Cấp cứu môi trường số 14 – BS Nguyễn Văn Thịnh

ĐIỆN GIẬT
(ELECTROCUTION)

Một thương tổn do điện (lésion par électricité) tương đối ít xảy ra nhưng có thể gây nên những thương tổn hủy hoại nhiều hệ cơ quan (lésions multi-systémiques) với tỷ lệ tử vong và bệnh tật quan trọng. Phần lớn các thương tổn điện ở những người trưởng thành xảy ra ở những nơi làm việc và những tai nạn này được liên kết với những điện thế cao. Trái lại, đối với các trẻ em các nguy cơ xảy ra chủ yếu ở nhà, là nơi có điện thế thấp hơn (220 volts ở Châu Âu, Úc, châu Á ; 110 volts ở Hoa Kỳ và Canada). Điện giật do sét đánh (électrocution par le foudre) hiếm xảy ra, nhưng gây nên khoảng 1000 tử vong mỗi năm trên thế giới.
Những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của các thương tổn điện (lésions électriques) bao gồm loại dòng điện : xoay chiều (AC) hay liên tục (DC), điện thế, mức độ quan trọng của năng lượng được phát ra, sức cản đối với dòng điện, đường đi của dòng điện xuyên qua bệnh nhân, và vùng và thời gian tiếp xúc. Điện trở da bị giảm do sự ẩm ướt, và sự ẩm ướt này gia tăng các khả năng thương tổn. Dòng điện theo đường đi ít bị sức cản nhất ; các bó dẫn thần kinh-mạch máu (faisceaux de conduction neuro-vasculaire) ở các chi đặc biệt dễ bị các thương tổn.
Sự tiếp xúc với một dòng điện xoay chiều có thể gây nên những co cứng (contractions tétaniques) của các cơ xương (muscles squelettiques), điều này có thể ngăn cản bệnh nhân lánh xa khỏi nguồn điện. Một sự suy cơ tim hay hô hấp có thể gây nên một cái chết tức thời :
– Ngừng hô hấp (arrêt respiratoire) có thể gây nên bởi một giảm áp trung tâm hô hấp hoặc do sự bại liệt của các cơ hô hấp.
– Dòng điện có thể gây nên một rung thất (fibrillation ventriculaire) nếu nó đi xuyên qua cơ tim trong thời kỳ dễ gây thương tổn (période vulnérable) (tương tự với hiện tượng R/T). Dòng điện cũng có thể gây nên một thiếu máu cơ tim cục bộ (ischémie myocardique) do co thắt động mạch vành.
– Vô tâm thu (asystolie) có thể nguyên phát hay thứ phát sự nghạt thở gây nên bởi ngừng hô hấp.
Một dòng điện đi xuyên qua cơ tim có nguy cơ gây tử vong hơn. Một đường đi qua ngực (chemin transthoracique) (từ một bàn tay này qua bàn tay kia) có nhiều nguy cơ gây tử vong hơn một đường đi thẳng đứng (un trajet vertical) (từ một bàn tay xuống một bàn chân) hay chéo (từ một bàn chân này qua một bàn chân kia). Có thể có những hủy hoại mô lan rộng dọc theo đường đi của dòng điện.
Sét (foudre) có thể phát ra đến 300 kilovolts trong vài milli giây. Hầu hết dòng điện gây nên bởi một cú sét đánh đều chạy qua bề mặt cơ thể trong một quá trình được gọi là flashover externe. Các điện giật công nghiệp (électrocution industrielle) cũng như sét đánh đều có thể gây nên các bỏng sâu ở những điểm tiếp xúc. Trong điện giật công nghệ, điểm tiếp xúc thường là chi trên, tay và cổ tay trong khi đối với sét đánh, các điểm tiếp xúc chủ yếu ở đầu, cổ và các vai. Các thương tổn cũng có thể xảy ra một cách gián tiếp, hoặc do sự khuếch tán của dòng điện qua đất, hoặc bằng sự khuếch tán của dòng điện từ một cây hay từ một vật khác bị sét đánh vào. Một lực nổ (force explosive) do sét gây ra cũng có thể gây nên một chấn thương kín (traumatisme fermé).Một loại thương tổn da duy nhất được gọi là arborescences hay figure de Lichtenberg là một triệu chứng đặc hiệu chỉ được quan sát ở những bệnh nhân bị sét đánh. Những bệnh nhân bất tỉnh với những vết bỏng hình dải hẹp (brulures linéaires) hay hình lá dương xỉ (en forme de feuilles de fougère) phải được điều trị như những nạn nhân bị sét đánh.
Loại và mức độ nghiêm trọng của các thương tổn gây nên bởi sét đánh thay đổi một cách đáng kể. Cũng như những điện giật công nghiệp hay gia đình, tử vong được gây nên bởi một ngừng tim hay hô hấp. Đối với những người sống sót sau cú điện giật ban đầu, một sự phóng thích quan trọng catécholamines hay một sự kích thích của hệ thần kinh tự trị có thể xảy ra, gây nên một sự tăng cao huyết áp, một tim nhịp nhanh, những biến đổi điện tâm đồ không đặc hiệu (bao gồm sự kéo dài của của khoảng QT và sự đảo ngược tạm thời của các sóng T) và hoại tử cơ tim. CPK có thể được phóng thích từ cơ tim và các cơ xương. Sét cũng có thể gây nên những vấn đề thần kinh trung ương và ngoại biên khác nhau.

