Thời sự y học số 510 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SYNDROME DE TAKO-TSUBO (HỘI CHỨNG LÒNG ĐAU XÓT)
Bệnh cơ tim tako-tsubo xảy ra trong 2/3 trường hợp sau một xúc động tình cảm (choc émotionnel) hay một va chạm vật lý (choc physique).CARDIOLOGIE. Monique, 73 tuổi, buồn bã đặt ống nghe xuống : bà vừa hay tin rằng con trai sẽ ly dị. Đi ra vườn, một đau tỏa lan xuất hiện trong ngực.Bà gọi 15 và có mặt ở khoa cấp cứu thần kinh-mạch (urgences neuro-vasculaires). ” Không phải nhồi máu, thưa bà, bà bị một cardiomyopathie de stress “, cuối cùng vị thầy thuốc đã loan báo với bà như vậy. ” Chúng tôi sẽ giữ bà lại vài ngày nhưng bà sẽ phục hồi hoàn toàn trong vài tuần.”
Bệnh cơ tim tako-tsubo, hay syndrome du coeur brisé, là một biển cố hiếm được mô tả lần đầu tiên năm 1990 bởi những nhà nghiên cứu Nhật Bản. Họ đã quan sát, ở những bệnh nhân dường như bị một sự phong bế của động mạch vành, một biến dạng của thất trái, gợi một cái bẫy mực (piège à poulpe) cổ truyền, tako tsubo theo tiếng Nhật Bản.Một công trình nghiên cứu được công bố năm 2015 bởi những nhà nghiên cứu Thụy Sĩ trong NEJM cho thấy rằng syndrome de tako-tsubo phát triển trong 1/3 các trường hợp sau một choc émotionnel, âm tính hay không : thất tình, cái chết của một người thân, bị mất việc/việc làm mới, trúng số, đám cưới…Và trong 1/3 những trường hợp khác, do một choc physique (can thiệp ngoại khoa, tai nạn xe hơi, cơn hen phế quản…). ” Một sự đau quá mức, thí dụ nếu một gây tê tại chỗ không đủ cho một can thiệp, có thể gây nên một tako-tsubo “, GS Jean-Etienne Bazin, anesthésiste-réanimateur ở CHU de Clermont-Ferrand, đã giải thích như vậy. Không có một yếu tố phát khởi rõ ràng nào đã được tìm thấy đối với 1/3 còn lại trong số 1750 bệnh nhân của công trình nghiên cứu.Những bệnh nhân được điều trị trong salle de cathétérisme bởi vì điện tâm đồ ban đầu gợi một blocage của những động mạch vành. Nhưng chụp động mạch vành được thực hiện cấp cứu là bình thường hay, nếu vài động mạch bị thương tổn như thường là trường hợp ở những bệnh nhân thuộc lứa tuổi này, những bất thường điện của tim không tương ứng với những vùng được cung cấp máu bởi những động mạch vành bị thương tổn ” Chính vào lúc này mà chẩn đoán tako-tsubo được gợi ra, GS Alain Furber, trưởng khoa cardiologie của CHU d’Angers, đã nhấn mạnh như vậy. Chính IRM cho phép xác nhận điều đó một cách dứt điểm.”
Bệnh nhân thường được đặt trong những điều kiện tốt nhất (thuốc kháng đông, theo dõi tim và hỗ trợ hô hấp) để tránh 2 biến chứng chính của của bệnh cơ tim cấp tính này : một rối loạn nhịp trầm trọng (vì lẽ tim hoạt động một cách khập khiễng với một phần của cơ bị liệt) hay một embolie (vì lẽ máu tù hãm trong phần này của tâm thất và có thể tạo nên những cục máu đông).” Cơ chế chính xác của bệnh cơ tim này vẫn còn không được biết rõ, nhưng người ta chấp nhận rằng nó được liên kết với một sự phóng thích quá mức của catécholamine để đáp ứng với một stress quá mức “GS Claire Mounier-Véhier, người phụ trách service de médecine vasculaire et HTA của CHRU de Lille, đã giải thích như vậy. Những “hormone de stress” này, như adrénaline, gây nên một sự chết ngạt (sidération) của những tế bào của phần nhọn nhất của thất trái, dẫn đến, do bù, một sự căng phồng của phần trên của tâm thất, khi đó có hình dạng bình hai quai rất đặc biệt.
