Thời sự y học số 504 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NGỪA THAI : PHỤ NỮ PHẢI CÓ SỰ LỰA CHỌN.
Được thông tin tốt hơn nhưng cũng lo lắng hơn, các bệnh nhân đòi hỏi một phương pháp ngừa thai hiệu quả, nhưng ít nguy cơ và thoải mái.GYNECOLOGIE. ” Làm phụ nữ tham gia vào sự lựa chọn ngừa thai của mình hôm nay là cần thiết “, GS Blandine Courbière, thầy thuốc sản phụ khoa ở hôpital de la Conception, ở Marseille, đã nhấn mạnh như vậy.” Từ nay chúng tôi có thể đề nghị nhiều giải pháp khác nhau thích ứng với mỗi phụ nữ.”
Mặc dầu cuối cùng có ít cải tiến trong lãnh vực ngừa thai, sự phát hiện năm 2013 những nguy cơ tim mạch liên kết với những viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ 3 và 4 dầu sao cũng đã thay đổi nhiều là donne.” Đó là một sốc điện cần thiết, đã cho phép nhắc lại cho tất cả mọi người rằng viên thuốc ngừa thai là một loại thuốc, với những tác dụng không mong muốn và những chống chỉ định “, GS Courbière đã nhắc lại như vậy. Các phụ nữ, từ nay được thông tin tốt hơn nhưng cũng lo ngại nhiều hơn, yêu cầu một biện pháp ngừa thai hiệu quả nhưng ít nguy cơ và thoải mái. Các thầy thuốc đã phải xem lại những kỹ thuật kê đơn của mình để dùng thời gian giải thích cho mỗi bệnh nhân những nguy cơ và ưu điểm của mỗi giải pháp ngừa thai.
Thật vậy, ngừa thai phần lớn vẫn là một công việc của phụ nữ vì lẽ, ngay cả trong cặp vợ chồng, trách nhiệm này thuộc về họ trong hơn 75% những trường hợp. Ở Pháp, các phụ nữ chọn trước tiên viên thuốc ngừa thai (pilule) (78% đối với những phụ nữ trước 30 tuổi, 50% đối với tất cả mọi lứa tuổi).Sau 25 tuổi, các phụ nữ chọn dễ dàng hơn stérilet (có hay không có kích thích tố), liên quan 25% những bệnh nhân.Trên lý thuyết vòng tránh thai cũng có hiệu quả như viên thuốc ngừa thai (dưới một thai nghén mỗi năm đối với 100 phụ nữ), trên thực hành vòng tránh thai giữ tính hiệu quả này bởi vì nó tác động một cách thường trực, không có nguy cơ bị quên, trong khi thuốc ngừa thai trên thực tế dẫn đến 8 thai nghén mỗi năm đối với 1000 phụ nữ.
Préservatif féminin, được sử dụng bởi 20% những phụ nữ, khó sử dụng và dẫn đến 15 thai nghén mỗi năm đối với 100 phụ nữ ; vậy nó bị vượt qua bởi một phương pháp ngừa thai khác ở những phụ nữ trẻ hơn. Có nhiều giải pháp từ nay cho phép lựa chọn phương pháp ngừa thai đáng tin cậy nhất đối với mỗi người : như stérilet, anneau, một implant hay một patch hormonal, cho phép không phải nghĩ đến điều đó mỗi ngày.
Tiêu chuẩn lựa chọn quan trọng khác đối với phụ nữ vẫn là những nguy cơ liên kết với những kích thích tố : thuốc lá, chứng béo phì, tình trạng nhàn rổi không hoạt động, đái đường và những tiền sử gia đình, phải được gợi lên để hướng đến sự ngừa thai ít nguy cơ nhất. ” Từ nay các phụ nữ biết rất rõ những nguy cơ nhưng họ hiếm khi nghe nói đến những lợi ích “, GS Florence Bretelle, thầy thuốc phụ sản ở Hopital Nord de Marseille, đã nhấn mạnh như vậy. ” Điều rất quan trọng là cũng nói về điều đó.” Phương pháp ngừa thai bằng hormone có thể được lựa chọn để chịu tốt hơn một acné hay su nhiều lông khó chịu, để giảm đau do kinh nguyệt hay ngay cả để tránh hoàn toàn những xuất huyết đôi khi rất mal vécu. Stérilet au cuivre, không kích thích tố, được ưa thích trở lại từ 2013 nhưng cũng càng ngày càng bị rút đi nhanh chóng vì những tác dụng phụ của nó : kinh nguyệt dồi dào hơn, lâu hơn, gây đau hơn.
