Thời sự y học số 506 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG BỆNH ĐỘNG VẬT TRUYỀN CHO NGƯỜI (ZOONOSES) : ĐỪNG MẤT CẢNH GIÁC
Những bệnh được truyền bởi động vật này đang lùi lại ở Pháp. Nhưng những nguy cơ mới xuất hiện.INFECTIOLOGIE. Trên khoảng 1400 tác nhân nhiễm trùng, các vi khuẩn, virus, ký sinh …2/3 là những tác nhân của những bệnh được truyền bởi động vật (zoonose), được truyền giữa người và động vật một cách trực tiếp hay bởi vecteur (muỗi, puce, tique…). Sự truyền có thể qua đường hô hấp, tiêu hóa, da-niêm mạc hay nhiều đường.
Mặc dầu số lượng và tính đa dạng của chúng, những bệnh được truyền bởi động vật này có một ảnh hưởng y tế khiêm tốn trong những nước phát triển. Ở Pháp, sự triệt trừ những ổ chứa động vật, trình độ tiêm chủng và vệ sinh cao, những tiến bộ của sự chống nhiễm trùng và những mạng theo dõi, dựa trên sự khai báo bắt buộc của vài bệnh, giải thích những kết quả này. Nhưng một vài bệnh có tiềm năng nghiêm trọng và đòi hỏi cảnh giác.
Với khoảng 5000 trường hợp mỗi năm, ở Pháp, sự truyền của bệnh lao, do trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis, hầu như chỉ giữa người với người. Bệnh hầu như biến mất với tư cách bệnh được truyền bởi động vật do M.bovis (10 trường hợp trong 5 năm). Cũng y hệt như vậy từ 40 năm qua đối với bruxellose, một bệnh sốt do vi khuẩn, được truyền bởi gia súc hay thức ăn (20 trường hợp nhập cảng hàng năm được khai báo), và bệnh than (charbon). Bệnh được truyền bởi động vật cổ điển khác, sốt Q do Coxiella, nhiều ổ chứa (trâu bò, dê cừu,…), nguồn gốc của một hội chứng cúm mùa hè (syndrome grippal d’été). Mặc dầu thường hiền tính ở những người chăn nuôi, nó có thể nghiêm trọng ở những người vốn có một thương tổn của những van tim, và là nguồn gốc của sẩy thai ở những phụ nữ mang thai.
Tỷ lệ ước tính của bệnh Lyme đã gia tăng ở Pháp, chuyển từ 51 lên 84 trường hợp đối với 100.000 dân giữa 2015 và 2016. Những chênh lệch vùng là mạnh, vùng Alsace và miền Trung bị nhiều hơn miền Tây và miền Nam.Bệnh Lyme được truyền bởi một tique bị gây nhiễm bởi một vi khuẩn loại Borrelia. ” Chẩn đoán sinh học được thực hiện trong những điều kiện tốt cho những kết quả đáng tin cậy “, GS Jean-Paul Stahl, thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm (CHU Grenoble) đã chỉ rõ như vậy. Bệnh có thể không gây triệu chứng, hiền tính hay cho những biểu hiện khác nhau ngoài da, thần kinh, khớp,…” Có nhiều bệnh nhân có nhiều triệu chứng xác thực của bệnh Lyme nhưng họ không bị bệnh này, với nguy cơ mất cơ may có chẩn đoán đúng “, vị thầy thuốc đã lấy làm tiếc như vậy. Ông kể trường hợp ” một thiếu nữ được điều trị vì bệnh Lyme từ 8 tháng nhưng trên thực tế lại bị một lymphome de Hodgkin. Tất cả những thầy thuốc chuyên khoa nhiễm trùng có những thí dụ như vậy.”
Ghi chú đặc biệt đối với bệnh dại, viêm não do virus gây tử vong 100% nếu tiêm chủng sau khi bị tiếp xúc, rất hiệu quả, không được thực hiện trước khi xuất hiện các triệu chứng. Trường hợp sau cùng của bệnh dại người bản địa (rage humaine autochtone) ở métropole có từ năm 1924. Một sự gia tăng bệnh dại động vật (rage animale) trong những năm 60 đã dẫn đến tiêm chủng các con chó (những gia súc thường là trung gian giữa những bể chứa hoang dã và người), rồi các con cáo, bể chứa (réservoir) chính của virus. Hôm nay, nước Pháp không bị bệnh dại động vật trên cạn (rage animale terrestre), nhưng sự theo dõi được duy trì ở métropole cũng như ở hải ngoại.” Trung bình ta phát hiện một ở bệnh dại động vật mỗi năm ở métropole, chủ yếu do những động vật mang về từ ngoại quốc. Ở Guyane, mối quan tâm rất khác với bệnh dại của những chiroptères liên quan đến những dơi hút máu địa phương “, GS Barbara Dufour, vétérinaire, đã giải thích như vậy. Từ năm 1970, 22 trường hợp bệnh dại người, nhập cảng, đã được chẩn đoán ở métropole. ” Ngày nay bệnh dại là một bệnh của du khách. Trong nhiều nước, phải tránh sự tiếp xúc với một động vật ngay cả nó có vẻ dễ mến. Trường hợp cuối cùng, một đứa bé chết năm 2017 ở Lyon, đã bị lây nhiễm lúc nghỉ hè ở Sri Lanka bởi một con mèo nhỏ “, GS Stahl đã nhắc lại như vậy.