Trong 9 trường hợp trên 10, syndrome de tako-tsubo xảy ra ở những phụ nữ mãn kinh và 5 đến 6% trong đó họ bị bệnh này trong các nước phương tây ở một lứa tuổi trung bình 66.Điều này do sự biến mất của các oestrogène. Những kích thích tố này bình thường làm dễ tính phản ứng cơ (réactivité musculaire) của các động mạch và như thế làm dễ công của tim đứng trước stress. Những yếu tố nguy cơ khác là một tố bẩm di truyền, nhồi máu và sự hiện diện của những rối loạn thần kinh hay tâm thần. Ngoài ra sự liên hệ của não đối với bệnh lý này cũng như những bệnh tim mạch khác là không một chút nghi ngờ. ” Ta biết rằng sự phóng thích của catécholamine vận dụng mạng não thùy/hypothalamus/tuyến thượng thận”, GS Martine Gilard, cardiologue ở CHU de Brest đã xác nhận như vậy. Một công trình nghiên cứu của Nga, được công bố vào tháng tư trong European Heart Journal chỉ một liên hệ với một sự giảm nối kết (hypoconectivité) của những neurone can dự trong hệ limbique và paralimbique, cả hai được vận dụng trong cascade hormonale de régulation de stress.
Mặc dầu khó tiên đoán những tai nạn nào của đời sống có thể gây những bệnh cơ tim tako-tsubo này, nhưng dường như rằng những người không quản lý tốt stress của mình là nhạy cảm hơn bởi bệnh lý này. Hiện nay đó là hướng phòng ngừa duy nhất.
(LE FIGARO 20/5/2019)

2/ BIẾT QUẢN LÝ STRESS ĐỂ TRÁNH STRESS CHO TIM
” Cũng như đối với một bong gân, sự phục hồi chức năng là cần thiết sau một tako-tsubo “, GS Claire Mounier-Véhier (CHRU de Lille) đã nhắc lại như vậy. ” Ta dạy lại cho cơ tim hoạt động với tiêu thụ oxygène ít nhất có thể được và sự quản lý stress là một yếu tố chủ yếu của sự phục hồi chức năng này.” Những tái phát xảy ra trong 3 đến 5% những trường hợp, từ 3 tuần đến 3 năm sau sự cố ban đầu. Vậy chúng biện minh một chiến lược phòng ngừa thứ phát (stratégie de prévention secondaire).
” Sự lo âu kinh diễn tạo một khung cảnh thuận lợi đối với tako-tsubo”, Claire Mounier-Véhier đã nhấn mạnh như vậy. Ông khuyến khích một điều trị đặc hiệu sức khỏe tim của các phụ nữ, ít được nghiên cứu hơn sức khỏe tim của đàn ông. Thật vậy, vì những lý do kích thích tố, các phụ nữ mãn kinh có nguy cơ bị tako-tsubo hơn, và một cách tổng quát hơn, stress có những tác dụng có hại lên toàn bộ sức khỏe tim-mạch. Những phụ nữ biết rằng họ khó chống đỡ stress có thể thiết đặt những chiếc lược để học cách quản lý nó tốt hơn.