” Những xuất huyết phải là một trong những tiêu chuẩn lựa chọn đối với sự ngừa thai, phải nói về điều đó với mỗi phụ nữ “, GS Courbière đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, những thuốc chống ngừa thai kích thích tố (contraceptifs hormonaux) dự kiến một “hémorragie de privation” khi gián đoạn sự hấp thụ kích thích tố trong một tuần mỗi tháng, một thuật ngữ thích hợp hơn chữ “kinh nguyệt” liên kết với chu kỳ tự nhiên của sự rụng trứng (ovulation), nói chung không có trong ngừa thai kích thích tố (contraception hormonale). Nhiều chuyên gia tiếc rằng những khuyến nghị của Bộ y tế hay của Conseil national des gynécologues obstétriciens không xem những xuất huyết này như là một tiêu chuẩn lựa chọn, mà như một rối loạn được dự kiến. Tuy vậy những xuất huyết được hoạch định (saignements programmés) này không cần thiết và, nếu vài phụ nữ ưa thích giữ chúng, đối với những phụ nữ khác contraception hormonale en continu là một sự giảm nhẹ.” Tuy vậy sự vắng mặt của xuất huyết được hoạch định này không có một hậu quả nào lên sức khỏe của tử cung “, GS Courbière đã nói như vậy.
Tránh hấp thụ các hormone cũng đã cho phép gợi ngừa thai như là một lựa chọn có thể tiến triển suốt trong quãng đường của mỗi phụ nữ đối với sự muốn có con. Thất bại của hệ thống Essur, cho phép tránh những nguy cơ của một ligature chirurgicale, đã làm gián đoạn mọi tiến triển trong lãnh vực contraception définitive, được lựa chọn bởi 5% những phụ nữ ở Pháp so với 20% ở Hoa Kỳ.
Ngừa thai là một trong nhiều yếu tố của đời sống sinh sản và sinh dục của một phụ nữ, nó phải có thể tính đến tất cả những lựa chọn cá nhân liên kết với điều đó.
(LE FIGARO 1/4/2019)
Đọc thêm : TSYH số 487, bài số 9

2/ ĐÀN ÔNG CÒN QUÁ ÍT BỊ LIÊN HỆ
Ngừa thai chủ yếu vẫn là một việc của phụ nữ, đặc biệt ở Pháp, kể cả khi đó là những phương pháp triệt để : gần như phụ nữ nhờ đến thắt ống dẫn trứng 10 lần nhiều hơn đàn ông nhờ đến thắt ống dẫn tinh (vasectomie).Ở Pháp hai kỹ thuật chỉ được cho phép từ năm 2001. Thắt ống dẫn tinh (vasectomie) nhằm cắt ống mang tinh trùng (spermatozoide) đến tận tinh dịch (sperme). Nó được xem như là vĩnh viễn vì lẽ, nếu có một phẫu thuật nhằm làm đảo ngược điều đó, cuộc mổ này chỉ hiệu quả trong khoảng 30% những trường hợp. Cũng có thể trực tiếp trích lấy tinh dịch trong các tinh hoàn hay dự kiến một mong muốn có con bằng cách gìn giữ tinh dịch đông lạnh (sperme congelé). Luật yêu cầu một thời hạn suy nghĩ 4 tháng, rồi sau khi mổ phải dành thời gian để đảm bảo rằng các tinh trùng thật sự không còn đến tinh dịch nữa.
Ở lục địa châu Mỹ, đến 20% những người đàn ông nhờ đến thắt ống dẫn tinh, với một khuynh hướng hạ xuống trong những năm qua. Nước Pháp còn ở xa, mặc dầu các con số gia tăng mỗi năm : khoảng 1% những người đàn ông nhờ đến thủ thuật này, vì những lý do thực tiễn và văn hóa.
” Ở Pháp, ngừa thai nam giới là một quyết định lứa đôi, luôn luôn cần thiết bởi vì người đàn bà có những khó khăn với sự ngừa thai của mình “, GS Franck Bruyère, trưởng khoa niệu học của CHRU de Tours đã nhấn mạnh như vậy. Những người đàn ông trước hết gợi lên sự lo ngại đối với can thiệp và những hậu quả khả dĩ (không hiện hữu trên thực tế) lên tính dục (sexualité) của họ. Vả lại, những người đàn ông không phải chịu một cách rất trực tiếp, như những người đàn bà, hậu quả đầu tiên của một thất bại của ngừa thai : thai nghén.
NHỮNG THUỐC MỚI ĐANG ĐƯỢC NGHIÊN CỨU.
Tuy vậy, nhiều công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng nhiều người đàn ông sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm ngừa thai trong đôi lứa, chủ yếu vì trong tinh thần bình đẳng. Tuy nhiên họ chủ yếu trông chờ những phương pháp có thể đảo ngược được và, đối với vài người, đã sử dụng một trong những phương pháp khác có sẵn ở Pháp : tiêm mỗi tuần một cocktail kích thích tố nhằm phong bế sự sản xuất của các tinh trùng đồng thời gìn giữ những chức năng khác của testrostérone, hay mang mỗi ngày đồ lót để giữ các tinh hoàn rất gần cơ thể, điều này gia tăng nhiệt độ của chúng và phong bế sự sinh tình trùng.