Chó và mèo cũng là những bể chứa của một zoonose hiền tính hơn, pasteurellose. ” Vi khuẩn, hiện diện trong miệng của 80% những con mèo và chó, dễ được truyền trong trường hợp bị cào hay cắn. Trong 5-6 giờ, một phản ứng viêm rất mạnh xuất hiện tại chỗ, vùng bị sưng, đỏ, rất đau. Sự sử dụng kháng sinh phải tức thời và cho phép chấm dứt sự nhiễm trùng này trong 12 giờ “, GS Dufour đã chỉ như vậy. Ông nhắc lại rằng ” mọi vết thương được gây nên bởi động vật nuôi trong nhà phải được điều trị bằng kháng sinh “.
Vài zoonose được liên kết với những hoạt động hay những môn giải trí đặc biệt, leptospirose của những công nhân dọn cống (égoutiers), tularémie do thỏ rừng (lièvre) ở những thợ săn, psittacose do chim…
Phần lớn những zoonose lớn đã lùi. Nhìn toàn bộ, đó cũng là trường hợp đối với những zoonose alimentaire, rất nhạy cảm với những điều kiện vệ sinh của những quá trình chế biến và vận chuyển. Hôm nay sự lưu thông to lớn hàng hóa là một nguy cơ quan trọng, với tác dụng của con người lên môi trường và nguy cơ liên kết với những zoonose mới phát sinh.
(LE FIGARO 8/4/2019)

2/ NHỮNG BỆNH MỚI PHÁT KHỞI : TẦM QUAN TRỌNG CỦA MÔI TRƯỜNG
Những bệnh được truyền bởi động vật đáng sợ nhất không phát khởi trong những nước phát triển nhất. Như sốt xuất huyết bởi virus Ebola ở châu Phi. Virus được truyền giữa người qua các chất dịch cơ thể và sự tiếp xúc của những người bệnh, mà ta tự bảo vệ mình bằng những quần áo thích hợp và những gant. Nhưng phải có những cấu trúc, những bệnh viện để cách ly những người bệnh và tránh sự lây nhiễm. Chính vì vậy những trận dịch này tăng sinh trong những vùng không an toàn hay nghèo nàn.
Điểm xuất phát của một zoonose luôn luôn là hệ động vật hoang dã (faune sauvage). Tuy nhiên tác nhân nhiễm trùng còn phải có thể thích nghi với người, như đó đã là trường hợp đối với VIH, hôm nay hoàn toàn thích nghi với con người (humanisé). Virus cổ điển H3N2 của bệnh cúm đã trở thành thuần người, “nhưng vào những lúc dịch cúm gà (épizooties de grippe aviaire) do H5N1 trong vùng Tây Nam, ta không có một trường hợp người nào cả. Virus H5N1 phải đi vào rất sâu, đến tận các phế nang phổi, để tìm thấy những thụ thể, điều này cần một lượng rất lớn virus trong không khí. Các thụ thế đối với virus cúm người ở cao hon, nhiệt độ ở đó quá thấp để virus aviaire có thể phát triển “, BS Jean-Claude Manuguerra, virologue (Viện Pasteur, Paris) đã giải thích như vậy. Ngoài ra, sự giết toàn bộ trong những trại chăn nuôi bi ô nhiễm cho phép ngăn cản virus lan tràn từ những chim hoang dã.
DƠI VÀ LẠC ĐÀ MỘT BƯỚU
Sự tiến triển của khí hậu đóng một vai trò quan trọng trong những bệnh mới phát khởi này. Hiện nay, virus Zika không xuất hiện ở Pháp métropole, nhưng chikungunya hiện diện chủ yếu ở miền Bắc nước Ý. ” Mặc dầu đã có những trường hợp bản địa chikungunya và dengue ở métropole, nhưng những virus này đã không ở một cách lâu dài, mặc dầu moustique tigre vecteur hiện diện từ lâu “, BS Manuguerra đã chỉ như vậy. Những virus này biến dị ít hơn cúm, vậy những người đã bị nhiễm sau đó được miễn dịch tốt. ” Ở La Réunion, đã không có dịch chikungunya từ trận dịch 2008 “, vị thầy thuốc đã xác nhận như vậy. Chúng cũng chịu, giữa vecteur của chúng và con người, những bó buộc thích nghi rất mạnh.
Ta đã có thể làm ngừng đúng lúc sự truyền của SRAS. Trong số những bệnh được truyền bởi động vật mới phát khởi (zoonoses émergentes), Mers-coronavirus của Trung đông dường như khá gây quan ngại, nhà virus học đã nhấn mạnh như vậy. ” Virus cố đi vào loài người từ 7 năm nay. Bể chứa của nó là dơi, nhưng nó đến gần người qua lạc đà một bướu (dromadaire). Sự truyền giữa người với nhau dường như chưa xảy ra thường trực, những tình huống có thể chuyển hướng bất cứ lúc nào.”
Hai yếu tố khác có nguy cơ đóng một vài trò quan trọng trong những trường hợp mới phát khởi này : sự thay đổi trong sử dụng đất (phá rừng, đô thị hóa), điều này tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những virus mới và cho sự giảm tính đa dạng trong những giống chăn nuôi, điều này làm các động vật dễ nhạy cảm đối với những virus mới này.