Công cụ thứ nhất : hoạt động vật lý ! Nó có một tác dụng chống stress ở nhiều mức, nhất là nhờ sự sản xuất endorphine, chất dẫn truyền thần kinh có cấu trúc tương tự với morphine. Những chất này có một tác dụng chống đau, gây khoái trá và chống trầm cảm. Ngoài ra, một sự sản xuất kinh diễn endorphine bảo vệ một cách hiệu quả tim và toàn bộ các mạch máu, đồng thời làm dễ sự giãn của nội mô huyết quản (endothélium vasculaire). Chỉ cần 20 phút hoạt động vật lý cường độ trung bình (hơi chảy mồ hôi và hơi hụt hơi) cũng đủ để những endorphine này được phóng thích.
NGHỆ THUẬT BUÔNG LỎNG (L’ART DU LÂCHER PRISE)
Các chuyên gia cũng khuyến nghị sự thực hành sự buông lỏng (lacher-prise), cần thiết để làm hạ nồng độ cortisol. Kích thích tố này có tác dụng giữ não và toàn thể cơ thể trong tình trạng báo động thường trực, với những hậu quả âm tính lên chuyển hóa và sức khỏe tim mạch. Mục tiêu là gác lại những mối bận lòng tức thời (nghề nghiệp và gia đình) trong 15 phút mỗi ngày. Nhìn một bể kính (aquarium), đi dạo trong một công viên, đồng thời xua đuổi những ý tưởng liên kết với cuộc sống hàng ngày, đủ để có được sự buông lỏng này. Một nguyên tắc mà thiền (méditation pleine conscience) cũng sử dụng. Hoạt động vật lý, nếu nó đủ mạnh, cũng cho phép, bằng cách tập trung vào hơi thở và những cử động cần thiết, thoát khỏi trong vài phút thế giới qua kích thích của cuộc sống hiện đại. Chiến lược bảo vệ khác cần thiết cho sức khỏe : hạn chế sử dụng những mạng xã hội, nhất là bằng cách lấy đi một cách hệ thống những notification tạo một áp lực thường xuyên lên não bộ.
(LE FIGARO 20/5/2019)

3/ BẢO VỆ CƠ TIM CHỐNG CÁC THƯƠNG TỔN MÃN TÍNH
Cơ tim có một năng lực lớn thích ứng và phản ứng với những điều kiện trong đó nó làm việc. Trong khi hội chứng tako-tsubo xảy ra một cách đột ngột, phần lớn các bệnh cơ tim (cardiomyopathie) tiến triển chậm, đôi khi không triệu chứng. ” Chúng không gây đau ngực và thường được phát hiện bởi một sự khó thở “, GS Alian Furber, trưởng service de cardiologie của CHU d’Angers. Chịu trách nhiệm phần lớn những trường hợp suy tim, nhưng chúng có thể được kiểm tra trong thời gian dài hạn ngay khi chúng được điều trị sớm.
Thường nhất, những bệnh cơ tim được liên kết với một sự biến đổi của thế tích của tim, trở nên ít hiệu quả hơn. Như thế, ở Pháp, bệnh cơ tim phì đại (cardiomyopathie hypertrophiée), gây bệnh cho khoảng 1 người trên 2000, gây nên một sự lớn lên toàn thể của tim với một sự dày lên của các thành tim. Nó đặc biệt xảy đến ở những vận động viên thể thao mà tim thường hoạt động dưới sức ép để đáp trả sự gắng sức : đó là nguyên nhân đầu tiên gây chết đột ngột ở vận động viên thể thao trẻ ở Hoa Kỳ. Ngoài những tình huống đặc biệt này, phì đại tim có thể vẫn yên lặng cho đến một lứa tuổi cao, nhất là khi bệnh nhân có một lối sống lành mạnh. Những thể gia đình là thường gặp và một điều trị có thể được thiết đặt sớm để tránh chết đột ngột và phòng ngừa suy tim.
VỆ SINH ĐỜI SỐNG.