Nhưng những phương pháp này vẫn có tính chất cưỡng bức và phần lớn các chuyên gia nhất trí về sự cần thiết hiệu chính một sự ngừa thai bằng đường miệng hay bằng implant, tương tự đối với phụ nữ. Nhiều thuốc đang được nghiên cứu từ nhiều năm nay nhưng rất ít đạt đến giai đoạn lâm sàng. Khó khăn chính là, trái với đàn bà, đàn ông sản xuất thường trực hàng triệu giao từ.
(LE FIGARO 1/4/2019)

3/ NHẬP MÔN TÌNH DỤC : QUÁ NHIỀU Ý NGHĨ LỆCH LẠC
Vâng, ta có thể có thai khi giao hợp đầu tiên. Không, viên thuốc ngừa thai không làm béo phì, không gây ung thư và không ngăn cản có con sau này ! Về thông tin về ngừa thai, ” các mạng xã hội đã thay đổi nhiều : chúng khuyến khích những ý tưởng sai lệch “, GS Jean Perrin, thuộc laboratoire de biologie de la reproduction của hôpital de la Conception, Marseille, đã nhấn mạnh như vậy. Và giáo dục tình dục, mặc dầu không luôn luôn được thực hiện tốt, không đủ để sửa chữa những sai lầm này, các thiếu niên trước hết dựa trên những người đồng trang lứa để xây dựng những mốc tình dục của mình.
” Các thiếu niên không đánh giá được mức độ nguy cơ mà chúng chịu “, GS Perrin đã ghi nhận như vậy. Phần lớn biết rằng phải sử dụng một túi dương vật ngay lúc đầu, để phòng ngừa thai nghén và những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục ; nhưng phần lớn bắt đầu không mang gì hết, mặc dầu những tuyên bố nhiệt tình ủng hộ túi dương vật. ” Vào một lần, tôi tin rằng không thể xảy ra gì hết “, chúng tuyên bố khi những hậu quả của một giao hợp không bảo vệ dẫn chúng đến thầy thuốc..
Lần khám đầu tiên với một thiếu nữ để ngừa thai càng quan trọng để xóa tẩy những thành kiến có thể gây khó khăn cho cô nàng. Lần khám này, trong đó sự thăm khám duy nhất thường là đo huyết áp, phải cho phép nói dài lâu về tất cả những tham số để hướng định sự lựa chọn của ngừa thai. Viên thuốc ngừa thai hứa hẹn một làm da không khuyết tật, nhưng ngừa thai bằng chất kích thích tố (contraception hormonale) hàm chứa những nguy cơ : chứng nghiện thuốc lá, những tiền sử gia đình, bệnh đái đường phải được xét đến. Viên thuốc ngừa thai cũng được lựa chọn để cải thiện tính đều đặn và sự thoải mái của các kinh nguyệt. Trong tất cả các trường hợp, nó chỉ hiệu quả nếu được dùng một cách đều đặn và mỗi người phải có thể tái đánh giá khả năng sử dụng tốt sự ngừa thai của mình. Một implant thường trực đôi khi là giải pháp tốt nhất, với ưu điểm tránh những xuất huyết mỗi tháng, được hoạch định với những thuốc ngừa thai kích thích tố khác. Stérilet, từ nay có cỡ nhỏ cho các thiếu nữ, rất làm an lòng, nhưng nó có thể biến đổi kinh nguyệt thành những đợt khó sống đối với lứa tuổi mà tất cả các cái nhì dường như luôn luôn hướng về mình.
Sau cùng, trong tất cả các trường hợp, túi dương vật (préservatif) vẫn là người bạn đồng mình cần thiết của tính dục nảy sinh, để bảo vệ chống lại những bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. Nhưng có lẽ cũng để các cậu con trai cũng cảm thấy trách nhiệm..
(LE FIGARO 1/4/2019)

4/ NGỪA THAI “BIO” CÓ THỂ CỨU NHỮNG CẶP VỢ CHỒNG. NÓ CHO PHÉP MỘT SỰ HỒI SINH SINH DỤC.
BS Vincent Hupertan, urologue và sexologue.1. Urètre / 2. Vessie / 3. Prostate / 4. Vésicules séminales/ 5. Canaux déférents / 6. Testicules
Hỏi : Ở Pháp sự triệt sản nam (stérilisation masculine) đi đến đâu rồi ?