(LE FIGARO 8/4/2019)

3/ TRONG NHỮNG DĨA ĂN CỦA CHÚNG TA, SALMONELLES VẪN Ở HÀNG ĐẦU
Hơn một nửa những trường hợp listériose nặng ở châu Âu là những trường hợp được tập hợp (cas groupés), mà hệ theo dõi châu Âu khó phát hiện nhanh và có thể bị xem như là những trường hợp riêng rẻ (cas isolés). Cơ quan phòng ngừa và kiểm soát những bệnh nhiễm trùng của Liên Hiệp châu u (ECDC) vừa công bố một công trình nghiên cứu, bằng séquenage génétique, cho thấy rằng giống vi khuẩn Listeria là nguồn gốc của 9 trường hợp Listériose ở Đan Mạch, trường hợp cuối vào tháng hai, giống với 9 trường hợp khác xuất hiện giữa 2014 và 2018 trong ba nước baltique. Tất cả có cùng nguồn gốc : cá hun khói từ Estonie.
La zoonose alimentaire nặng ở những người già, những phụ nữ có thai và những bệnh nhân suy giảm miễn dịch với một tỷ lệ tử vong 20 đến 30%, listériose đã trở nên hiếm do sự quy đình nghiêm khắc. Sự truyền được thực hiện bởi những thức ăn ô nhiễm sống hay không được nấu chín : đồ thịt lợn, cá hun khói, sò ốc, fromage au lait cru, trái cây và rau xanh sống… Vào năm 2017, Pháp đã khai báo 371 trường hợp, tỷ lệ ổn định từ 5 năm qua. ” Nhìn toàn bộ, sự theo dõi các thực phẩm nguồn gốc động vật là khá tốt ở Pháp, ở đây ta đã không bị dịch listériose từ nhiều năm. Từ nay tỷ lệ cũng giảm với những nước châu Âu khác, trong khi tỷ lệ này cao cách nầy 10 năm”, GS Dufour đã đánh giá như vậy.
CHÚ Ý VIÊM GAN E !
Nhung nhiễm trùng salmonelles là những zoonose alimentaire thường gặp nhất. Những vì khuẩn này của ống tiêu hóa của gia súc và gia cầm có thể gây nhiễm thịt, sữa, trứng … phát triển trên những thức ăn không được nấu chín. ” Nước Pháp tiến bộ tốt trong 15, 20 năm nhờ những biện pháp đúng quy chế trong chăn nuôi. Những salmonelles quan trọng đã giảm rõ rệt trong khi khu chăn nuôi gia cầm còn khá bị ô nhiễm cách nay 15 năm.”
Salmonellose, riêng rẻ hay gay những toxi-infection alimentaire tập thể (Tiac), được thể hiện bởi một viêm dạ dày-ruột có mức độ nghiêm trọng thay đổi, và đôi khi một sự mất nước nghiêm trọng. Nếu số những trường hợp riêng rẻ không được biết, Tiac phải khai báo bắt buộc. Vào năm 2017, 1310 trường hợp đã được khai báo ở Pháp, xảy ra cho 13.000 người. Tác nhân thường gặp nhất được xác nhận là một salmonelle. Trong số những trường hợp, 27% đã xảy ra trong những bữa ăn gia đình, 30% trong cửa hàng ăn tập thể và 40% trong cửa hàng ăn thương mãi.
Được liên kết với sự tiêu thụ thịt, nhất là thịt thái nhỏ, các vi khuẩn Escherichia coli sản xuất shigatoxine ở Pháp đã là nguồn gốc vào năm 2017 của 167 hội chứng dung huyết và ure-huyết (syndrome hémolytique et urémique) ở trẻ em, với những suy thận cấp tính nặng. Chúng gia tăng vào năm 2016.
Những zoonose alimentaire mới rất được theo dõi, như viêm gan E, có khuynh hướng gia tăng ở châu Âu. Thường vô hại, trong những trường hợp hiếm nó chịu trách nhiệm những viêm gan nặng hay những thương tổn thần kinh, và nguy hiểm đối với những phụ nữ có thai. Được truyền từ các con lợn lòi cho những trại chăn nuôi heo, viêm gan E chủ yếu liên kết với sự tiêu thụ gan heo sống (saucisses de foie fraiches, figatelli). Virus viêm gan E bị bất hoạt bởi sự nấu chín.
(LE FIGARO 8/4/2019)

4/ MỘT BỆNH NHÂN THỨ HAI ĐƯỢC CHỮA LÀNH BỆNH SIDA
Các nhà nghiên cứu đã loan báo một trường hợp thứ hai trên thế giới thuyên giảm kéo dài nhờ ghép tủy xương, như thế làm vững chắc hướng liệu pháp gène (thérapie génique) chống VIH
Con đường lựa chọn là con đường ghép tủy xương
Lần thứ hai, một bệnh nhân bị bệnh sida đi vào trong giai đoạn thuyên giảm kéo dài (en rémission prolongée) sau một ghép tủy xương, một kíp của University College de Londres đã loan báo như vậy vào đầu tháng ba nhân Hội nghị Quốc tế về những rétrovirus ở Seattle (Hoa Kỳ). Được gọi là ” người bệnh của Luân Đôn “, bệnh nhân sống không điều trị từ 18 tháng nay và trong cơ thể không còn có một dấu vết nào của VIH (virus de l’immunodéficience humaine). Cũng như trong trường hợp ung thư, nên nói là thuyên giảm (rémission) hơn là chữa lành (guérison), bởi vì những hạt siêu vi trùng (particules virales) tuy không thể phát hiện nhưng có lẽ vẫn tồn tại trong vài tế bào.