Bệnh cơ tim thường gặp nhất, ở Pháp 1 trên 1000, là giãn các xoang tim khác nhau (cardiomyopathie dilatrice), đặc biệt là thất trái. Cơ mất sức mạnh, tim giãn rộng để gia tăng thể tích phóng máu vào mỗi pulsation, nhưng dần dần, cấu trúc của thành tim mỏng đi và không còn có thể quản lý thể tích to lớn này : lưu lượng tim giảm và suy tim xuất hiện. Bệnh lý này thường gặp trong cùng một gia đình cũng như ở những người tiêu thụ quá nhiều rượu hay sử dụng những chất ma túy như cocaine. Điều trị sẽ nhằm bù suy tim, đôi khi bằng cách đặt một régulateur cardiaque. Một sự ghép tim đôi khi cần thiết. Trong tất cả các trường hợp, có thể phòng ngừa hay giới hạn mức độ nghiêm trọng của một bệnh cơ tim như thế bằng một lối sống lành mạnh và, còn phải nói rõ điều đó, bằng một hoạt động vật lý đều đặn.
(LE FIGARO 20/5/2019)

4/ PHẢI CHĂNG TIM CÓ THỂ CHẾT ĐỘT NGỘT DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT XÚC CẢM ?
Không, nếu không có một bệnh lý nào. Mặc dầu những xúc cảm có một tác động sinh lý không thể phủ nhận lên bộ máy tim mạch của chúng ta, đặc biệt gây nên một sự gia tăng của tần số tim và của huyết áp, nhưng thật ra một sự lồng lên đột ngột chỉ có thể gây tử vong đối với vài loại người có nguy cơ. ” Ở những người trẻ, sự chết đột ngột sau một xúc cảm mạnh chỉ xảy ra ở những người bị những bất thường điện của nhịp tim, thường nguồn gốc di truyền, bác sĩ Vincent Probst, người phụ trách Centre de prise en charge du sujet jeune à Nantes, đã xác nhận như vậy. Mặc dầu một sự vận hành bình thường của bộ máy tim, những thiếu sót cấu trúc của những tế bào của cơ tim gây nên một loạn nhịp đập có thể gây chết người. ” Quần thể nguy cơ khác : những người già chịu những nguy cơ tim mạch (cao huyết áp, đái đường, cholestérol) và đối với họ ” một co đột ngột của các động mạch có thể gây bong các mảnh xơ vữa hiện diện trên thành của các động mạch và như thế làm tắc tuần hoàn máu để dẫn đến nhồi máu “. Đối với những người khác, không thể “chết vì sợ hãi”.
(SCIENCE ET VIE : QUESTIONS REPONSES 6-7/8/2018)

5/ HIỂU RÕ HƠN SỰ CHẾT ĐỘT NGỘT CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO
Mỗi năm, một ngàn vận động viên thể thao bị chết đột ngột (mort subite) : một sự chết đột ngột và không thể tiên đoán được, nguồn gốc tim và xảy ra trong hoạt động thể thao. Thế mà 40% những nạn nhân đã cảm thấy những triệu chứng trước tai nạn, nhưng đã phớt lờ chúng. Fondation Coeur & Recherche, société savante, quy tụ những thầy thuốc chuyên khoa tim của Pháp, đã quyết định tài trợ những công trình liên quan đến đề tài này. Vào tháng giêng 2018, cơ quan đã cấp 150.000 euro cho équipe của GS Antoine Leenhardt (bệnh viện Bichat, Paris) để giải mã tốt hơn những nguồn gốc di truyền và những cơ chế của chết đột ngột của vận động viên thể thao. Một năm sau, một kêu gọi quà biếu đã được khởi động ; mục tiêu : tài trợ, đến 500.000 euros, những công trình được điều khiển bởi GS François Carré (CHU Rennes) để hiểu rõ hơn những nguyên nhân của những tai nạn này. Các nhà nghiên cứu muốn rằng những giải phẫu tử thi hoàn toàn, liên kết với những phân tích di truyền, nếu không một nguyên nhân nào được tìm thấy lúc giải phẫu tử thi, được thực hiện một cách hệ thống ở những vận động viên thể thao dưới 35 tuổi chết đột ngột trên sân cỏ.