BS Vincent Hupertan : Tôi nói rằng chúng ta đến từ xa ! Phẫu thuật chỉ được cho phép từ 2001, trong khi Thổ Nhĩ Kỳ đã thực hành nó từ 40 năm nay. Trong khi tôi làm nội trú niệu học ở Paris, trong những năm 1990, tôi đã không bao giờ nghe nói chữ “vasectomie” (cắt ống tinh : canal déférent). Đối với các ông thầy của chúng tôi, đó là một sự cắt xẻo (mutilation). Phải nói rằng cộng đồng y khoa bị tổn thương từ vụ những “người bị triệt sản của Bordeaux”, xuất hiện năm 1935, khi đó một thầy thuốc bị kết án tù giam vì đã mổ khoảng 15 quân nhân tình nguyện. Nhất là, y khoa Pháp chia thành loại rất rõ rệt, các thầy thuốc chuyên khoa không trao đổi với nhau, mặc dầu điều đó hôm nay được cải thiện. Như thế các thầy thuốc niệu khoa không là nhân chứng của những tổn hại được chứng thực bởi những đồng nghiệp phụ khoa của mình : vỡ tử cung, có thai ngoài ý muốn, gián đoạn tự ý thai nghén gây chấn thương tâm thần (IVG traumatisnante). Tất cả những nguy cơ này đối với sức khoe của các phụ nữ. Tôi đã từ giã bệnh viện sau vài năm mà đã không thấy một trường hợp cắt ống tinh nào. Để nhắc lại, chúng ta hành nghề y khoa ở Pháp từ 1994 trong khung cảnh loi de bioéthique đầu tiên, quy định rằng mọi can thiệp y khoa không có lợi cho điều trị được xem như một một sự cắt xẻo. Phải đợi đến 2001, một luật mới đã giải phóng chúng ta ! Sự thực hành andrologue và sexologue của tôi đã đưa tôi đến kỹ thuật này bởi vì tôi khám những cặp vợ chồng gần như nổi giận : bà từ chối dùng viên thuốc ngừa thai, préservatif thì rất không thỏa mãn. Sau cùng tôi có một giải pháp để đề nghị với họ, thiên nhiên, gần như bio.
Hỏi : Ông thực hành can thiệp này từ 2012. Những tam tinh có tiến triển không ?
BS Vincent Hupertan : Vào thời kỳ đó, khi anh gõ “vasectomie” trên Google, không có một site français nào để nói về điều đó. Hôm nay ta chứng kiến một chuyển động toàn cầu (mouvement planétaire), và trong khi các nước anglo-saxon đi trước nhiều đoạn dài, Tây bán nha đạt 30.000 phẫu thuật mỗi năm, thì Pháp chỉ đến gần 5000 can thiệp. Vậy đó không phải là vấn đề văn hóa latin. Từ năm 2018, tôi chứng thực một sự thay đổi thật sự. Nhu cầu tăng cao, các bệnh nhân từ các tỉnh tiếp xúc với tôi.
Hoi : Làm sao giải thích sự bột phá này ?
BS Vincent Hupertan : Tôi thấy ở đó 3 lý do chính. 1. các phụ nữ tiến bước, họ đẩy và tranh đấu cho sự bình đẳng về lương bổng và về các quyền lợi và cũng về sự ngừa thai. 2. Ta cũng chứng thực một sự ngờ vực ngày càng lớn đối với các thuốc trừ sâu, các vaccin và công nghiệp dược phẩm. Tôi nhắc lại cơn khủng hoảng của viên thuốc ngừa thai năm 2012. Từ đó các phụ nữ không muốn kích thích tố nữa. Một cách tổng quát hơn, người ta tìm kiếm một cuộc sống đơn giản hơn, những phương pháp tự nhiên, nhưng phương pháp retrait và Ogino không tuyệt đối đáng tin cậy. Về préservatif, trở lại phương pháp này vì không có điều kiện hơn nữa, điều đó không lý tưởng chút nào. 3. Sau cùng, sự phổ biến một thông tin dương tính trong truyền thông có một tác dụng quan trọng. Quý vị đàn ông được trấn an : không, cái đó không làm bất lực, không gây đau. Cái đó ngay cả có thể cứu đôi lứa vợ chồng. Tôi thường nghe nói : ” Nếu mà ta biết, ta đã làm điều đó từ lâu rồi !” Họ đã có nhiều còn, họ không muốn nữa, các partenaire khám phá nhau tro lại. Điều quan trọng đó là khía cạnh tình cảm, nhục dục.
Hỏi : Một cách cụ thể, cuộc mổ diễn ra như thế nào ?