Người hiến có một biến dạng di truyền hiếm
Được gọi là CCR5 delta 32, biến dị (mutation) này ngăn cản sự sản xuất của protéine CCR5 hiện diện ở bề mặt của những tế bào lympho T được VIH nhắm đến. Thế mà chính protéine này cho phép virus đi vào trong những tế bào lympho T. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu cho rằng những người mang tự nhiên biến dị này được miễn dịch chống lại căn bệnh.Ngoài ra chính protéine CCR5 này mà một nhà nghiên cứu Trung Quốc xác nhận đã đưa vào (hoàn toàn bất hợp pháp) trong génome của những em bé được biến đổi về mặt di truyền, sinh ở Trung Quốc vào tháng 11 năm 2018.
Sự thành công này xác nhận vai trò của thụ thể CCR5 trong nhiễm trùng bởi VIH
Một ghép tủy xương (khởi đầu được dành để điều trị một ung thư máu) đã cho phép một thuyên giam đầu tiên vào năm 2012 ở Timothy Brown, cũng được biết như là “người bệnh của Berlin”, thành phố mà bệnh nhân được điều trị. Từ do, không một dấu vết virus nào đã được tìm thấy trong cơ thể. Một trường hợp thứ ba đã được trình bày ở Seatle, “bệnh nhân của Dussseldorf” đã ngừng điều trị antirétroviral từ tháng 11 năm 2018 và chẳng bao lâu có thể được xem là thuyên giảm (en rémission)
Không phải tất cả những bệnh nhân sida đều sẽ có thể nhận một can thiệp như thế
Thật vậy, biến dị CCR5 delta 32 được tìm thấy trong dưới 10% dân chúng ở châu Âu và 0,3% trên thế giới. Trong số những hiến cơ quan được khai báo, 22.000 người mang biến dị này hôm nay được nhận diện bởi chương trình nghiên cứu quốc tế IciStemdoi với ghép này. Nhưng sự thành công của sự ghép tủy xương này vẫn bấp bênh. Trên 39 bệnh nhân đã nhận ghép, chỉ 3 đã có thể ngừng điều trị chống rétrovirus một cách thành công. Trong những trường hợp ghép khác, VIH sau cùng đã tái xuất hiện từ 13 đến 18 tháng sau.
Hướng liệu pháp gène được củng cố
Để giải quyết sự thiếu người hiến cơ quan, từ nay các thầy thuốc tìm cách trich lấy những tế bào của chính bệnh nhân để gây ở đó sự biến dị CCR5delta 32, trước khi thực hiện autogreffe de moelle. Nhiều thử nghiệm lâm sàng thuộc loại này đang được tiến hành ở Hoa Kỳ và châu Âu, nhất là ở Pháp. Hãy nhắc lại rằng bệnh sida, cuối năm 2017, gây bệnh cho 36,9 triệu người trên thế giới.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2019) Page 90
Đọc thêm : TSYH số 366 : bài số 7

5/ VIH ĐƯỢC LOẠI BỎ KHỎI ” CELLULES RESERVOIRS”
Chiến lược này có thể cho phép hệ miễn dịch chế ngự nhiễm trùng mà không nhờ đến điều trị.INFECTIOLOGIE. Chữa lành khỏi bệnh sida, đó là hy vọng được thổi bùng lên bởi một kíp của Viện Pasteur ở Paris. Các nhà nghiên cứu đã phát triển một chiến lược khả dĩ trừ triệt những tế bào được gọi là bể chứa (cellules réservoirs) trong đó VIH ẩn trốn. Hôm nay, những điều trị chống rétrovirus cho phép phong bế nhiễm trùng ở những người bệnh, nhưng virus vẫn như yên ngủ trong vài tế bào của hệ miễn dịch. Vậy tất cả thách thức là phải biết một cách chính xác những tế bào nào. Đó là điều mà những nhà nghiên cứu đă thành công khi những thí nghiệm được thực hiện in vitro đã cho thấy rằng VIH nhắm những tế bào có hoạt tính chuyển hóa cao, đặc biệt những tế bào tiêu thụ nhiều glucose nhất. Thật vậy, để sống sót, virus chuyển hướng năng lượng này để có lợi cho nó. Như thế, bằng cách ức chế hoạt động chuyển hóa của chúng, các nhà nghiên cứu đã thành công tiêu hủy những cellules réservoirs. Nhiên hậu, mục tiêu là cho phép hệ miễn dịch chế ngự sự nhiễm trùng mà không cần điều trị.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2019) Page 22

6/ VIH : VỚI ĐIỀU TRỊ TAM LIỆU PHÁP, SỰ TRUYỀN BỆNH ZERO
Vào năm 2016, một công trình nghiên cứu có thời gian nhìn lại ngắn (15 tháng) đã cho thấy ở những cặp dị và đồng tính luyến ái trong đó chỉ một người có huyết thanh dương tính nhưng được điều trị bởi tam liệu pháp (trithérapie) rằng nguy cơ truyền bệnh từ người này đến người khác là zéro trong chừng mực charge virale không thể phát hiện, hoặc 90% những trường hợp. Một công trình nghiên cứu trong thời gian dài hạn (thời gian nhìn lại đến 8 năm), được thực hiện trong 14 nước và được công bố trong tạp chí “The Lancet”, xác nhận kết quả này. Công trình bao gồm 972 cặp có phản ứng huyết thanh khác nhau, phần lớn đồng tính luyến ái, không sử dụng túi dương vật (préservatif) cũng như không điều trị phòng ngừa (PrEP) lúc giao hợp. 15 séroconversion đã đếm được, tất cả được liên kết với những giao hợp không được bảo vệ với một partenaire khác. Nguy cơ truyền thật sự, mặc dầu 75.000 động tác giao hợp được thống kê trong công trình, đã là zéro.