(LE FIGARO 20/5/2019)

6/ ANGIOPLASTIE CORONARIENNE : NHỮNG TIẾN BỘ HẰNG ĐỊNH
Angioplastie là technique de revascularisation của các động mạch của tim được thực hiện nhất. BS Didier Blanchard, cardiologie interventionnelle, Hopital européen Georges-Pompidou, Paris XV, giải thích những ưu điểm của nó và tóm tắt những tiến bộ của nó.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại nguyên tắc của angioplastie coronarienne ?
BS Didier Blanchard. Xơ vữa động mạch (athérosclérose), sinh ra những chất lắng cholestérol trong những động mạch, nhất là những động mạch của tim, những động mạch vành, là nguyên nhân chính của nhồi máu cơ tim.Những yếu tố nguy cơ của nó là tăng cholestérol-huyết, đái đường, thuốc lá, cao huyết áp, chứng béo phì, những tiền sử tim-mạch gia đình. Những chất lắng cholestérol tạo thành những mảng xơ vữa (plaques d’athérome), có thể hẹp lại và/hoặc, do tiến triển của chúng (vỡ), dẫn đến một sự tắc hoàn toàn của mạch máu. Các mảng vẫn không có hậu quả rất lâu nhưng, lúc tiến triển, có thể, tùy theo những trường hợp, được biểu hiện bởi cơn đau thắt ngực hay sự xuất hiện của một nhồi máu cơ tim.
Cho đến đầu những năm 1980, điều trị không nội khoa duy nhất là bắt cầu các động mạch vành (pontage des artères coronaires) với tuần hoàn ngoài cơ thể (sous circulation extracorporelle). Andreas Gruentzig, một cardiologue Đức, đã có ý tưởng, để lấy đi chướng ngại động mạch mà không cần phải mổ, nong các chỗ hẹp (sténoses) nhờ một quả bóng nhỏ có thể bơm phồng (ballonet gonflable), được đưa vào qua đường nội mạch máu và dưới sự kiểm tra của X quang, điều mà ông đã làm một cách thành công và lần đầu tiên 16 tháng chín 1977 ở bệnh viện Zurich, Thụy Sĩ. Tuy nhiên sự nong không thôi có vẻ không đủ bởi vì thường được tiếp theo sau bởi một tái phát.Hỏi : Từ đó những tiến bộ là gì ?
BS Didier Blanchard. Trước hết là sự xuất hiện của stent (1986), ressort métallique nhỏ, có thể giữ cho động mạch mở sau khi nong. Sự liên kết của những thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégants plaquettaires), của những thuốc làm loãng máu (médicaments fludifiants), trong và sau thủ thuật đã cho phép làm ngừng tần số những tắc xảy ra sớm, nhưng không làm ngừng tần số những hẹp xảy ra muộn liên kết với một tăng sinh tế bào tại chỗ quanh stent. Vào năm 2002, sự xuất hiện của những stents “actifs”, được phủ bởi thuốc được phát ra trong vài tháng, ở vùng được điều trị (bổ sung những thuốc chống ngưng kết uống), cho phép ức chế, thậm chí loại bỏ quá trình này. Nhờ những tiến bộ này, angioplastie từ đó đã trở nên phương pháp quy chiếu để revasculariser tim, với 190.000 thủ thuật mỗi năm ở Pháp so với chỉ 25.000 pontage, chỉ được chỉ định ở những thương tổn rất phức tạp.
Hỏi : Những chỉ định của angioplastie ?
BS Didier Blanchard. Trong cấp cứu, khi nhồi máu cơ tim đang tiến triển, dưới sự che chở của những thuốc bảo vệ và làm loãng máu, angioplastie cứu mạng. Angioplastie cũng nằm trong khung cảnh của điều trị angine de poitrine và của những hẹp không triệu chứng, được khám phá nhân một examen de dépistage systématique (test fonctionnel d’effort).