BS Vincent Hupertan : Tôi thực hành phương pháp được gọi là ” không dùng dao”, được hiệu chính bởi BS Li năm 1974, trong khung cảnh của chính sách đứa con độc nhất ở Trung quốc. Với một đồng nghiệp, họ đã đào tạo những thầy thuốc tây phương, trong đó BS Michel Labrecque, thầy thuốc Québec, tiền phong trong lãnh vực này. Và kỹ thuật được phổ biến ở châu Âu. Can thiệp kéo dài 10 phút, với gây tê tại chỗ hay gây mê tổng quát nếu bệnh nhân mong muốn. Bằng hai đường xẻ cực nhỏ (mini-incision), ta cắt đoạn hai ống thoát tinh (canaux déférents) rồi ta”đốt”. Ta tái tục rất nhanh một đời sống bình thường. Phải duy trì một ngừa thai trong 3 tháng. Tôi nói rõ rằng luật pháp Pháp buộc một cuộc nói chuyện trước khi mổ, rồi một thời hạn suy nghĩ 4 tháng và một thỏa thuận viết tay do tính chất vĩnh viễn của động tác, mặc dầu ta có thể cho đông lạnh tinh dịch của mình hay nhận một vasovasostomie với vài điều kiện, tính đảo ngược không được bảo đảm. Và tôi nhấn mạnh để hai partenaire hiện diện ở lần lấy hẹn thứ hai. Bởi vì chính cặp vợ chồng dẫn đến thắt ông dẫn tinh. Điều đó cũng vậy ở thầy thuốc phụ khoa, ở đây các phụ nữ đến một mình 99 lần trên 100…
(PARIS MATCH 25/4-1/5/2019)

5/ NHỮNG CẦU THỦ BÓNG ĐÁ CÓ NGUY CƠ BỊ NHỮNG VẤN ĐỀ THẦN KINH
MÉDECINE DE SPORT. Thực hành bóng đá ở một mức độ nghề nghiệp sẽ là một yếu tố nguy cơ phát khởi bệnh sclérose latérale amyotrophique (SLA hay maladie de Charcot). Ettore Beghi, nhà nghiên cứu của thành phố Milan (Ý), và kíp của ông đã xem xét tương lai y khoa của 25.000 cầu thủ bóng đá nam đã thực hành ở Ý từ năm 1959 đến 2000. Tổng cộng, người ta đã nhận diện 33 cầu thủ đã phát triển một SCA : một tỷ lệ hai lần cao hơn toàn dân.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2019)

6/ ĐIỀU TRỊ KÍCH THÍCH TỐ NAM CÓ NHỜ ĐẾN KHÔNG ?
GS Thierry Lebret, chef de service d’urologie-andrologie, bệnh viện Foch, Suresnes, chủ tịch Hiệp hội niệu học Pháp, đại học Versailles-Saint-Quentin, nói về những lợi ích và nguy cơ của sự cho bổ sung testostérone ở người đàn ông trong tình huống andopause.
Hỏi : Ở đàn ông, testostérone dùng để làm gì ?
GS Thierry Lebret : Đó là kích thích tố nam tiêu biểu nhất. Testostérone chủ yếu được tiết bởi tinh hoàn và được điều hòa bởi não thùy (hypophhyse) và hypothalamus. Nó can thiệp trong sự phát triển của tính dục nam (sexualité masculine) (tình dục, sự cương, sự sản xuất tinh trùng), trong sự phát triển của của các khối xương và cơ (masse osseuse và musculaire), trong sự tổng hợp của vài protéine bởi gan và trong sự tạo thành các hồng cầu. Testostérone cũng kích thích khí chất (humeur) và cho sự năng động. Ngược lại, nó làm dễ sự tăng trưởng của tiền liện liệt tuyến, mà sự phì đại (hypertrophie) có thể là nguồn của những rối loạn tiêu hóa.
Hỏi : Nó tiến triển như thế nào với tuổi tác ?
GS Thierry Lebret : Sự sản xuất testostérone đạt một cao điểm khoảng 20 tuổi, vẫn ổn định cho đến 30 tuổi, giảm dần cho đến 60 tuổi. Bắt đầu từ lứa tuổi này, nó có thể sụt giảm hơn nữa trong máu và khi đó được kèm theo bởi những triệu chứng khác nhau : mệt, giảm dục tình (libido), giảm chất lượng cương, mất hăng say, thậm chí trầm cảm, bực bội (irritabilité), tập trung khó khăn, tăng gánh mỡ bụng, giảm lực cơ.
Hỏi : Một sự kiểm tra sinh học có hữu ích không ?
GS Thierry Lebret : Vâng. Để biết imprégnation en testostérone, đo nó trong máu vào buổi sáng, sau một đêm ngủ bình thường, không arrosé d’alcool chiều hôm trước là đủ. Chính testostérone totale và biodisponibilité (TBD) là cần phải đo. Một TBD dưới 2 nanogramme/millilitre (2 ng/ml) ở đàn ông 60 tuổi hoặc hơn hay dưới 3 ng/ml ở đàn ông trẻ hơn ít nhất 40 tuổi, biểu hiện một sự thiếu hụt rõ rệt, mà ta mệnh danh là hypogondisme.
Hỏi : Một điều trị thay thế (traitement substitutif) dành cho đối tượng nào ?