(PARIS MATCH 6/6-11/6/2019)

7/ LÀM SAO DẬP TẮT DỊCH BỆNH SIDA Ở PHÁP ?

Professeur Christine Rouzioux
Directrice de l’EA 7327
Université Paris Descartes
Professeur émérite
Faculté de médecine de Necker

Nhận làm công tác nghiên cứu về bệnh sida từ rất nhiêu năm nay, tôi đã đều đều bị đối chất cùng những câu hỏi : nghiên cứu về bệnh sida có tiến triển không ? Thế còn vaccin, chừng nào có ?
Nước Pháp mặc dầu là nước trong đó sự điều trị nhiễm trùng và sự tiếp cận với những điều trị là tốt nhất. Nhưng trong khi chúng ta có tất cả những công cụ để kiểm soát nó, dịch bệnh vẫn còn thắng thế với hơn 5000 trường hợp lây nhiễm mới mỗi năm. Đặc biệt hiện diện ở Ile-de-France, bệnh tập trung trong cộng đồng đồng tính luyến ái nam và ở những người dị tính luyến ái (hétérosexuelle) gốc Afrique subsaharienne, mà gần một nửa, trái với những định kiến, bị nhiễm ở Pháp. Nhất là khoảng 25.000 người huyết thanh dương tính mà không hay biết, hoặc 20% những người mang virus VIH. Vậy để dập tắt dịch bệnh, phải đồng thời điều trị tất cả những người bị nhiễm trùng, phát triển một chính sách điều tra phát hiện (politique de dépistage) và gia tăng những chương trình phòng ngừa. Đó là một thách thức quan trọng, nhưng ta có thể nhận lấy, với điều kiện có những phương tiện.
Những tiến bộ đáng kể đã được thực hiện với sự phát triển những thuốc có tác dụng mạnh và được dung nạp tốt, không gây nhiều tác dụng phụ của những điều trị đầu tiên. Từ nay tất cả những người có huyết thanh dương tính phải được điều trị không chậm trễ. Càng sớm càng tốt, bởi vì, bằng cách giảm một cách đáng kể nồng độ virus trong cơ thể, điều trị chống VIH sẽ phong bế sự tiến triển của nhiễm trùng thành bệnh sida : người vẫn bị nhiễm (infecté) nhưng không bị bệnh (malade). Hiện nay, ở Pháp, ở hơn 90% những bệnh nhân được điều trị, charge virale này không thể phát hiện và hôm nay ta hầu như không còn chết vì bệnh sida nữa.
Ngoài ra, từ nay ta biết rằng những bệnh nhân, với điều trị được kiểm soát, không còn gây nhiễm nữa : với điều kiện dùng thuốc rất đều đặn, vậy bệnh nhân không còn có nguy cơ truyền virus cho partenaire…và truyền dịch bệnh. Như thế một lợi ích tập thể rõ rệt được thêm vào một lợi ích cá nhân thật sự.
Từ nay một trong những thách thức là làm nhạy cảm cho 25.000 người bị nhiễm mà không biết mình bị huyết thanh dương tính, về lợi ích của chẩn đoán. Vậy những chiến dịch điều tra phát hiện và sự tiếp cận những trắc nghiệm phải được tăng cường và hướng về những người bị tiếp xúc nhất, đồng thời biết rằng se vấp phải sự lo ngại bị lên án, bị hất hủi bởi những người thân và sự không biết về tính hiệu quả của những điều trị.
Ngoài ra, sự đề nghị điều tra phát hiện ở những partenaire của những người có huyết thanh dương tính được khuyến nghị, nhằm ngăn ngừa sự nhiễm trùng của họ, hay đề nghị với họ những điều trị trong trường hợp phát hiện dương tính. Bây giờ những trắc nghiệm chẩn đoán dễ tiếp cận và những trắc nghiệm nhanh cho phép có được ngay trong ngày trắc nghiệm. Những Trod (tests rapides d’orientation diagnostique) có thể được thực hiện bởi những người không ở trong nghành y tế, trong những cơ sở “hors les murs”, ngoài bệnh viện hay trong những phòng xét nghiệm y khoa. Thí dụ, 15 hiệp hội ở Ile-de-France được quyền đề nghị những trắc nghiệm, tăng cường thông tin về phòng ngừa, thậm chí làm dễ sự tiếp cận điều trị bằng cách hướng về những cơ sở y tế (structures médicalisées). Than ôi, những công trình nghiên cứu mới đây vẫn còn báo cáo nhiều chẩn đoán nhiễm VIH ở một giai đoạn rất tiến triển của bệnh, khi đó khó điều trị hơn. Những mất cơ may này không được hiện hữu nữa, do đó sự cần thiet phát triển những mạng thông tin, đặc biệt ở những người bị tiếp xúc. Thực hiện đều đặn những trắc nghiệm, đó là tự bảo vệ tốt hơn, thậm chí được điều trị sớm nhất.