Hỏi : Thủ thuật diễn biến như thế nào ?
BS Didier Blanchard. Trong một phóng thích ứng, với gây tê tại chỗ, bằng cách đưa lên đến tim, trên guide, ballon và stent, thường nhất từ động mạch quay của cổ tay, điều này làm dễ một sự lấy đi nhanh chóng, và dưới sự kiểm soát quang tuyến. Can thiệp kéo dài khoảng 1 giờ và có thể được thực hiện ngoại trú. Sự tiểu hình hóa (miniaturisation) dụng cụ và các thuốc sử dụng làm cho những biến chứng trở thành ngoại lệ. Tỷ lệ thành công toàn bộ, từ nay lâu dài, là 95%. Trong trường hợp tái phát, hiếm hôm nay, một angioplastie có thể được thực hiện ở cùng vị trí với nong trước đây, cũng như sự đặt một stent mới. Sự sử dụng những thuốc chống ngưng kết là bắt buộc ít nhất một tháng hay một năm, tùy theo trường hợp. Một sự theo dõi đều đặn bởi thầy thuốc chuyên khoa tim và bằng những test fonctionnel d’effort mỗi hai hay ba năm được khuyến nghị. Những stent biodégradable đang còn được phát triển và đánh giá.

(PARIS MATCH 7/2-13/2/2019)
Đọc thêm : TSYH số 423, 422

7/ BÚ SỮA MẸ : ÍT BỊ BÉO PHÌ HƠN
Một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi OMS trong 16 nước châu Âu, trẻn 30.000 trẻ em, cho thấy rằng các em bé được cho bú sữa mẹ trong 6 tháng có ít nguy cơ trở thành béo phì hơn so với những trẻ được nuôi bằng sữa bột. Nguy cơ này gia tăng 22%.
(PARIS MATCH 16/5-22/5/2019)

8/ CÓ ĐÚNG RẰNG MỘT STRESS QUAN TRỌNG CÓ THỂ LÀM BẠC TÓC TRONG VAI GIỜ ?Không, bởi vì một sợi tóc, dầu nâu, blond hay trắng, không bao giờ thay đổi màu trong quá trình tăng trưởng của nó. ” Phần có thể thấy được của tóc là một mô chết về mặt cấu trúc, không có huyết quản cũng như dây thần kinh, Marcel Salvador, chuyên gia về tóc ở Montpellier đã xác nhận như vậy. Vậy tóc không thể, về mặt sinh lý và hóa học, mất màu trong vài giờ.”
Nhiều yếu tố có thể sinh ra sự xuất hiện đột ngột của tóc bạc trắng : các gène, thức ăn…hay stress. ” Sau một sốc dữ dội hay một sự sợ hãi, sự tiêu thụ các vitamine, các chất khoáng và những oligoélément, cần thiết cho sự sản xuất mélanine, bị giảm tốc.” Thế mà, cơ thể nuôi dưỡng ưu tiên những cơ quan sinh tử : não, tim, gan…Những tế bào biểu bì lại là những tế bào sau cùng tiếp nhận những yếu tố dinh dưỡng. Kết quả : cá nhân có thể bị bạc tóc sớm, hay “canitie” Thế thì nghĩ gì về những trường hợp của Marie-Antoinette hay Sir Thomas More, thấy tóc mình bị bạc trắng hoàn toàn đêm trước khi bị hành quyết ? Anne-Marie Skelett và các đồng nghiệp của département de dermatologie của bệnh viện đại học Norwich (Vương quốc Anh) đưa ra hai lời giải thích : hoặc là cả hai tử tù vốn đã có tóc bạc và đã không tiếp cận nữa với thuốc nhuộm tóc lệ thường ; hoặc là dưới tác dụng của stress, họ đã phát triển một phản ứng tự miễn dịch được gọi là Alopecia areata : bằng cách loại bỏ hệ sắc tố của nang lông (follicule pileux), cơ thể của họ đã làm rụng nhưng tóc được nhuộm màu…nhưng không đụng đến những tóc đã trắng.