GS Thierry Lebret : Cho những người có nồng độ TBD thấp và biểu lộ một triệu chứng, thường nhất là sinh dục hay khác. Ta không điều trị những trường hợp không triệu chứng. Sự cho bổ sung testostérone bằng tiêm mông (hiệu quả nhất) hay bằng gels cho phép trong vài tuần kích thích dục tình (libido), tái lập chức năng sinh dục, cải thiện sự thoải mái vật lý và tâm thần, gia tăng khối cơ cũng như tính nhạy cảm với insuline, làm giảm khối mỡ cũng như những yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Những điều trị bằng đường miệng đã bị bỏ bởi vì ít hiệu quả. Có thể có lợi khi thêm vào mot stimulateur de l’érection, theo nhu cầu hay bằng những liều nhỏ liên tục, mà tác dụng lên các cơ trơn cùng góp phần cải thiện sự đi tiểu. Hoạt động vật lý đều đặn làm dễ qua não bỏ sự sản xuất testostérone. Trái lại rượu làm hại.
Hỏi : Những nguy cơ là gì ?
GS Thierry Lebret : Ung thư tiền liệt tuyến là chống chỉ định chính với điều trị testostérone, không phải vì kích thích tố này gây nên nó, mà vì nó có thể kích thích ung thư nếu nó hiện diện. Những chống chỉ định khác : ung thư vú ở đàn ông (hiếm) và vài bệnh của máu (polyglobulie). Phải nhớ rằng mỗi bệnh nhân được điều trị bởi testostérone phải được theo dõi tối thiểu mỗi năm bởi thầy thuốc niệu khoa (thăm khám trực tràng, đo nồng độ PSA). Điều trị vẫn vô hại với điều kiện được cho trong một khung cảnh y khoa nghiêm túc và được theo dõi tốt.
(PARIS MATCH 11/4-17/4/2019)

7/ NHỮNG TẾ BÀO NÃO BỊ THƯƠNG TỔN BỞI BỆNH PARKINSON ĐƯỢC TÁI SINH
NEUROLOGIE. Sự phát triển của bệnh Parkinson không phải là không thể đảo ngược : một kíp nghiên cứu của North Bristol Hospital NHS (Vương quốc Anh) đã thành công tái sinh những tế bào não bệnh nhờ một thiết bị cho một cách trực tiếp những chất điều trị trong não của các bệnh nhân. Thiết bị gởi protéine GDNF, được sản xuất tự nhiên bởi cơ thể, vào nơi não bị thương tổn bởi bệnh.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2019)

8/ HAM MUỐN ĐẾN VỚI PHỤ NỮ NHƯ THẾ NÀO ?

Docteur Mireille Bonierbale
Présidente de l4association interdisciplinaire
post-universitaire de sexologie
Réadcteur en chef de la revue “Sexologie”

Những câu hỏi của các bệnh nhân liên quan đến một sự mất hay vắng mặt ham muốn nhục dục (désir sexuel) có nhiều. Mất sự ham muốn (perte de désir) là động cơ đầu tiên khám bệnh đối với phụ nữ, trong khi điều đó chỉ đứng hàng thứ năm đối với đàn ông.Ta biết những yếu tố góp phần vào những biến đổi của ham muốn nhục dục : tuổi tác, giáo dục, văn hóa, giới tính, những tình cảm, những lối sống, những kích thích tố, tình trạng sức khỏe, những chất dẫn truyền thần kinh, những điều cấm kỵ xã hội và tôn giáo…Những câu hỏi vẫn tồn tại : tại sao vài người có ham muốn nhục dục còn những người khác thì không ? Tại sao những khác nhau về cường độ theo giới tính ?
Cường độ của ham muốn ở phụ nữ ít mạnh hơn cường độ của đàn ông, như được dựng lên bức tranh về người đàn ông, “luôn luôn sẵn sàng” vào hoạt động tình dục, và về người đàn bà, có sự ham muốn phức tạp hơn, trước hết phải cảm thấy gợi ham muốn (désirable) đối với kẻ khác để ham muốn : ham muốn sự ham muốn của “kẻ khác”.
Su thỏa mãn nhục dục của đàn bà được liên kết với tính dễ xúc động (affectivité), tính sâu kín (intimité) và sự trao đổi (communication) với người phối ngẫu của họ. Người phụ nữ cần kinh quá những tình cảm để làm tình, còn người đàn ông thường cần làm tình để tiếp cận những tình cảm.
Sự thấm tẩm testostérone hằng định ở đàn ông, không chịu, như ở đàn bà, một cách chu kỳ, những kích thích tố đem lại sự ham muốn, có thể giải thích một sự hằng định tương đối trong ham muốn của đàn ông ; nồng độ testostérone chỉ giảm rất dần dần với tuổi tác. Đàn ông tiết testostérone 20 lần nhiều hơn đàn bà và, để đáp ứng với những mong chờ của người phối ngẫu, đàn bà phải hoạt động surrégime émotionnel, phải rất yêu đương và rất kích dục. Điều này không hiển nhiên đối với vài thời kỳ của cuộc sống : thai nghén, sinh đẻ, cho bú, kinh nguyệt…
HÌNH ẢNH CÓ THỂ BỊ BIẾN ĐỔI.