Hôm nay những người bị tiếp xúc nhất với VIH có một điều trị để tránh sự lây nhiễm qua đường sinh dục. Prep (pré-exposition prophylaxie : dự phòng trước khi tiếp xúc) phải được sử dụng trước khi giao hợp và được thêm vào trong arsenal de la prévention, bao gồm những préservatifs và sự điều tra phát hiện. Ngay năm 2016, nước Pháp là nước đầu tiên của châu Âu thương mãi hóa một cách liên tục thuốc này, hôm nay được khuyến nghị bởi OMS. Nhiều hiệp hội đẩy mạnh sự sử dụng Prep, nhất là ở những thanh niên và những người có nguy cơ bị nhiễm virus, đặc biệt Aides với khẩu hiệu : ” một viên thuốc mỗi ngày bảo vệ anh chống lại VIH “. Ngoài tính hiệu quả của nó, điều trị này, được thực hiện 100%, mang lại sự bảo đảm của một suivi bởi vì thuốc chỉ được cấp sau một consultation trong một bệnh viện hay một centre de dépistage, sau những trắc nghiệm, thử máu, và phải được lập lại mỗi 3 tháng. Những Prep sẽ chỉ cho phép làm ngừng dịch bệnh nếu nó được sử dụng bởi một số lượng đủ những người.
Phần lớn những người trẻ hôm nay tin rằng tất cả được điều trị và được chữa lành, bởi vì những tiến bộ của những điều trị và của phòng ngừa đã cách mạng hóa chất lượng sống của những bệnh nhân này…Nhưng cái huy chương có mặt trái của nó : sự bắt buộc của một điều trị suốt đời. Chỉ cần ngừng nó cũng đủ cho virus núp trong những tế bào bị nhiễm trổi dậy…Để cố loại bỏ những tế bào này, những hướng điều trị mới hiện được thăm dò, hoặc bằng những phối hợp thuốc mời, hoặc bằng những phương pháp giống với những phương pháp nhằm chống lại ung thư. Không quên những nghiên cứu trong sciences humaines và sociales để giúp đỡ tốt hơn những người này vượt qua những chướng ngại trong xã hội của chúng ta. Như thế, theo hình ảnh của sự thành công của chương trình ” San Francisco sans sida “, những chương trình ” Paris sans sida “, “Bordeaux sans sida ” hơn bao giờ hết đang được tăng cường và duy trì.
(LE FIGARO 8/10/2018)
Đọc thêm : TSYH số 497, bài số 9

8/ UỐNG RƯỢU LÀM GIẢM SỰ TĂNG TRƯỞNG NÃO
TOXICOLOGIE. Các nhà khoa học đã quan sát, ở 71 macaque rhésus, thiếu niên và trưởng thành trẻ tuổi, rằng sự tiêu thụ rượu thu giam thể tích não 0,25 cm3 mỗi năm đối với mỗi gramme rượu được tiêu thụ bởi mỗi kilo khối lượng cơ thể. Hoặc tương đương ở người 4 bières mỗi ngày
(SCIENCES ET AVENIR 3/2019) Page 26

9/ LOUIS PASTEUR ĐỂ LẠI DI SẢN NÀO CHO Y TẾ THẾ GIỚI ?

Professeur Stewart Cole
Directeur général de l’Institut de Pasteur
Professeur Arnaud Fontanet
Responsable de l’unité Epidémiologie des
maladies émergentes à l’Institut de Pasteur

Ngày 14 tháng 11 năm 2018, Viện Pasteur cử hành lần sinh nhật thứ 130 của nó. Thật vậy chính ngày 14 tháng 11 năm 1888 mà Viện Pasteur đã được khánh thành, trước sự hiện diện của tổng thống của Cộng Hòa Pháp Sadi Carnot và của những cấp cao nhất đại diện cho quốc gia. Để tưởng nhớ biến cố này, Viện Pasteur tổ chức ngày 13 tháng 11, hôm trước ngày sinh nhật này, một hội nghị quốc tế cấp cao về chủ đề ” 130 năm sức khỏe thế giới ở Viện Pasteur ” cũng như một hội nghị bàn tròn về những bệnh mới phát khởi (maladies émergentes), trong đó sẽ thảo luận vai trò của viện Pasteur và của Mạng quốc tế của các viện Pasteur đứng trước những enjeux sức khỏe của thế kỷ XXI.Ngay cuối thế kỷ XIX, tin chắc rằng một cuộc đấu tranh có hiệu quả chống lại những bệnh nhiễm trùng phải liên hợp nghiên cứu, y tế công cộng, giảng dạy và sự làm tăng giá trị của những kết quả, và tin rằng nó phải được thực hiện trong phòng thí nghiệm cũng như trên thực địa khắp nơi trên thế giới, Louis Pasteur và các cộng sự trở thành những nhà tiền phong của ý niệm “sức khỏe thế giới”.
Đồng thời với sự thành lập Viện Pasteur ở Paris, nhiều nhiệm vụ quốc tế được tiến hành, trong đó biểu tượng nhất có lẽ là những sứ mạng của Alexandre Yersin và của Albert Calmette ở Đông Nam Á, điều này dẫn đến sự thành lập viện Pasteur Sàigon năm 1891.