(SCIENCE ET VIE : QUESTIONS REPONSES 6-7/8/2018)

9/ STRESS PHẢI CHĂNG CÓ THỂ GÂY UNG THƯ ?ONCOLOGIE. ” Anh/bà bị ung thư.” Lời loan báo, dầu thầy thuốc rất thận trọng, luôn luôn dot ngot. Và nhiều bệnh nhân tìm cách một cách vô vọng để tìm ra nguyên nhân của căn bệnh. Một tang chế, ly dị, những lo âu nghề nghiệp… Thế nếu stress là thủ phạm ? Những điều lo lắng làm hao mòn tinh thần phải chăng có thể được thể hiện thành một khối u làm hao mòn cơ thể ?Đằng sau ý tưởng này, một logique rõ ràng mà nghiên cứu đã nắm lâu từ lâu : khi cơ thể của chúng ta chịu một biến cố gây căng thẳng, nó phóng thích những kích thích tố (adrénaline, cortisol…), huyết áp gia tăng, nhịp tim gia tăng, nhịp circadien có thể bị rối loạn…Những phản ứng sinh lý hoàn toàn tự nhiên cho phép chúng ta phản ứng một cách hiệu quả trước một tình huống căng thẳng.
” Không có bằng cớ khoa học theo chiều hướng này ở quy mô của các quần thể “, BS Sarah Dauchy, thầy thuốc tâm thần và chef de l’unité de psycho-oncologie ở Gustave-Roussy (Villejuif) đã nói như vậy. Cho đến nay không có một công trình nghiên cứu khoa học nào đã có thể xác lập mối liên hệ nhân quả giữa việc bị stress và một nguy cơ phát triển ung thư. Mặc dầu các công trình đã kết luận một sự liên kết giữa một số quan trọng những biến cố đời sống gây căng thẳng và vài ung thư, nhất là của vú. Điều này củng cố trong đại chúng ý tưởng rằng stress chính nó là một yếu tố nguy cơ. Nhưng như luôn luôn xảy ra trong y khoa, sự tương ứng (corrélation) không muốn nói là nhân quả (causalité) !
Thật vậy khó gán một ung thư cho một biến cố đời sống nào đó.” Ta biết đo những biến cố đời sống căng thẳng, tình trạng détresse psychologique hay đau khổ tình cảm “, BS Sauchy đã chỉ rõ như vậy. Nhưng “những người đã có một chẩn đoán ung thư có khuynh hướng đánh giá quá mức mức stress trước đây”, Société française de psycho-oncologie trong một fiche d’information dành cho chủ đề đã ghi chú như vậy.
Về sự thể hiện thân thể của một tình trạng stress vào một lúc nào ở, mặc dầu ta có thể đánh giá một cách khách quan (nhịp tim, cortisol nước dãi…), nhưng những ung thư là một bệnh nhiều yếu tố (maladie multifactorielle) rất phức tạp mà những cơ chế không hẳn đã được hiểu rõ. ” Một ung thư là kết quả của một sự rối loạn của ADN “, Fondation belge contre le cancer đã nhắc lại như vậy : cũng như những tư tưởng âm tính sẽ không đủ gây nên điều đó, ” Không thể “sửa chữa” ADN bằng cách tư duy dương tính”. Mặt khác, ” có một thời gian tiềm tàng dài (từ 20 đến 40 năm) giữa sự tiếp xúc những yếu tố nguy cơ ung thư và sự xuất hiện ung thư này “.