Hôm nay ta nói ” ham muốn phản ứng ” (désir réactif) và ” những yếu tố thụ cảm ” (facteurs de réceptivité) đối với đàn và. Ở đàn bà có một ham muốn “căn bản, ngẫu nhiên, chỉ nhiệt độ nhục dục (température sexuelle)” và một ham muốn phản ứng đáp ứng với một kích dục (stimulation sexuelle) : sự ham muốn nhục dục ở phụ nữ đến từ những kích thích thích đáng đối với những mong chờ và tính cảm thụ cá nhân (réceptivité personnelle).
Những tài liệu khác mô tả vai trò của các chất trung gian thần kinh trong sự mã hóa đời sống tình cảm và tâm lý xã hội : những neurone dopaminergique đặc biệt liên hệ trong ham muốn nhục dục, chúng phản ứng với những kích thích vốn có một ý nghĩa trong lịch sử của cá nhân qua trung gian của những nối kết (connexions) với système limbique, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của lịch sử cá nhân. Mỗi biến cố của cuộc đời của một người được đưa vào trong những vùng tế bào thần kinh liên kết (zone neuronale associative). Những vùng này sẽ được kích hoạt hay ức chế tùy theo bối cảnh và tùy theo tầm quan trọng của những dấu ấn quan hệ và tình cảm của người này. Như thế sự ham muốn sẽ dao động giữa sự kích thích và ức chế, cán cân mà khung cảnh sẽ làm nghiêng dương tính hay âm tính.
Ham muốn nhục dục vẫn là một trải nghiệm cá nhân và duy nhất. Ta có thể liệt kê những yếu tố tác thành, làm dễ hay ức chế những cơ chế của ham muốn nhục dục của phụ nữ và đã ghi những dấu ấn làm dao động cán cân sâu kín này :
– thái độ và những cấm đoán của cha mẹ đối với tình dục, những tín ngưỡng sinh tính tội lỗi, những huyền thoại và những nỗi sợ không hợp lý chung quanh sự thủ dâm, vài tư thế và thực hành tình dục ;
– một hình ảnh của cơ thể bị biến đổi hay không phù hợp với những lý tưởng văn hóa.
Nhiều thời kỳ đặc biệt có nguy cơ để duy trì sự ham muốn nhục dục : sự chuyển từ thời kỳ thiếu niên (adolescence) sang thời kỳ phụ nữ, thời kỳ thai nghén và sinh con, thời kỳ mãn kinh ; những giai đoạn của đời sống trong đó người đàn bà đặc biệt nhạy cảm trong ham muốn nhục dục.
Những trải nghiệm tình dục gây chấn thương tâm thần, những lạm dụng tình dục có thể dẫn đến một sự biến đổi hình ảnh của bản thân mình, kèm theo một sự giảm ham muốn và những fantasme sexuel đôi khi đi đến chỗ ghê tởm nhục dục (aversion sexuelle).
Danh sách thì dài, cũng phải xét đến nhân (personnalité), tác động lên sự nhận thức những biến cố cuộc sống, những bệnh mãn tính và những điều trị thuốc ảnh hưởng lên sức khỏe tình dục (santé sexuelle), không quên sự loạn năng của đôi lứa. Tất cả những công trình nghiên cứu đã báo cáo một sự tương quan giữa ham muốn nhục dục và sự vận hành của đôi lứa.
(LE FIGARO 24/9/2018)

9/ BÁO ĐỘNG BỆNH SỞI
SANTE PUBLIQUE. Khi một trường hợp tử vong đầu tiên do bệnh sởi đã được ghi nhận ở Pháp vào tháng ba năm 2019, Unicef đã phát ra một tiếng kêu báo động đứng trước sự gia tăng của những trường hợp bệnh sởi trên thế giới. 10 nước, trong đó có nước Pháp, chịu trách nhiệm khoảng 3/4 sự gia tăng của số trường hợp vào năm 2018. Và OMS đặt ” sự do dự đối với thuốc chủng” trong số 10 đe dọa chính cho sức khỏe thế giới năm 2019.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2019)

10/ MÃN KINH : NHỮNG ĐIỀU TRỊ NÀO CHỐNG PHỪNG MẶT
Điều trị kích thích tố (traitemement hormonal) vẫn là hiệu quả nhất, nhưng những hướng điều trị mới đang được nghiên cứu.
FEMMES. ” Tất cả các đêm, tôi thức dậy hai hay 3 lần, ướt đẫm mồ hôi. Vài đêm, tôi ngay cả thay chemise de nuit. Sau đó, tôi cần thời gian để ngủ lại. Thật là kiệt sức. Thế mà trong ngày điều đó lại tiếp tục. Tôi phải mặc quần áo để có thể lấy đi những lớp quần áo rồi mặc lại ” Pascale, 52 tuổi, đã kể lại như vậy. Đối với người đàn bà ngũ tuần này, cũng như đối với nhiều phụ nữ khác, mãn kinh ăn vần với những cơn phừng mặt.