Cái nhìn này, nhân bản và toàn cầu, sự đào tạo những thế hệ những nhà khoa học nước ngoài là nguồn gốc của sự thành lập Mạng quốc tế những viện Pasteur, ngày nay quy tụ 33 viện, ở 26 nước, trên 5 lục địa.
Từ 130 năm nay, những tiến bộ của nghiên cứu, của vệ sinh và của những can thiệp y tế công cộng đã cho phép làm giảm một cách đáng kể tỷ lệ tử vong và bệnh tật liên kết với những bệnh nhiễm trùng. Tuy vậy, những thách thức khoa học và y tế mà những tác nhân của nghiên cứu sinh-y học (recherche biomédicale) phải đương đầu đã không biến mất : những bệnh nhiễm trùng mới phát khởi hay tái phát khởi (maladies infectieuses émergentes et ré-émergentes), sự phát triển đề kháng đối với những thuốc chống vi trùng,…
Một cách song hành, khoa học và những áp dụng của nó sinh ra những vấn đề mới, kể cả trong những lãnh vực chính trị, đạo đức và xã hội, thí dụ những vấn đề có quan hệ với sự chia sẻ những dữ kiện hay với sự tiếp cận điều trị của dân nghèo.
Viện Pasteur mong muốn trong những năm đến duy trì tính ưu tú khoa học và phát triển những kỹ thuật cho phép hiểu tốt hơn tính phức tạp của người sống nhằm cải thiện sức khỏe con người trong một phương pháp toàn bộ.
Cậy vào những điều chứng thực này và 130 năm khám phá và kinh nghiệm phục vụ y tế, viện Pasteur hôm nay vẫn dấn thân để cấu trúc hóa và điều hợp những hoạt động của mình theo 3 ưu tiên : chống những bệnh nhiễm trùng mới phát khởi ; khám phá những phương tiện cải tiến để chống lại sự đề kháng với những điều trị chống vi khuẩn ; hiểu và chống lại tốt hơn những bệnh thoái hóa thần kinh và tính nối kết (connectivité) của não.
Viện Pasteur chăm chú tăng cường những hoạt động được thực hiện trong santé globale bởi những nhà nghiên cứu “pasteurien” ở khắp nơi trên thế giới. Những người thừa kế Louis Pasteur luôn luôn có sứ mạng điều tra những dịch bệnh, nghiên cứu để cải thiện sức khỏe của con người và sự đào tạo những nhà nghiên cứu của ngày mai.
Hơn 50 nhà nghiên cứu phát xuất từ 10 viện của Mạng quốc tế của các viện Pasteur đã gia nhập vào Outbreak Investigation Task Force (Force d’intervention d’urgence sur les épidémies). Nhiều ngành được đại diện ở đó : dịch tễ học, vi trùng học, côn trùng học (entomologie), nhưng cũng nhân loại học (anthropologie) và thú y.
Mới đây, các nhà nghiên cứu đã can thiệp trên nhiều ổ dịch trên thế giới : ở Madagascar đối với một dịch bệnh dịch hạch phổi (peste pulmonaire), ở Hà Nội trong những trận dịch bệnh não nhi đồng (encéphalopathies pédiatriques) liên kết với những độc tố hiện diện trong những quả vải (litchis), ở Sao Tomé-et-Principe khi trận dịch viêm cân mạc hoại tử (fasciite nécrosante) (nhiễm trung da), hay trong những khoa sản ở Afrique subsaharienne và châu Á để đo lường tác động của virus Zika lên thai nghén. Ở Cộng hòa dân chủ Congo, họ đã nghiên cứu nguồn gốc của những trận dịch Ebola trong 5 năm qua. Viện Pasteur cũng được huy động trên những dịch bệnh tái diễn như bệnh cúm, trong số những bệnh khác. Những người thừa kế của Louis Pasteur đã thấy đúng : sự kiểm soát một trận dich phải bắt đầu bằng sự làm sáng tỏ những trường hợp của sự bắt đầu của nó.
(LE FIGARO 12/11/2018)
Đọc thêm : TSYH số 279

10/ LEEUVENHOEK TẠO KÍNH HIỂN VINếu ý tưởng sử dụng các kính loupe để thấy cái vô cùng nhỏ xuất hiện vào đầu thế kỷ XVII với vài người báo trước, trong đó có nhà thiên văn học Galilée, nhà quan sát lão luyện bầu trời đầy sao và cái vô cùng lớn, nhưng người phát minh thật sự của kính hiển vi là người Hòa Lan Antonie Van Leuuwenhoek. Trước ông, Robert Hooke, nhà thông thái sống ở Londres, đã tưởng tượng sử dụng ánh sáng của một đèn dầu (lampe à huile) phản chiếu lên một tấm gương và được làm cô đặc bởi một cầu thủy tinh (globe de verre) chứa đầy nước để quan sát, với một độ phóng đại 20 đến 30 lần, thế giới vô hình của các cây, côn trùng và cá.