Và những câu chuyện của những bệnh nhân tin chắc sẽ không thay đổi gì hết. ” Anh hãy tưởng tượng một phụ nữ mà ta chẩn đoán một ung thư vài tháng sau khi ly dị, và thiết lập một mối liên hệ giữa sự ly dị và ung thư. BS Dauchy đã minh họa như vậy. Trước hết, trường hợp đặc biệt của phụ nữ này không nói gì hết về những trường hợp ly dị không dẫn đến những ung thư. Ngoài ra chronologie của loại liên kết này nói chung không được tôn trọng, thế mà ung thư cần nhiều năm để phát triển “, những tế bào ung thư đầu tiên ẩn núp trong cơ thể ngay trước khi đôi lứa ly dị. Ngoài ra, BS Dauchy ghi chú, ” người ta đã chứng minh rằng sự gia tăng của chẩn đoán những bệnh nặng có thể theo vài biến cố đời sống, được liên kết với một sự chậm chẩn đoán ” ; bận lòng bởi sự ly dị của mình, bệnh nhân của chúng ta có thể không chú ý đến chụp tuyến vú được khuyến nghị, và như thế ung thư của bà được chẩn đoán muộn hơn, ở một giai đoạn tiến triển hơn của bệnh.
” Psycho nuro-immuno-oncologie là một trường trong đó ta chắc chắn sẽ khám phá một số điều nào đó. Sarah Dauchy đã ghi chú như vậy. Có những hướng thăm dò để hiểu và có lẽ có những cơ chế được vận dụng chung quanh tính miễn dịch. Nhưng sự việc chắc chắn phức tạp hơn nhiều định kiến “stress-cancer” mà ta không quan sát trên bình diện dịch tễ học.”
Ngược lại người ta đã xác lập rằng một stress kéo dài và không chịu được tốt khuyến khích những hành vì không thuận lợi cho sức khỏe (sự tiêu thụ rượu và thuốc lá ; vệ sinh ăn uống kém, mức độ hoạt động vật lý thấp, khó ngủ…). Những hành vi này chắc chắn là những nguồn cung cấp ung thư. Cũng vậy, chính căn bệnh và những điều trị là một nguồn stress ảnh hưởng hình dạng tổng quát cue bệnh. Một khi ung thư đã phát ra, ” một số kỹ thuật nào đó để chống lại stress là có lợi cho các bệnh nhân, BS Dauchy đã nhấn mạnh như vậy. Ta chỉ có thể khuyến khích họ nhờ đến chúng để chống lại tác động tâm lý của bệnh.”
(LE FIGARO 6/5/2019)

10/ NHỮNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP : TỶ LỆ TỬ VONG GIA TĂNG
Công trình nghiên cứu NtriNet-Santé, được điều khiển boi GS Serge Hercberg, épidémiologiste và chuyên gia về dinh dưỡng, đã theo dõi 44.551 người trên 45 tuổi (trong đó 73% là phụ nữ) từ 2009 den 2017, để đánh giá ảnh hưởng của những thức ăn chế biến lên tỷ lệ tử vong toàn thể. Những sản phẩm này, ăn liền (prêts à là consommation), đa dạng (những món ăn nấu, soupes loại nước, bánh ngọt và sandwichs préemballés; những đồ uống ướp thơm…), nhiều chất phụ gia (additifs) (những chất bảo quản, chất nhuộm, những chất ướp thơm) đến trực tiếp từ công nghiệp nông-thực phẩm. Trong 7 năm theo dõi, 602 trường hợp tử vong đã được thống kê. Phân tích các dữ kiện cho thấy rằng một sự gia tăng 10% những loại sản phẩm này được liên kết với một sự gia tăng tỷ lệ tử vong 14% ! Công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng những sản phẩm này thường nghèo các sợi, nhiều mỡ hơn, nhiều đường và nhiều muối hơn những thức ăn tự nhiên.
(PARIS MATCH 16/5-22/5/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s