Thật vậy những cơn phừng mặt này xảy ra ở 50 đến 75% những phụ nữ vào thời kỳ này của cuộc sống của họ ! May mắn thay, trong đa số các trường hợp, những rối loạn vận mạch này, như những thầy thuốc gọi chúng như vậy, có thể chịu được. Còn lại khoảng 10 đến 25% phụ nữ, như Pascale, kêu ca một chất lượng sống bị biến đổi trong nhiều năm.” Đối với những phụ nữ này, điều trị tốt nhất vẫn là điều trị kích thích tố thay thế (THS : traitement hormonal substitutif), sẽ làm biến mất các triệu chúng trong 70% các trường hợp “, GS Patrice Lopes, chủ tịch của Groupe d’étude sur le ménopause et le vieillissement (Gemvi), mà hội nghị đã diễn ra cuối tháng 11 năm 2018 ở Paris, đã xác nhận như vậy. Điều trị này được kê đơn một cách rộng rãi cho đến khi được công bố vào năm 2002 một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ (WHI), liên kết điều trị này với một nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), những tai biến mạch máu não và ung thư vú. Kết quả : hôm nay chỉ 8 đến 10% những phụ nữ được điều trị bởi THS vào lúc mãn kinh, trong khi khoảng 60% trước năm 2002.
” Thế mà, từ khi WHI, những công trình nghiên cứu ít được quảng bá hơn nhưng cũng quan trọng đã. xét lại những kết quả. Một điều trị kích thích tố được cho lúc đầu thời kỳ mãn kinh và ton trọng những chống chỉ định (những tiền sử ung thư vú hay mạch máu) mang lại nhiều lợi ích hơn là nguy cơ “, GS Patrice Lopes đã nói như vậy. Vả lại, năm 2014, Bộ y tế công nhận lợi ích của một điều trị kích thích tố khi các phụ nữ cảm thấy khó ở. Những liều lượng tối thiểu và một thời gian kê đơn hạn chế được khuyến nghị.
Về sự sử dụng phytoestrogène, mà ta có thể tìm thấy dưới dạng compléments alimentaires, các chuyên gia vẫn thận trọng. ” Chúng bị chống chỉ định trong trường hợp ung thư vú. Ngoài ra những sản phẩm này không được đánh giá đúng “, GS Nathalie Chabbert-Buffet, gynécologue ở bệnh viện Tenon, Paris, đã xác nhận như vậy. Ngoài điều trị kích thích tốt, ít có giải pháp điều trị. Chỉ có beta-alanine là được phép thương mãi hóa.Hoạt động vật lý, thư giãn (relaxation), méditation, yoga hay thôi miên cũng đã chứng tỏ tính hiệu quả. ” Không phải trên tần số của các cơn phừng mặt mà trên cường độ của chúng và do đó sự dung nạp chúng. Có lẽ bởi vì những phương pháp này làm giảm stress, yếu tố gia tăng những cơn phừng mặt “, bà đã định rõ như vậy.
Những loại thuốc khác, mà tác dụng lên các cơn phừng mặt đã được khám phá một cách tình cờ và được xác nhận bởi những công trình nghiên cứu lâm sàng, nhưng lại không được phép thương mãi hóa trong chỉ định này. Chủ yếu đó là những thuốc chống trầm cảm họ inhibiteurs de la recaptur de la sérotonine (IRSS). Những điều trị này đôi khi có thể được đề nghị, nhưng phải được theo kèm. “Nhưng chỉ trong trường hợp chống chỉ định của những oestrogène chứ không phải chọn lựa cá nhân”, giáo sư Chabbert-Buffet đã cảnh giác như vậy. Thí dụ những điều trị này có thể được đề nghị cho những phụ nữ có một ung thư vú phụ thuộc hormone và những điều trị gây những cơn phừng mặt.
Những tiến bộ được thực hiện những năm qua trong sự hiểu những cơ chế chịu trách nhiệm những cơn phừng mặt này có thể dẫn đến những phương pháp điều trị mới. Vài phương pháp đang được đánh giá. Ngoài sự sụt giảm oestrogène, một sự rối loạn của vài chất dẫn truyền thần kinh như noradrénaline và sérotonine, những cơn phừng mặt cũng do một rối loạn của vài neurone được gọi là KNDy sản xuất những phân tử tương cận với opioides. Chính sự rối loạn này dẫn đến một sự gia tăng rất nhẹ của nhiệt độ trung ương và của nhịp tim trong cơn phừng mặt. Những điều trị tìm cách phong bế hay trái lại kích hoạt những neurone này đang được đánh giá.
(LE FIGARO 17/12/2018)
Đọc thêm : TSYH số 379

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/5/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s