Sinh ở Delft năm 1632, Leeuwenhook năm 16 tuổi đi học nghề dệt dạ ở Amsterdam. Ông không biết gì hết về khoa học khi trở lại thành phố nơi ông sinh ra đời vào năm 1651 để hành nghề. Để thấy trong chi tiết các đồ dệt mà ông bán và để phát hiện những khuyết tật của chúng, ông phát minh, mà không biết, cái kính loupe mạnh nhất từng được thực hiện. Vào những lúc nhàn rỗi, ông chế tạo một cách tài tinh và tỉ mỉ những dụng cụ tuyệt vời, sử dụng chỉ một thấu kính (lentille), bằng thủy tinh hay bằng tinh thể đá (cristal de roche), gần như hình cầu, mà chỉ mình ông biết làm nhẵn và sắp xếp trên một bảng đồng. Cái khám phá lớn nhất của ông là sự thực hiện một sự sắp xếp trong đó kính loupe vẫn liên kết với bản kính (porte-objet), do đó hình ảnh được bất động một cách hoàn hảo. Và ông phát minh sự quan sát trên nền đen (observation sur fond noir), gia tăng khả năng thấy. Những dụng cụ của ông phóng đại đến 500 lần, cho phép ông thấy những yếu tố cỡ micron (một phần triệu của mètre), điều này đủ để khám phá thế giới sống vô hình, những tế bào và những vi khuẩn. Đó không phải là một kính loupe lớn nữa, đó là một kính hiển vi.
Người thợ dệt dạ sẽ phát minh hơn 400 kính hiển vi, mà không bao giờ tiết lộ những bí quyết chế tạo của mình. Nếu ông có những ngón tay khéo léo, đó cũng là một tinh thần khoa học thuần túy : ông quan sát và báo cáo một cách trung thực điều mà ông thấy, không tìm cách giải thích hay thành lập những lý thuyết, và không để bị ảnh hưởng bởi những lý thuyết đương thời, phần lớn sai lầm. Thí dụ lý thuyết sự sinh ngẫu nhiên (théorie de la génération spontanée), cho rằng chuột sinh ra một cách ngẫu nhiên từ những đống rác và ruồi hay sâu, từ những thối rữa, điều này vào thế kỷ XVII luôn luôn có giá trị.
Vì không biết vẽ, ông thuê những họa sĩ minh họa để phỏng lại những mô tả của ông trong xưởng. Ngay năm 1673, ông ghi chú những quan sát của mình trong những bức thư mà ông gởi cho Royal Society of London. Vào năm 1675, sau khi đã đặt dưới bộ phận quang học cao răng (tartre) được lấy từ răng của ông, ông là người đầu tiên mô tả các vi khuẩn, mà không hiểu vai trò của chúng : ” Chất đó (tartre) chứa rất nhiều những động vật nhỏ cử động rất đẹp mắt.” Về sau : ” Có nhiều bà trong nhà tôi, đã quan sát những con cá chình nhỏ xíu này một cách say sưa, nhưng một vài bà đã ghê tởm khi nhìn cảnh tượng này. Nếu ai đó nói với họ rằng có nhiều động vật sống trên những chiếc răng của một người đàn ông hơn những người đàn ông trong vương quốc, nhất là trong miệng của những người không súc rửa nó, có lẽ các bà sẽ ngất xỉu.” Không ai ở Londres tin người dệt dạ, tuy nhiên Hiệp hội hoàng gia hỏi ý kiến Robert Hooke. Lúc đầu, ông này phủ nhận rồi, sau đó xác nhận, sau khi đã có thể sử dụng một trong những kính hiển vi của Leeuwenhoek. Một thế giới mới, thế giới của cái nhỏ vô cùng hiện hữu. Thật là ghê gớm !
Vào năm 1680, Leuwenhoek được bầu làm hội viên của Hiệp hội hoàng gia Londres, có sứ mạng “cải thiện những kiến thức tự nhiên”.
Trong số những bức thư của ông, có hai bức thư quan trọng, về máu mà ông rút ra từ bàn tay mình và tinh dịch mà ông có được từ một sinh viên y khoa. Leuwenhoek ghi chú rằng máu ” được cấu tạo bởi những hồng cầu bơi trong một dịch thủy tinh tương tự với nước” và rằng các hồng cầu ” 25.000 lần nhỏ hơn một hạt cát “. Và ông mô tả những tinh trùng, mà ông khám phá năm 1677, như là ” một triệu lần nhỏ hơn một hạt cát lớn với một đuôi lượn mảnh khảnh “. Ông ngay cả tưởng tượng rằng những động vật nhỏ này đẻ một trứng cái, từ đó sinh ra một phôi thai !
Sự nổi tiếng của ông lan ra châu Âu. Những nhân vật có uy tín đến nhìn trong những kính hiển vi của ông : Hoàng hậu Anne của nước Anh, nhà toán học Leibniz, ông ta nói : ” Tôi thích thấy một Leeuwenhook nói với tôi điều ông ta thấy hơn là một cartésien (người theo thuyết Descartes) nói với tôi điều ông ta nghĩ !” Cũng đi qua : nhà triết học Hỏa Lan Spinoza và họa sĩ Vermeer, sinh ở Delft cùng năm và cùng tuần với ông. Khi họa sĩ Vermeer qua đời, người dệt dạ sẽ là người thực hiện di chúc của ông ta. Vào năm 1723, ít lâu trước khi chết ở tuổi 90, Leeuwenhoek gởi cho Londres hai lá thư, trong đó ông mô tả một cách chính xác bệnh phổi sẽ mang ông đi. Nhiều nhà thông thái khác sẽ theo con đường khoa học mới này : thế giới thu nhỏ của con người (microcosme humain) sẽ được phát hiện với những dụng cụ quang học mạnh hơn những dụng cụ quang học của người thợ thủ công thiên tài của Delft.
(PARIS MATCH 16/8-22/8/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/6/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s