người không bị cao huyết áp cùng cách. Điều mà những công trình nghiên cứu ngày càng chứng tỏ, đó là không phải chỉ mức huyết áp được tính như là yếu tố nguy cơ trong sa sút trí tuệ, mà là tính chất thay đổi của nó.” Vậy đó là một tham số cần phải theo dõi.
(LE FIGARO 3/6/2019)

4/ SA SÚT TRÍ TUỆ : DÈ CHỪNG VÀI LOẠI THUỐC
Vài lớp thuốc dường như gia tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.” Đó đặc biệt là trường hợp đối với những benzodiazépines, mà ta càng ngày càng nghi ngờ mặc dầu cơ chế tác dụng còn chưa được biết rõ “, GS Régis Bordet đã chỉ rõ như vậy. Không những benzodiazépines dường như gia tăng những vấn đề trí nhớ, nhưng cũng có thể rằng chúng làm giảm năng lực vận dụng những cơ chế bù và réserve cognitive bằng cách làm giảm mức hoạt hóa của não.
Lớp thuốc khác bị nghi ngờ có khả năng có một tác dụng âm tính, những inhibiteurs de la pompe à proton, hay IPP, được kê đơn trong vài rối loạn dạ dày-thực quản. ” Nhiều tín hiệu từ hai hay ba năm nay báo động về khả năng một tác dụng giảm hiệu năng nhận thức của IPP. Phải tìm thấy những yếu tố quyết định cho phép nói, đối với những bệnh nhân như thế, tỷ suất lợi ích/nguy cơ có bất thuận lợi không, và tiến về một sự giảm kê đơn (déprescription), trong khi hiện nay chúng ít được kê đơn một cách hệ thống “, vị thầy thuốc thần kinh đã lấy làm tiếc như vậy.
(LE FIGARO 3/6/2019)

5/ SĂN SÓC LỢI RĂNG BẢO VỆ CHỐNG BỆNH ALZHEIMER
Vi khuẩn liên kết với viêm lợi răng (gingivite) và viêm cận răng (parodontite) có thể đóng một vai trò trong maladie neuronale.NEUROLOGIE. Porphyromonas gingivalis, vi khuẩn liên kết với viêm lợi răng và viêm cận răng (viêm mãn tính lợi răng và các mô lân cận) : vi khuẩn này đóng một vai trò trong bệnh Alzheimer. Thật vậy một công trình nghiên cứu quốc tế, được thực hiện bởi Cortexyme, một laboratoire chuyên môn của Californie, và được công bố trong Sciences Advances, tiết lộ rằng những não bộ của các bệnh nhân cho trú những protéine được tiết ra bởi vi khuẩn, những gingipaine. Cuối năm 2018, đại học Illinois ở Chicago (Hoa Kỳ) đã chứng minh rằng một viêm cận răng mãn tính (parodontite chronique) ở chuột được liên kết với những dấu hiệu bệnh lý thần kinh điển hình của Alzheimer. Lần này, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng một phân tử được gọi là COR388 loại bỏ những gingipaine khỏi não bộ của những con chuột bị bệnh, và rằng những con chuột này bình phục. Một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I (để trắc nghiệm sự an toàn) của COR388 vừa được tiến hành thành công ở người. Giai đoạn kế tiếp sẽ là trắc nghiệm những tác dụng của nó lên những chức năng nhận thức (fonctions cognitives) của những người bệnh “, Jan Potempa, thuộc đại học Louisville, đồng tác giả của công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Trong lúc chờ đợi, ông khuyến nghị “một détartrage, ít nhất mới 6 tháng, bởi vì chỉ có nó mới loại bỏ biofilm bactérien (plaque dentaire).”
(SCIENCES ET AVENIR 3/2019)
TSYH số 490 : bài số 5

6/ CANNABIS ẢNH HƯỞNG LÊN THỊ LỰC
Những tai nạn xe cộ do chất ma túy này gia tăng. Một công trình nghiên cứu được chỉ đạo bởi những nhà nghiên cứu của CHRU de Nancy ở 52 người tình nguyện (28 người tiêu thụ đều đặn 7 điếu mỗi tuần và 24 người không tiếp xúc với cannabis) đã cho thấy rằng những người tiêu thụ cannabis, ngoài những trouble cognitif, có một sự chậm trễ rõ rệt trong phản ứng với những tín hiệu thị giác !
(PARIS MATCH 27/6-3/7/2019)

7/ OMEGA 3 VÀ NHỒI MÁU CƠ TIM : LỢI ÍCH KHÔNG ĐƯỢC CHỨNG TỎ.
Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMA : Agence européenne du médicament) không khuyên sử dụng các axit béo oméga 3 trong sự phòng ngừa tim mạch sau nhồi máu cơ tim. Những kết quả thử nghiệm mới đây đã không chứng minh tính hiệu quả của chúng.
(PARIS MATCH 27/6-3/7/2019)