I. ĐIỀU TRỊ.
Hãy đảm bảo rằng mọi nguồn điện được cắt và đừng đến gần nạn nhân cho đến khi sự an toàn được bảo đảm. Các điện thế cao (cao hơn các nguồn điện thế hộ gia đình) có thể gây nên một cung điện (arc électrique) và một sự dẫn điện đi xuyên qua đất cho đến vài mét quanh nạn nhân. Ta có thể đến gần và thao tác một cách an toàn các bệnh nhân bị sét đánh, mặc dầu thận trọng hơn là xê dịch bệnh nhân đến một môi trường an toàn hơn. Hãy theo những chỉ thị chuẩn về hồi sức.
– Việc xử lý đường hô hấp có thể khó khăn trước sự hiện diện của những bỏng điện (brulures électriques) trên mặt và cổ. Hãy nội thông khí quản sớm trong những trường hợp này bởi vì một sự phù nề của các tổ chức mềm có thể gây tắc đường dẫn khí tiếp sau đó. Bất động cột sống cổ cho đến khi sự đánh giá có thể được thực hiện.
– Một sự bại liệt cơ, đặc biệt sau một điện thế cao, có thể kéo dài trong vài giờ ; một sự hỗ trợ thông khí (support ventilatoire) là cần thiết trong thời kỳ này.
– Rung thất (fibrillation ventriculaire) là loạn nhịp ban đầu thường xảy ra nhất sau một sốc điện cao thế (choc électrique de haut voltage) do dòng điện xoay chiều ; hãy điều trị bằng một khử rung nhanh. Một vô tâm thu (asystolie) là thường xảy ra hơn sau một sốc điện do dòng điện liên tục ; hãy dùng những chỉ thị chuẩn cho điều trị này và điều trị những rối loạn nhịp khác.
– Lấy đi các quần áo đang cháy và các đôi giày để ngăn ngừa những thương tổn nhiệt khác.
– Một liệu pháp dịch tích cực được đòi hỏi trước sự hiện diện của sự hủy hoại mô quan trọng. Duy trì một lưu lượng nước tiểu tốt để làm gia tăng sự bài tiết của myoglobine, potassium và những độc chất phát xuất từ những thương tổn mô.
– Hãy xét đến một can thiệp ngoại khoa sớm đối với những bệnh nhân với các thương tổn nhiệt nghiêm trọng.
– Hãy thực hiện một đánh giá thứ cấp (bilan secondaire) tỉ mỉ để loại bỏ những thương tổn gây nên bởi những co cứng cơ (contractions musculaires tétaniques) hay ở những người bị ném đi bởi lực của sốc điện.
– Điện giật có thể gây nên những thương tổn mô sâu và nghiêm trọng với tương đối ít các vết thương ở da bởi vì dòng điện có khuynh hướng theo các bó thần kinh-mạch máu ; hãy tìm kiếm một cách cẩn thận những đặc điểm của một hội chứng ngăn (syndrome des loges), vì hội chứng này có thể cần một phẫu thuật mở cân mạc (fasciotomy).

II. ĐIỀU TRỊ VỀ SAU VÀ TIÊN LƯỢNG.
Sự hồi sức tức thời các nạn nhân trẻ bị ngừng tim do điện giật có thể cho phép sống sót. Những hồi sinh thành công đã dược báo cáo sau những thủ thuật hồi sinh kéo dài. Tất các những người sống sót sau một thương tổn điện phải được monitoring nếu họ có một tiền sử về vấn đề tim-hô hấp hay nếu họ bị :
– mất tri giác.
– ngừng tim
– những bất thường điện tâm đồ.
– những thương tổn mô hay bỏng.
Những bỏng nghiêm trọng (nhiệt hay điện), một hoại tử cơ tim, mức độ quan trọng của các thương tổn của hệ thần kinh trung ương và một sự suy nhiều hệ cơ quan (insuffisance multisystémique) thứ phát, xác định tỷ lệ bệnh tật và tiên lượng trong thời gian dài hạn. Một embolie tủy xương cũng đã được báo cáo trong vài trường hợp. Không có điều trị đặc hiệu đối với những thương tổn do điện và điều trị chủ yếu là triệu chứng. Sự phòng ngừa vẫn là cách tốt nhất để làm giảm thiểu tỷ lệ lưu hành và mức độ nghiêm trọng của các thương tổn điện.

Reference : Réanimation cardio-Pulmonaire Avancée. Directives ERC Edition 2015.
Đọc thêm : Cấp cứu môi trường số 1 (électrocution), số 7 (foudre) và 8 (électrocution)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(1/5/2019)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu môi trường, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s