8/ MIGRAINE : NHỮNG TIẾN BỘ ĐIỀU TRỊ
BS Caroline Roos, phu trach Centre des urgences céphalées et migraines, bệnh viện Lariboisière, Paris, điểm lại tình hình về bệnh lý migraine. Những thuốc được dung nạp tốt chẳng bao lâu sẽ có để phòng ngừa những trường hợp migraine nặng.
Hỏi : Những dấu hiệu của crise migraineuse là những dấu hiệu nào ?
BS Caroline Roos. Đó là một đau mạch đập (douleur pulsatile), thường ở một nửa đầu (do đó có từ migraine), có cường độ từ trung bình đến nặng, được tăng thêm bởi hoạt động vật lý hay ngăn cản nó. Trong 20 đến 25% các trường hợp, một aura (những vết lấp lánh cản trở thị giác, những cảm giác kiến bò ở bàn tay, nói khó khăn) đi trước đau trong 5 đến 60 phút. Nôn, mửa, không chịu được ánh sáng hay tiếng ồn đi kèm cơn kéo dài 4 đến 72 giờ. Migraine có thể xảy ra từng đợt hay mãn tính (xảy ra trên 15 ngày mỗi tháng), khi đó trở nên vô cùng invalidante, với một nguy cơ tiêu thụ quá mức những thuốc giảm đau.Hỏi : Hội chứng này có thường gặp không ? Những yếu tố phát khởi nó là gì ?
BS Caroline Roos. 15% những người Pháp bị migraine, đàn bà 3 lần nhiều hơn, với phần lớn một thể địa di truyền. Tuổi xuất hiện thông thường là từ 20 đến 40 tuổi. Những yếu tố phát khởi là stress, những thay đổi trạng thái cảm xúc, chế độ ăn uống, khí hậu, chu kỳ kích thích tố ở phụ nữ và giấc ngủ, cũng như vài thức ăn như rượu và glutamate (đồ ăn tàu). Trái lại thể dục có tính chất bảo vệ.Hỏi : Ta biết gì về cơ chế gây bệnh ?
BS Caroline Roos : Cơ chế bao hàm système trigémino-cervical, được cấu tạo bởi 3 nhánh của dây thần kinh tâm thoa (chịu trách nhiệm bên phải cũng như bên trái cảm giác của một nửa mặt : trán, mặt, má). Những nhánh này, riêng rẻ, tiếp vào hạch thần kinh tam thoa nằm sau xương thái dương và tập hợp lại ở nơi này để tạo thành dây thần kinh tam thoa trước khi nó đi vào trong sọ. Sự kích hoạt của circuit này phóng thích những chất trung gian thần kinh ; những chất này làm giãn nhưng huyết quản màng não (inflammation neurogène) và kích hoạt những đường thần kinh phụ trách đau. Không một xét nghiệm phụ nào hữu ích.
Hỏi : Những phương tiện hiện nay nào để làm dịu và phòng ngừa migraine ?
BS Caroline Roos : Điều trị cơn cấp tính dựa trên những thuốc kháng viêm non stéroidien (aspirine, ibuprofène…). Trong trường hợp thất bại, ta sử dụng triptan ; chất này tác động lên những neurone và những huyết quản (chống chỉ định ở những bệnh nhân tim mạch) và làm thuyên giảm cơn trong vòng dưới 2 giờ. Sự kích thích điện qua da (stimulation électrique transcutanée) trong 30 phút (một boitier đặt trên trán) có thể hữu ích. Điều trị nền để phòng ngừa những cơn dựa trên những beta-bloquant (propranolol), những thuốc chống động kinh (topiramate) hay một thuốc chống trầm cảm (amitriptyline), với những tác dụng phụ : mệt, rối loạn libido, ngủ gà hay mất ngủ, rối loạn cảm giác, lên hay mất cân.
Hỏi : Những thuốc mới được dự kiến là những thuốc nào ?
BS Caroline Roos : Đó là những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) ; những chất này phong bế một chất trung gian thần kinh quan trọng của migraine, được gọi là CGRP, nối với gène calcitonine. 3 trong số những sản phẩm này đã được thương mại hóa và sẽ có để sử dụng ở Pháp trong những tháng đến. Chúng chỉ được kê đơn bởi những neurologue và chỉ trong trường hợp thất bại của những điều trị quy ước. Được dung nạp rất tốt, chúng được tiêm dưới da một lần mỗi tháng. Như thế, 50% những bệnh nhân bị migraine nặng thấy số cơn giảm một nửa. Vài bệnh nhân có thể ngay cả không có cơn nữa trong 6 tháng.
Hỏi : Người bệnh migraine phải biết điều gì ?
BS Caroline Roos : Rằng đó không phải là một định mệnh. Phải luôn luôn nói về điều đó với bác sĩ bởi vì những điều trị hiện hữu.
(PARIS MATCH 16/5-22/5/2019)
TSYH số 490 : bài số 5

9/ NƯỚC ÉP CÀ CHUA : TỐT CHO TIM
Nếu không mặn, nước ép cà chua, làm giảm huyết áp và cholestérol xấu (LDL) một cách đáng kể. Đó là điều được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu Nhật Bản, được tiến hành ở 481 người có nguy cơ bị bệnh tim mạch. Những người này, trong một năm, đã tiêu thụ trung bình 200 ml mỗi ngày.
(PARIS MATCH 4/7-10/7/2019)

10/ TUỔI MÃN KINH : CHÚ Ý HÌNH DẠNG CỦA THÂN THỂ !
Những kết quả của một công trình nghiên cứu mới đây của National Institute of Health ở Hoa Kỳ ở 2683 phụ nữ mãn kinh cho thấy rằng hình thái của thân thể sau mãn kinh là một chỉ dấu tốt của nguy cơ tim mạch. Những người tham dự đã được theo dõi trong 18 năm với những đo người (mesures anthropométriques) phản ánh sự phân bố vùng của mỡ và những đánh giá thành phần cơ thể của họ. 291 phụ nữ đã bị một tai biến tim-mạch trong quá trình theo dõi. Thì ra là khối mỡ (masse graisseuse) của toàn cơ thể không phải là một chỉ dấu nguy cơ tốt, nhưng rằng một tỷ lệ mỡ cao hơn ở thân nhân hai nguy cơ tim mạch. Nguy cơ thấp hơn ở những phụ nữ có một tỷ lệ mỡ cao hơn ở đùi và cẳng chân. Nguy cơ tăng gấp ba ở những phụ nữ có một sự phối hợp của hai trường hợp trước.
(PARIS MATCH 18/7-24/7/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/7/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s